Mật ong

0

CON ONG, MẬT ONG

(Xh 3, 17; Đnl 32, 13; Gs 5, 6; Tl 14, 8–14)

Trích dịch tác phẩm “All Things in the Bible” của tác giả Nancy Tischler

          Gioan Tẩy giả sống bằng châu chấu và mật ong khi ông rao giảng trong hoang địa. Mật ong được ong tạo ra là một món yêu thích của các dân tộc cổ đại bởi vì nó là nguồn gốc hương vị ngọt ngào của các loại thực phẩm khác. “Mật ong từ đá” (Xh 3, 17; Đnl 32, 13; Gs 5, 6) đã trở thành một hình ảnh đáng yêu của sự xuất hiện tự nhiên của mật ong, những con ong để mật của chúng trong những khoang trong đá. Một số kho chứa mật ong lớn đến mức một số lượng lớn có thể tràn ra ngoài. Trong thực tế, mật ong đã trở thành một trong những sản phẩm yêu thích mà dân Ít-ra-en giao thương với các dân tộc khác. Điều này làm cho hình ảnh của một miền đất chảy tràn sữa và mật ong là một mô tả thực tế về Palestine, quê hương của nhiều loại ong.

          Một nơi làm tổ khác nữa cho ong mật là ở động vật chết. Sau khi Samson giết chết con sư tử và để lại bên đường, ông quay trở lại và phát hiện xác chết đó đã trở thành một tổ ong. Ông dùng bàn tay vúc lấy mật ong và thưởng thức nó, đem về một ít cho cô dâu của mình và gia đình cô. Mật ong đã thường được sử dụng như một món quà trong dân Ít-ra-en. Samson sau đó đã dùng cuộc phiêu lưu của mình như là cơ sở cho một câu đố đã gây bối rối cho các thực khách trong đám cưới của mình và làm họ tức điên lên: “Thức ăn xuất tự người dùng, ngọt ngào xuất tự sức hùng là chi?” (Tl 14, 8-14).

          Ong cũng làm tổ trên cây. Giô-na-than và quân đội của ông đã có một cuộc phiêu lưu trong rừng với ong: Saul đã thốt ra một lời nguyền có thể bị phá vỡ nhanh chóng, ông đã tuyên bố cho đến khi ông báo thù được kẻ thù của mình, nhưng Giô-na-than và các thuộc hạ đi vào rừng, nơi đó họ tìm thấy mật ong trên khắp mặt đất. Nó nhỏ xuống từ cây cối, nhưng họ sợ đặt bàn tay nhớp nhúa lên miệng của họ vì lời nguyền. Giô-na-than, người đã không nghe thấy lời nguyền, lấy một cây gậy và “nhúng đầu cây gậy vào một tầng mật ong, rồi đưa tay lên miệng và đôi mắt của ông liền sáng ra” (1 Sm 14, 27). Khi được thông báo ông đã vi phạm các mệnh lệnh của cha mình, ông phàn nàn rằng đây là những mệnh lệnh kém cỏi, những người nhịn đói phải đi chiến đấu. Tiếp theo có cảnh xét xử và lên án, nhưng lòng yêu mến của người đàn ông trẻ tuổi này với dân tộc cuối cùng đã cứu sống ông.

          Ong mật dường như được nuôi trong nhà vào một thời điểm nào đó trong lịch sử dân Ít-ra-en. Mật ong đã được sản xuất rộng rãi ở vùng cao và vận chuyển ra nước ngoài. Vào thời tiên tri Ezekiel, kẹo làm bằng quả chà là, mật ong, các loại hạt được xuất khẩu sang Tyre (Ez 27, 17, Madeleine S. Miller và J. Lan Miller, 1961, 203). Nó nằm trong số các “trái đầu mùa” các cánh đồng làm ra cùng với ngũ cốc, rượu mới, và dầu tươi. Do đó, nó được yêu cầu như là một phần của hoa lợi dâng cho Chúa (2 Sb 31, 5). Được coi như là một buổi tiệc thiết đãi, nó đã được sử dụng bánh kẹo, các loại bánh ngọt ưa thích, và đồ ngọt bán tại chợ.

          Là thành phần chất ngọt được yêu thích trong hầu hết các loại thực phẩm, mật ong đã trở thành đồng nghĩa với vị ngọt. Vì vậy “những lời nói mật ngọt” có thể có nghĩa là hùng biện, và tác giả Thánh Vịnh có thể hát, “Con cảm thấy Lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (Tv 119, 103). Mặt khác, mật ong có thể được trêu ngươi và gây nguy hiểm. Châm ngôn cảnh báo rằng “đôi môi người đàn bà trắc nết tiết ra mật ngọt, và miệng của nó trơn tru hơn dầu” (Cn 5, 3). Tuy nhiên, ở một chỗ khác, tác giả cũng khôn ngoan lưu ý rằng mật ong là một niềm vui tự nhiên để thưởng thức: “Hỡi con, cứ ăn đi, mật ong ngon lắm, mật ong nguyên chất ngọt ngào trong miệng con” (Cn 24,13). Giống như tất cả những điều tốt đẹp và tự nhiên, mà người ta có thể thưởng thức nó quá mức: “Mật ong, hãy ăn vừa đủ – ăn quá nhiều không tốt, và bạn sẽ nôn” (Cn 25, 27).

          Vua Salomon yêu thích hình ảnh mật ong, sử dụng nó trong bài hát đám cưới của ông, Bài ca Salomon: “Này em gái của anh, người yêu anh sắp cưới. Anh đã vào khu vườn của anh; anh đã hái mộc dược, hái cỏ thơm. Anh đã ăn mật ong, ăn cả tảng mật ngọt, anh đã uống rượu và sữa dành cho anh”. Sau đó, ông mời các vị khách khác nhập vào với ông (Dc 5, 1). Thực ra, ông thích mô tả về vợ sắp cưới của ông rằng “môi em tươm mật ngọt… lưỡi em chan chứa mật ngọt sữa ngon” (Dc 4, 11).

          Với truyền thống lâu đời này về hình ảnh mật ong, không có gì đáng ngạc nhiên khi sách Khải Huyền ghi lại hình ảnh thiên thần đưa một vật cho Gioan, và ông được lệnh ăn vì “nó ngọt ngào như mật ong”, mặc dù nó sẽ làm cho bụng dạ ông phải cay đắng (Kh 1, 9-10). Trong những năm sau đó, các nghệ sĩ dùng con ong, với thói quen siêng năng của nó như một biểu tượng của sự làm việc chăm chỉ và kỷ luật tốt. Tổ ong đã trở thành một hình ảnh của một cộng đồng lý tưởng – giáo hội, với mọi thành viên làm việc chăm chỉ hướng tới một mục tiêu chung (George Ferguson, 1966, 12). Vào thế kỷ 19, tác giả Matthew Arnold – một nhà phê bình văn hóa Anh (trong tác phẩm Văn hóa hay Hỗn loạn) đã nhờ đến ong mật làm hình ảnh cho sự phê bình tư tưởng của ông, ông là một người giống như loài ong mật sản xuất mật ong và sáp “ngọt ngào và thanh thoát – sự nhã nhặn và biết phải quấy”.

 Maria Ngô Liên chuyển ngữ

Xem thêm: Thực phẩm; Côn trùng.

Đọc thêm:

– Ferguson, George. Signs and Symbols in Christian Art. New York: Oxford University Press, 1966.

– Miller, Madeleine S. and Lane S. Miller. “Food,” in Harpers Bible Dictionary. New York: Harper and Row, 1961.

 

Comments are closed.