Đời sau

0

ĐỜI SAU

(St 3,22; Xh 20,12; Tv 72,16; G 19,25-26; Kh 9,5; Ga 11,17.25)

Trích dch tác phm “All Things in the Bible” ca tác gi Nancy Tischler

Trong thời Cựu Ước, người Do Thái tin rằng loài người đã được tạo ra để được bất tử, nhưng đã bị tước mất sự sống đời đời vì tội lỗi. Mặc dù, khi một người đã đạt đến độ tuổi trường thọ, cái chết tự nó là được coi như là một giấc ngủ, là sự nghỉ ngơi, và một phúc lành. Chết sớm được xem như là một biến cố khủng khiếp, bất hạnh, nếu không có ý thức về khái niệm hạnh phúc của đời sau cho bất kỳ người nào.

Người Do Thái nghĩ về cái chết như là một sự “im lặng rất lớn”. Cái chết có thể “không có lối thoát mà cũng không có được phương cứu chữa”(Alan F. Segal năm 2004, 121-123, 129). Một số tin rằng một cuộc sống lâu dài được đảm bảo bởi sự quan tâm đối với cha mẹ của mình. Phong tục chôn cất các thành viên trong gia đình được chia sẻ trong cùng một ngôi mộ cho thấy mối quan hệ đang tồn tại và sẽ tiếp tục tồn tại của gia đình với tổ tiên của họ, có lẽ như một “sự thờ cúng người chết”. Điều răn “thờ cha kính mẹ” đã được thực hiện có nghĩa là các bậc cha mẹ đã được chôn cất một cách đúng đắn để thế hệ tiếp theo được “sống lâu trên mặt đất” mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Một hình thức chắc chắn của đời sau có thể  biểu lộ hàm ý về vị trí một số ngôi mộ – như một trong những ngôi mộ gia đình bằng đá tại Dothan, phía bắc của Sichem, trong đó người ta đã tìm thấy 288 thi thể vẫn giữ nguyên.

Các xác chết được đặt trong một vị trí dài và rộng hơn bình thường trên sàn cùng với khoảng 3.000 hiện vật. Những đồ dùng của cuộc sống hàng ngày đặt chung với các xác chết, có lẽ để nhằm phục vụ các nhu cầu ở thế giới bên kia cho những người đã qua đời, cho thấy sự tiếp tục tồn tại của con người. Những hiện vật bao gồm chậu, đèn, chén bát, bình, thùng, quần áo, đồ trang sức, dao găm, và những đồ gia đình. Thậm chí cả lược và gương. Tất cả những điều này cho thấy rằng họ nghĩ người chết tiếp tục phải được quan tâm. Họ cho rằng các loại đèn đặc biệt hữu ích trong thế giới tối tăm của sự chết, giúp linh hồn đã mất tìm thấy đường đến ngôi nhà chung cuộc của họ. Những mẩu thừa của thực phẩm, bao gồm cả súc vật để giết thịt: như cừu, dê và các loài chim. Những hình ảnh này có thể tiết lộ một điều: người sống cho rằng người chết vẫn tiếp tục trong các sinh hoạt hàng ngày của họ.

Người chết được cho là có thể giao tiếp với người sống ít nhất trong một thời gian. Trong truyền thuyết của người Do Thái, nhiều câu chuyện ngụ ngôn liên quan đến sự giao tiếp của người chết với người sống, nhưng quan niệm phổ biến hơn được diễn tả trong sách Gv 9,5: “Người sống ít ra cũng biết mình sắp chết, còn người chết chẳng biết gì cả”. Tuy nhiên, thực hành việc cầu nguyện cho người chết như câu chuyện của Caleb, người được cho là đã đến thăm hang động của Machpelah và cầu xin với Abraham cứu anh ta khỏi các người dò thám của Môisê.

Thậm chí ngày nay, tư tưởng của người Do Thái đối nghịch với niềm tin vào sự bất tử của linh hồn. Trong thực tế, niềm tin vào một cuộc sống tiếp tục không ngừng của linh hồn, đã được các tiên tri và các nhà làm luật khuyến khích, họ là những người nghĩ về Thiên Chúa như người cai trị Trời Đất – nhưng không ở dưới âm phủ – (Kaufmann Kohler 2004, “Sự bất tử của linh hồn”).

Trong những ngày sau này, một số người Do Thái đã tin vào sự sống lại của người chết, thời điểm khi các linh hồn – ít nhất là linh hồn của những người công chính sẽ trở lại với thân xác của họ và con người sẽ trở về Thánh Địa. Đây là lý do tại sao có rất nhiều người đã được chôn cất gần Giêrusalem, để chuẩn bị cho Ngày Phục sinh. Vị trí của cơ thể khi chôn cũng báo hiệu một niềm tin như vậy: một số xác chết được chôn cùng với ngón tay cái cong xuống để bàn tay giống như từ “Thượng Đế” và một mảnh vỡ được đặt trong mắt, một cây gậy nhỏ trong bàn tay, một mảnh kim loại trên cơ thể, một túi nhỏ chứa đất được lấy từ Thánh Địa đặt dưới đầu, và một cái nĩa gỗ chạc ba trong bàn tay để trợ giúp việc đào xới vào ngày phục sinh. Một khăn tắm treo lên và một ly nước đặt bên cạnh nó để cơ thể có thể được tắm khi trở về với linh hồn. Như một sử gia đã viết, ” Một mình Giêrusalem là thành phố mà từ đó người chết sẽ được đưa lên khỏi huyệt để được hồi sinh như nơi an nghỉ cuối cùng. . . . Do đó, những người được chôn cất ở nơi khác sẽ buộc phải leo qua khoảng trống trong trái đất cho đến khi họ về đến Thánh Địa “(Tv 72,16 và Ed 37,13; George Barton và Kaufmann Kohler 2004, “Sự Phục Sinh”).

 Ông Gióp là một trong những ví dụ đầu tiên của việc khao khát sự sống lại (G 19, 25-26). Dưới ảnh hưởng của tư tưởng Hy Lạp, đặc biệt là của Plato, những người Pharisêu và phái Êsêniô tin vào sự sống lại của người chết, trong khi phái Sa đốc phủ nhận cả sự bất tử của linh hồn và sự sống lại của kẻ chết. Cuối cùng, sự phục sinh đã trở thành một giáo điều của Do Thái giáo, được đặt trong sách Mishnah và trong Phụng vụ. Nó đã được thiết lập chắc chắn như là một phần niềm hy vọng về Đấng Thiên Sai – gắn liền với sự phục sinh của người công chính – Ý tưởng của họ đã thay đổi phần nào với cuộc lưu đầy và những người Do Thái sống tha phương. Các tiên tri rao giảng về một ngày mới, khi Thành thánh Giêrusalem Trên Trời sẽ là nhà của những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Trong ngày Phán Xét, người Do Thái mong đợi tù và sẽ rúc lên để thâu thập các Chi Tộc Israel (Is 27,13). Sự kiện này cũng có nghĩa cho kẻ chết chỗi dậy. Ma quỉ sẽ bị quăng vào hỏa ngục, nhưng dân Israel (hay ít nhất cũng là những người Israel đích thực) sẽ được Thiên Chúa cứu (Is 66,14; Tv 23,4; Mk 4,5). Dần dần, sự sống lại và Ngày Phán Xét Cuối Cùng đã được mường tượng như là hành động của Thiên Chúa trong việc hoàn thành các mô hình của lịch sử nhân loại.

Truyền thống này là di sản của các Kitô hữu tiên khởi, những người biết về  “bóng tối của tử thần” (Mt 4,16). Họ tin rằng Đấng Tạo Hóa có quyền trên sự chết (Mc 5,38-42), như đã được chứng minh trong các phép lạ khác nhau của Đức Giêsu. Phúc âm của thánh Gioan nhắc nhiều đến cái chết và sự sống lại, bao gồm cả phép lạ Lazarô sống lại từ cõi chết (Ga 11,17). Tại thời điểm đó, Đức Giêsu nói với Matta, “Thầy là sự sống lại và là sự sống: ai tin vào Thầy, thì dù có chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25). Chính Đức Kitô đã nói về Ngày Phán Xét Cuối Cùng, sự sống lại của kẻ chết, sự phục sinh của Ngài, và cuối cùng Ngài xuất hiện trong thân xác phục sinh của mình của mình với các môn đệ và những người khác. Do đó, sự phục sinh trở thành một vấn đề thiết yếu của tư tưởng Kitô giáo. Như thánh Phaolô tuyên bố, “…Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng” (1 Cr 15,54). Thánh nhân đã viết cho người con yêu dấu Timôthê của ngài, “… Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tim 1,10). Các thư của thánh nhân được tràn ngập niềm vui sướng trong sự hiểu biết về đời sống đang đến, tin rằng sự chết thực sự là một chiến thắng đối với các Kitô hữu.

Việc cử hành Lễ Phục Sinh và sự thay đổi các việc thực hành thờ phượng từ Ngày Sabát tới Ngày của Chúa (Chúa nhật), sự kiện Phục Sinh làm chứng vai trò thiết yếu của nó đối với các Kitô hữu như trong câu kết Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, “Tôi tin. . . sự Phục Sinh của kẻ chết và sự sống vĩnh cửu. Amen.

 Maria Ngô Liên chuyển ngữ

Đọc thêm

–  Barton, George A., Kaufmann Kohler, and the Editorial Board. “Resurrection,”
http://www.encyclopedia.com (accessed December 20, 2004).
–  DeVaux,Roland. Ancient Israel: Its Life and Institutions. Grand Rapids, Mich.: William B. Eerdmans Publishing Company, 1997.
–  Kohler, Kaufmann. “Immortality of the Soul,”
http://www.jewishencyclopedia.com (accessed December 20, 2004).
–  Segal, Alan F. Life after Death: A History of the Afterlife in Western Religion. New York: Doubleday, 2004.

Comments are closed.