Đề tài học hỏi và thảo luận quý III

0

HỌC HỎI & THẢO LUẬN CỘNG ĐOÀN

SẮC LỆNH AD GENTES

Kính thưa Bề trên và chị em,

Từ TCN này, Hội dòng chúng ta đã bước sang năm thứ III thực thi kế hoạch của Tổng hội với mục tiêu Truyền giáo. Vì thế, trang mục HỌC HỎI CỘNG ĐOÀN, xin gửi những câu hỏi giúp chị em trong mỗi cộng đoàn cùng nhau tìm hiểu, thảo luận về SẮC LỆNH AD GENTES để được Giáo Hội hướng dẫn về tinh thần truyền giáo cũng như những áp dụng cụ thể.

Những câu hỏi và trả lời được soạn theo bản tóm sắc lệnh của Linh mục Trần Đình, Giáo phận Đà Lạt, rất ngắn gọn, đặt trọng tâm vào những ý chính của sắc lệnh. Vì thế, xin Bề trên và chị em dành thời gian đọc trực tiếp trên bản văn của sắc lệnh (Công đồng VATICAN II) để chúng ta được hiểu biết rộng rãi hơn về những hoạt động truyền giáo của Giáo Hội.

Cũng trong tinh thần học hỏi như những quí trước, xin mỗi cộng đoàn áp dụng những phương cách tốt nhất giúp chị em cùng học hỏi sắc lệnh một cách sinh động và hiệu quả. Hy vọng nhờ đó, tinh thần truyền giáo của Hội dòng khởi sắc hơn và mỗi chị em ý thức hơn sứ mạng truyền giáo của mình.

TUẦN

CÂU HỎI

HỌC HỎI – THẢO LUẬN

30.06 – 06.07

Số

1 – 5

1. Sắc lệnh AD GENTES tên Việt Nam gọi là gì?

2. Sắc lệnh AD GENTES gồm có mấy phần, bao nhiêu số và được bố cục thế nào?

3. Phần mở đầu sắc lệnh nói gì?

4. Chương I gồm mấy số? Nội dung chính của số 2 là gì?

5. Số 3 của sắc lệnh nói gì?

07 – 13.07

Số

6 – 10

6. Số 4 của sắc lệnh nói gì?

7. Số 5 của sắc lệnh nói gì?

8. Đâu là những ý chính trong số 6 của sắc lệnh?

9. Số 7 của sắc lệnh nói gì?

10.Số 8 của sắc lệnh nói gì?

14 – 20.07

Số

11 – 15

11.Số 9 của sắc lệnh nói gì?

12.Nền thần học của sắc lệnh được nhận xét thế nào?

13.Trong chương II về “công việc chính của truyền giáo” gồm mấy mục và bao nhiêu số?

14.Những ý chính trong số 11 của sắc lệnh là gì?

15.Những ý chính trong số 12 của sắc lệnh là gì?

21 – 27.07

Số

16 – 20

16.Những ý chính trong số 13 của sắc lệnh là gì?

17.Số 14 của sắc lệnh nói gì?

18.Những ý chính trong số 15 của sắc lệnh là gì?

19.Số 16 của sắc lệnh nói gì?

20.Số 17 của sắc lệnh nói gì? 

28.07 – 03.08

Số

21 – 25

21.Số 18 của sắc lệnh nói gì? 

22.Chương III nói về các Giáo Hội địa phương thế nào gồm mấy số? 

23.Số 19 nói đâu là những nét chính yếu của một Giáo Hội trưởng thành?

24.Số 20 nói Giáo Hội trẻ trung có thể trưởng thành bằng những phương thế nào?

25.Những ý chính trong số 21 của sắc lệnh là gì?

04 – 10.08

 

Nghỉ – mừng lễ Cha Thánh

11 – 17.08

 

Nghỉ – thường huấn

18 – 24.08

 

Nghỉ – chuyển cộng đoàn

25 – 31.08

Số

26 – 29

26.Những ý chính trong số 22 của sắc lệnh là gì?

27.Trong chương IV nói về các nhà truyền giáo gồm 4 số (s 23- 27). Số 23 nói về 5 đặc tính của một nhà truyền giáo như  thế nào?

28.Số 24 nói về chân dung của nhà truyền giáo như thế nào?

29.Số 25 và 26 nói về những yêu cầu đối với nhà truyền giáo tương lai cần gì?

01 – 07.09

Số

30 – 33

30.Số 27 của Sắc lệnh nói gì về những Tu hội truyền giáo?

31.Yêu cầu của việc truyền giáo là gì?

32.Trong chương V có 7 số (s 28 – 34) nói về tổ chức hoạt động truyền giáo. Số 28 nói thế nào?

33.Trên lãnh vực toàn cầu số 29 nói gì?

08 – 14.09

Số

34- 37

34.Đối với Giáo phận, số 30 nói gì?

35.Số 31 nói gì về Các Hội đồng Giám Mục?

36.Số 32 của sắc lệnh nói gì?

37.Số 33 của sắc lệnh nói gì?

15 – 21.09

Số

38 – 41

38.Số 34 tóm lại thế nào?

39.Chương VI gồm 7 số (s 35 – 41) nói về sự cộng tác. Ý chính của số 35 là gì?

40.Số 36 và 37 của sắc lệnh nói về các tín hữu thế nào?

41.Số 38 của sắc lệnh nói về nhiệm vụ của các Giám mục thế nào?

22 – 28.09

Số

42 – 45

42.Số 39 của sắc lệnh nói về nhiệm vụ của các linh mục thế nào?

43.Số 40 của sắc lệnh nói về sứ vụ của các Hội dòng thế nào?

44.Số 41 của sắc lệnh nói về nhiệm vụ của người giáo dân thế nào?

45.Số 42 kết luận sắc lệnh thế nào?

HỌC HỎI SẮC LỆNH AD GENTES

Soạn theo bản tóm sắc lệnh của Linh mục Trần Đình, Đà Lạt

1. Sắc lệnh AD GENTES tên Việt Nam gọi là gì?

–     Việt Nam thường gọi là Sắc lệnh “Đến với muôn dân” hoặc Sắc lệnh về “Hoạt động truyền giáo của Giáo Hội” hay Sắc lệnh “Truyền Giáo”.

2.  Sắc lệnh AD GENTES gồm có mấy phần, bao nhiêu số và được bố cục thế nào?

– Sắc lệnh gồm 42 số; được bố cục theo phần mở đầu, 6 chương và phần kết luận như sau:

Phần mở đầu (s.1)

1. Giáo thuyết căn bản (s. 2-9)

2. Công việc truyền giáo (s. 10-18)

3. Các Giáo Hội địa phương (s.19-22)

4. Các nhà truyền giáo (s. 23-27)

5. Tổ chức hoạt động truyền giáo (s. 28-34)

6. Sự cộng tác (s. 35-41)

Kết luận (s. 42)

3. Phần mở đầu sắc lệnh nói gì?

– Giáo Hội, “bí tích cứu độ phổ quát” (x. GH 48), có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho muôn dân, do đòi hỏi của công giáo tính và vì mệnh lệnh của Đấng sáng lập (x. Mc 16, 15 ; Mt 28. 19-20) (s.1).

4.  Chương I gồm mấy số? Nội dung chính của số 2 là gì?

– Chương I gồm 8 số (s.2-9). Số 2 nói về Việc truyền giáo của Giáo Hội nối dài sứ mạng của Ba Ngôi, đồng thời thể hiện ý định của Thiên Chúa (x. GH 2) là muốn loài người được tham dự vào sự sống của Người (s. 2).

5. Số 3 của sắc lệnh nói gì?

– Thiên Chúa đã quyết định đi vào lịch sử loài người một cách mới mẻ và dứt khoát bằng cách sai Chúa Con xuống thế làm người để giải thoát nhân loại khỏi quyền lực tối tăm và Satan (x. Cl 1, 13; Cv 10, 38), hòa giải thế gian với Người (x. 2C 5, 19) hầu mọi sự được tái lập (x. Ep 1, 10).

– Bằng đường lối nhập thể, Chúa Con đã đến làm cho loài người được thông phần bản tính Thiên Chúa. Nhập thể là trở nên nghèo (x. 2C 8, 9), phục vụ (x. Mc 10, 45) và đảm nhận mọi sự, ngõ hầu tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư đi (x. Lc 19, 10) (s. 3).

6. Số 4 của sắc lệnh nói gì?

– Để hoàn tất công việc cứu rỗi, Chúa Thánh Thần đã được phái đến để thực hiện công trình cứu chuộc trong các tâm hồn và thúc đẩy Giáo Hội bành trướng thêm mãi. (s.4)

7. Số 5 của sắc lệnh nói gì?

– Lãnh nhận sứ mạng từ Đức Kitô, Giáo Hội vì là “bí tích cứu độ phổ quát”, có bổn phận rao giảng Tin Mừng, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy và các bí tích mà dẫn người ta đến đức tin. Giáo Hội phải tiến bước trên con đường mà Chúa Kitô đã đi là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến (s.5).

 8. Đâu là những ý chính trong số 6 của sắc lệnh?

– Đối với con người, đoàn thể hay dân tộc, Giáo Hội phải tiếp xúc và thấm nhập dần dần.

– Hai ý niệm then chốt của hoạt động truyền giáo là: rao giảng Phúc Âm và vun trồng Giáo Hội (x. 1C 3, 6-9; x. GH 6, 3).

– Cần lưu ý: sự chia rẽ giữa các kitô hữu chẳng những gây tai hại cho việc rao giảng Phúc Âm, mà còn bít kín đường dẫn tới đức tin (s. 6).

9. Số 7 của sắc lệnh nói gì?

– Một lần nữa, Công Đồng tuyên bố lý do của hoạt động truyền giáo bắt nguồn từ ý định của Thiên Chúa “muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý. Chỉ có một Thiên Chúa, một Đấng trung gian duy nhất là Đức Giêsu Kitô” (x. 1Tm 2, 4-6) và “ơn cứu rỗi không có nơi ai khác” (Cv 4, 12), cho nên bổn phận chính yếu của Giáo Hội là phải rao giảng. Vì thế, đây là vấn đề vẫn mãi cần thiết và giữ nguyên hiệu lực của nó (s. 7).

10. Số 8 của sắc lệnh nói gì?

– Hoạt động truyền giáo cũng liên kết chặt chẽ với chính bản tính nhân loại và ước vọng của con người: mọi người đều cần Chúa Kitô làm gương mẫu, làm Thầy dạy, làm Đấng giải thoát, Đấng cứu độ và Đấng ban sự sống (s. 8)

11. Số 9 của sắc lệnh nói gì?

– “Hoạt động truyền giáo không gì khác hơn là bày tỏ ý định của Thiên Chúa và hoàn tất ý định ấy nơi trần thế và trong lịch sử trần thế. Chính trong lịch sử này mà Thiên Chúa hoàn thành lịch sử cứu rỗi một cách rõ rệt nhờ việc truyền giáo” (s. 9)

12. Nền thần học của sắc lệnh được nhận xét thế nào?

– Sắc lệnh đã phác thảo những nét căn bản cho một nền thần học truyền giáo, được xây dựng trên 4 chiều kích: Ba Ngôi, Kitô học, Giáo Hội học và nhân học.

13. Trong chương II về “công việc chính của truyền giáo” gồm mấy mục và bao nhiêu số?

Gồm có 3 mục và 9 số với nội dung như sau:

– Mục 1: Chứng tá kitô hữu (s. 11-12)

– Mục 2: Rao giảng Tin Mừng và qui tụ Dân Chúa (s. 13-14)

– Mục 3: Việc thành lập cộng đoàn kitô giáo (s. 15-18)

14. Những ý chính trong số 11 của sắc lệnh là gì?

–  Mọi kitô hữu dù sống ở đâu cũng phải lấy gương mẫu đời sống và chứng tá lời nói để biểu dương con người mới, ngõ hầu người khác nhìn vào những việc lành của họ mà ca tụng Chúa Cha (x. Mt 5, 16).

–  Để làm chứng cho Chúa Kitô cách hữu hiệu, các kitô hữu còn phải liên kết với người khác, tham gia vào đời sống văn hoá xã hội của nhân loại, làm quen với những truyền thống dân tộc và tôn giáo của họ, khám phá những hạt giống lời Chúa tiềm ẩn trong họ, nỗ lực làm cho những người quá chú tâm vào khoa học kỹ thuật đừng quên lãng những việc linh thiêng, hiểu biết và đối thoại với họ, đem ánh sáng Tin Mừng chiếu soi vào môi trường sống của họ. (s. 11). 

15. Những ý chính trong số 12 của sắc lệnh là gì?

–  Người Kitô hữu còn phải bắt chước Chúa mà yêu thương mọi người bằng cách chia vui sẻ buồn, nhận biết những ước vọng và những vấn đề nhân sinh, cộng tác với những người khác trong việc giáo dục, tạo ra những hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn như khắc phục nạn đói khát, dốt nát và bệnh tật.

– Sắc lệnh lưu ý: Giáo Hội không hề muốn pha mình vào việc cai trị xã hội trần gian, không đòi cho mình quyền nào khác ngoài việc phục vụ.

–  Một lưu ý khác là: các môn đệ không tìm tiến bộ và thịnh vượng vật chất cho con người, nhưng là nâng cao nhân phẩm và sự hiệp nhất huynh đệ (s.12).

– Nhận xét: yêu sách của việc truyền giáo là phải lưu tâm đến những hoàn cảnh sống cụ thể của con người.

16. Những ý chính trong số 13 của sắc lệnh là gì?

–  Phải tin tưởng và bền chí loan báo Tin Mừng cho hết mọi người nhận biết Thiên Chúa hằng sống và nhận biết Đấng Người sai đến là Đức Kitô, “là đường, sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6) để họ trở lại và gắn bó cùng Người.

– Đối với các dự tòng, cần cứu xét những động lực tòng giáo và nếu cần thì phải thanh luyện những động lực ấy (s. 13).

17. Số 14 của sắc lệnh nói gì?

– Phải mở lớp dự tòng để không những trình bày tín lý và các giới răn, nhưng còn huấn luyện một đời sống kitô hữu đầy đủ và có thời gian tập sự. Lớp dự tòng không phải chỉ là việc riêng của các giáo lý viên, nhưng còn là của cộng đoàn tín hữu và của những người đỡ đầu. Phải tập cho các dự tòng cộng tác vào việc rao giảng Tin Mừng và xây dựng Giáo Hội bằng chứng tá đời sống và tuyên xưng đức tin (s. 14).

– Nhận xét: huấn luyện dự tòng không chỉ là trình bày giáo thuyết nhưng còn phải dạy cho họ tham gia vào đời sống của Giáo Hội một cách cụ thể.

 18. Những ý chính trong số 15 của sắc lệnh là gì?

– Phải xây dựng cộng đoàn tín hữu sao cho họ biết sống xứng đáng ơn gọi của mình (x. Ep 4, 1), để trở thành dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian, bén rễ sâu trong dân chúng.

– Cũng phải dạy cho họ có tinh thần đại kết, hiệp nhất, sống như men trong bột, dùng lời nói và việc làm mà loan báo Chúa Kitô.

– Ngoài ra, để “gieo trồng” Giáo Hội và phát triển cộng đoàn kitô giáo, cần phải có nhiều thừa tác vụ khác nhau (s. 15).

– Nhận xét: trong việc thiết lập cộng đoàn kitô giáo cần lưu tâm trước hết đến việc đào tạo.

19. Số 16 của sắc lệnh nói gì?

–  Trước tiên là đào tạo linh mục. Việc đào tạo phải nhắm đến những điểm sau đây: việc huấn luyện thiêng liêng phải liên kết chặt chẽ với việc huấn luyện giáo thuyết và mục vụ, phải được tổ chức dưới ánh sáng của mầu nhiệm cứu rỗi; tìm kiếm lối suy tư và hành động riêng biệt của dân tộc mình; việc huấn luyện cũng phải nhắm vào những nhu cầu mục vụ của từng miền , nghĩa là chủng sinh phải học biết lịch sử, mục đích và phương pháp hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, những hoàn cảnh xã hội, kinh tế và văn hoá của dân tộc mình để đối thoại. Họ cũng phải được huấn luyện về phương diện kinh tế nữa (s. 16).

20. Số 17 của sắc lệnh nói gì? 

–  Thứ đến là đào tạo các giảng viên giáo lý. Việc huấn luyện phải được kiện toàn và thích nghi với tiến bộ văn hoá; phải có nhiều trường học thuộc giáo phận và miền; phải cung cấp cho họ một khoản thù lao cân xứng. Nếu thấy thuận tiện thì nên công khai cử hành một nghi lễ phụng vụ để trao bài sai hầu tạo uy tín cho họ (s. 17).

21. Số 18 của sắc lệnh nói gì? 

– Cuối cùng là đời sống tu trì. Đời sống tu trì không những cần thiết cho hoạt động truyền giáo mà còn bày tỏ bản tính sâu xa của ơn gọi kitô giáo (s. 18).

22. Chương III nói về các Giáo Hội địa phương thế nào gồm mấy số? 

– Chương III gồm 4 số ( s 19-22) nói về các Giáo Hội địa phương cần phải hướng đến sự trưởng thành.

23. Số 19 nói đâu là những nét chính yếu của một Giáo Hội trưởng thành?

– Đó là một Giáo Hội đã bén rễ sâu trong đời sống xã hội và văn hoá địa phương; đã có dồi dào các linh mục, tu sĩ và giáo dân địa phương; đã có những thừa tác vụ và những tổ chức cần thiết dưới sự dẫn dắt của Giám Mục riêng của mình (s. 19).

– Các cộng đoàn tín hữu phải trở nên những cộng đoàn sống đức tin, phụng vụ và đức ái; phải duy trì mối hiệp thông mật thiết với toàn thể Giáo Hội; tiến tới việc tự túc và giúp đỡ các Giáo Hội khác (s. 19)

24. Số 20 nói Giáo Hội trẻ trung có thể trưởng thành bằng những phương thế nào?

– Phải là một Giáo Hội truyền giáo, không những bằng chứng tá đời sống mà còn bằng việc rao giảng (Giám Mục, Linh mục); còn các tu sĩ và giáo dân cũng phải hun đúc nhiệt tâm truyền giáo đối với đồng bào mình; hơn nữa Giáo Hội trẻ nên tham gia vào công cuộc truyền giáo phổ quát của Giáo Hội càng sớm càng tốt (s.20).

25. Những ý chính trong số 21 của sắc lệnh là gì?

–  Vai trò của giáo dân: Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân.

– Nhiệm vụ chính yếu của giáo dân là làm chứng về Chúa Kitô bằng đời sống và lời nói, đồng thời phải biểu lộ con người mới và diễn tả nếp sống mới trong môi trường xã hội và văn hoá của quê hương theo truyền thống của dân tộc mình.

– Còn các thừa tác viên của Giáo Hội phải quí trọng việc tông đồ đầy khó khăn này của người giáo dân, chẳng những bằng cách huấn luyện, nhưng còn phải sát cánh với họ nữa (s. 21).

26. Những ý chính trong số 22 của sắc lệnh là gì?

– Cuối cùng, tương tự như chương trình Nhập Thể, Giáo Hội trẻ trung phải biết thu nhận tất cả những sự phong phú của các dân tộc làm gia nghiệp, góp phần vào việc tuyên xưng vinh quang của Tạo Hoá.

–  Cũng cần thúc đẩy việc suy tư thần học để hiểu được đường lối nào đức tin có thể tìm gặp lý trí cũng như phong tục tập quán của xã hội, ngõ hầu Giáo Hội có thể dễ dàng thích nghi trong việc loan báo Tin Mừng (s. 22).

27. Trong chương IV nói về các nhà truyền giáo gồm 4 số (s 23- 27). Số 23 nói về 5 đặc tính của một nhà truyền giáo như  thế nào?

1/ Được sai đi;

2/  Phải ra đi, nghĩa là mang giáo hội đến những nơi chưa có gh;

3/ Đến nơi xa, nơi mà giáo hội chưa được vun trồng.

4/ Được tách riêng ra;

5/ Để rao giảng phúc âm (s. 23).

28. Số 24 nói về chân dung của nhà truyền giáo như thế nào?

1/  Thấm nhuần đời sống và sứ mạng của Đấng đã “tự huỷ mình mà nhận lấy thân phận tôi tớ” (Ph 2, 7);

2/  Làm chứng về Chúa bằng đời sống Phúc Âm đích thực;

3/  Canh tân lòng trí mỗi ngày (x. 1 Tm 4, 14; Ep 4, 23; 2C 4, 16) (s. 24).

29. Số 25 và 26 nói về những yêu cầu đối với nhà truyền giáo tương lai cần gì?

1/ Được huấn luyện về đời sống thiêng liêng và luân lý;

2/ Là con người cầu nguyện;

3/ Có tinh thần can đảm, yêu thương và độ lượng (2 Tm 1, 7);

4/ Học để quen sống tự túc (Ph 4, 11);

5/ Có tinh thần hi sinh và tận hiến cho các linh hồn (2 C 12, 15tt) (s. 25);

6/ Được chuẩn bị và đào tạo chẳng những về giáo thuyết, nhưng còn biết quí chuộng di sản, tiếng nói và phong tục tập quán của dân tộc đó;

7/ Học hỏi khoa truyền giáo;

8/ Được đào tạo về tinh thần tông đồ và nghệ thuật dạy giáo lý;

9/ Cũng phải có một số nhà truyền giáo được chuẩn bị kỹ hơn tại những Học Viện Truyền giáo (s. 26).

30. Số 27 của Sắc lệnh nói gì về những Tu hội truyền giáo?

– Kinh nghiệm cho hay chỉ những Tu hội truyền giáo mới có thể được huấn luyện một cách thích hợp và theo đuổi công việc đó nhân danh Giáo Hội và theo ý muốn của hàng Giáo Phẩm (s. 27).

31. Yêu cầu của việc truyền giáo là gì?

– Nhận xét: Yêu cầu đối với việc truyền giáo là phải đào tạo những nhà truyền giáo theo tinh thần Tin Mừng.

32. Trong chương V có 7 số (s 28 – 34) nói về tổ chức hoạt động truyền giáo. Số 28 nói thế nào?  

–  Các Kitô hữu phải cộng tác vào việc truyền giáo để xây dựng Giáo Hội. Tuy nhiên, “mọi sự được thực hiện theo trật tự” (1C 14, 40) (s. 28).

33. Trên lãnh vực toàn cầu số 29 nói gì?

–     Trước hết là bổn phận của “Giám Mục đoàn” (x. GH s. 23), rồi đến “Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin” hợp với “Văn phòng cỗ võ sự hiệp nhất kitô giáo” để điều khiển và phối hợp công việc truyền giáo cũng như sự hợp tác truyền giáo trên toàn thế giới (s. 29).

34. Đối với Giáo phận số 30 nói gì?

– Giám Mục là người lãnh đạo phát động, điều khiển và phối hợp hoạt động truyền giáo. Giám Mục nên thiết lập Hội Đồng Mục Vụ trong đó giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân được góp phần đại diện. Ngài cũng phải dành một phần nhân lực và vật lực vào việc rao giảng Phúc Âm cho những người ngoài kitô giáo (s. 30).

35. Số 31 nói gì về Các Hội đồng Giám Mục?

–  Để khỏi phân tán nhân lực và vật lực, các Hội Đồng Giám Mục nên hợp lực thiết lập những công tác phục vụ lợi ích chung như chủng viện, những trung tâm mục vụ, giáo lý và truyền thông xã hội (s. 31).

36. Số 32 của sắc lệnh nói gì?

– Cũng nên phối hợp hoạt động của các tổ chức hay hội đoàn trong Giáo Hội. Những tổ chức đó dù thuộc loại nào đều phải tuỳ thuộc Đấng Bản Quyền địa phương (s. 32).

37. Số 33 của sắc lệnh nói gì?

–  Những Hội dòng đang hoạt động truyền giáo trong cùng một địa hạt phải tìm kiếm đường lối và phương pháp để phối hợp cộng tác. Vì thế cần phải có những Hội đồng nam tu và Hiệp hội nữ tu với sự tham gia của tất cả các Hội dòng trong cùng một quốc gia hay một miền.

–     Các Hội dòng này cùng nghiên cứu những phương án hợp tác hoạt động, và phải luôn liên kết chặt chẽ với các Hội đồng Giám mục.

38. Số 34 tóm lại thế nào?

– Một hoạt động truyền giáo được thực thi đứng đắn và có tổ chức đòi hỏi những người thợ rao giảng Phúc Âm phải được chuẩn bị cho nhiệm vụ của mình một cách khoa học, nhất là để đối thoại với các tôn giáo và văn hoá ngoài kitô giáo (s.34).

– Nhận xét: việc truyền giáo cần đến sự phối hợp chặt chẽ.

39. Chương VI gồm 7 số (s 35 – 41) nói về sự cộng tác. Ý chính của số 35 là gì?

– Vì toàn thể Giáo Hội là truyền giáo và vì công việc rao giảng Phúc Âm là nhiệm vụ căn bản của Dân Chúa, nên mọi người có nhiệm vụ phải góp phần vào (s. 35).

– Truyền giáo là bổn phận của hết mọi thành phần dân Chúa.

40. Số 36 và 37 của sắc lệnh nói về các tín hữu thế nào?

– Trước hết là các tín hữu vì họ là nhiệm thể Chúa Kitô nhờ các bí tích khai tâm (s.36). Chính họ đã làm cho Giáo Hội xuất hiện như một dấu chỉ nổi lên giữa các dân (x. Ys 12, 11), là “ánh sáng thế gian” (Mt 5, 14) và là “muối đất” (Mt 5, 13). Phải dùng cả những phương tiện truyền thông hiện đại mà cung cấp những tin tức truyền giáo cho họ. Các cộng đoàn giáo phận hay giáo xứ cũng phải minh chứng về Chúa Kitô trước mặt muôn dân (s. 37).

41. Số 38 của sắc lệnh nói về nhiệm vụ của các Giám mục thế nào?

– Các Giám Mục. Tuy nhiên, mệnh lệnh mà Chúa Kitô sai đi rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật trước hết và trực tiếp nhắm tới các Giám Mục. Chính Giám Mục làm thể hiện tinh thần và nhiệt tâm truyền giáo của Dân Chúa và có thể nói là thể hiện cách hữu hình để toàn thể giáo phận trở thành giáo phận truyền giáo. Ngài có nhiệm vụ khuyến khích mọi thành phần Dân Chúa truyền giáo, trong đó các tổ chức truyền giáo phải chiếm chỗ nhất. Ngài cũng phải quảng đại chia sẻ gánh nặng truyền giáo bằng cách sai đến những giáo phận thiếu giáo sĩ vài linh mục xuất sắc để làm việc truyền giáo ít là trong một thời gian. Giám Mục cũng phải lưu ý đến số tiền đóng góp của giáo phận cho việc truyền giáo chung của Giáo Hội (s. 38).

42. Số 39 của sắc lệnh nói về nhiệm vụ của các linh mục thế nào?

– Các linh mục là hiện thân của Chúa Kitô và là cộng sự viên của hàng Giám mục trong ba phận vụ thánh, tự bản chất gắn liền với sứ mệnh thừa sai của Giáo Hội. Vì thế các ngài phải nhận thức sâu xa rằng đời sống các ngài đã được thánh hiến để thực thi sứ vụ truyền giáo.

43. Số 40 của sắc lệnh nói về sứ vụ của các Hội dòng thế nào?

– Các Hội Dòng chiêm niệm hay hoạt động đã và đang góp phần lớn lao vào việc rao giảng Phúc Âm cho thế giới hãy cứ hăng say theo đuổi công việc đã khởi sự, đức ái thúc đẩy và buộc họ phải có tinh thần và việc làm thực sự công giáo.

a/ Các Hội Dòng chiêm niệm góp phần rất lớn vào việc trở lại của các linh hồn nhờ kinh nguyện, việc khổ hạnh. Giáo Hội xin các Hội Dòng này hãy thiết lập các nhà trong những xứ truyền giáo.

b/ Còn các Hội dòng sống đời hoạt động nên đặt vấn đề xem mình có thể mở rộng Nước Chúa nơi muôn dân không (s. 40).

44. Số 41 của sắc lệnh nói về nhiệm vụ của người giáo dân thế nào?

– Giáo dân cộng tác vào công cuộc Phúc Am hóa của Giáo hội, đồng thời tham gia vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội với tư cách là chứng nhân và khí cụ sống động, đặc biệt khi họ được Thiên Chúa kêu gọi và được Giám mục thu nhận thi hành công tác truyền giáo.

 45. Số 42 kết luận sắc lệnh thế nào?

– Các nghị phụ Công Đồng hợp nhất cùng Đức Giáo Hoàng thân ái chào mừng những người rao giảng Phúc Âm, nhất là những người chịu bách hại vì Danh Chúa Kitô. Các ngài hiệp cùng các tín hữu cầu nguyện, nhờ sự cầu bầu của Đức Maria, cho muôn dân mau được đưa về nhận biết chân lý (s. 42).

 Sr. Têresa Phạm Thị Oanh,

Đặc trách Đào tạo

Comments are closed.