Đặc tính cánh chung của Giáo hội

0

 ĐẶC TÍNH CÁNH CHUNG CỦA GIÁO HỘI LỮ HÀNH
VÀ SỰ HIỆP NHÁT VỚI GIÁO HỘI THIÊN QUỐC

(Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen gentium về Giáo hội, số 48-49. Trích từ bản dịch tiếng Việt của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Công đồng Vaticanô II, NXB Tôn Giáo 2012, tr.159-163.)

48. Giáo hội là nơi mà trong Đức Kitô tất cả chúng ta được mời gọi đến và ở  đó chúng ta được nên thánh nhờ ân sủng Chúa, Giáo hội ấy chỉ thành toàn trong vinh quang trên trời, khi đến thời canh tân mọi sự (Cv 3,21), và cũng là lúc cùng với nhân loại, toàn thể vũ trụ, vì được liên kết mật thiết với con người, mà nhờ con người mà đạt được cùng đích của mình, sẽ được tái tạo toàn vẹn trong Đức Kitô (x. Ep 1,10 ; Cl 1,20 ; 2 Pr 3,10-13).

Khi được giương lên cao khỏi mặt đất, Đức Kitô đã kéo mọi người lên với Người (x.Ga 12,32: bản Hy Lạp); khi từ cõi chết sống lại (x. Rm 6,9), Người đã sai Thánh Thần ban sự sống đến với các Môn đệ, và nhờ Chúa Thánh Thần, Người thiết lập thân mình Người là Giáo hội như bí tích phổ quát của ơn Cứu Độ; nay ngự bên hữu Chúa Cha, Người không ngừng tác động trong thế giới để dẫn đưa mọi người đến với Giáo Hội, kết hợp họ mật thiết hơn với Người, và khi nuôi dưỡng họ bằng chính Mình Máu của Người, Người cho họ tham dự vào cuộc sống vinh hiển của Người. Vì thế, sự tái tạo mà Chúa đã hứa và chúng ta đang mong đợi đã khởi sự nơi Đức Kitô và đang tiến triển trong sứ mệnh của Chúa Thánh Thần, và nhờ Chúa Thánh Thần, công trình ấy vẫn đang tiếp diễn trong Giáo hội, nơi đây, nhờ đức tin, chúng ta hiểu được ý nghĩa của cuộc sống trần thế, trong khi vẫn luôn nỗ lực hoàn tất công việc Chúa Cha trao phó ở đời này, với niềm hạnh phúc mai sau và làm cho mình được cứu độ (x. Pl 2,12).

Như vậy, thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta rồi (x. 1Cr 10,11) công cuộc canh tân thế giới đã được tiến hành cách bất khả vãn hồi, và thật ra một cách nào đó đã sớm được thực hiện khi Giáo hội, ngay từ lúc khi còn ở trần gian, đã được trang điểm bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa đến mức vẹn toàn. Dù vậy, cho tới khi có trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị (x. 2 Pr 3,13), Giáo hội lữ hành vẫn mang khuôn mặt chóng qua của đời này, thể hiện nơi các dấu chỉ và các định chế vốn gắn liền với cuộc sống trần thế, đồng thời Giáo hội vẫn sống  giữa các thụ tạo tới nay còn rên xiết và đau đớn như lúc sinh nở đang khi mong đợi sự mạc khải của con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,19-22).

Như vậy, được liên kết với Đức Kitô trong Giáo hội và được ghi dấu Thánh Thần “là bảo chứng của cơ nghiệp chúng ta” (Ep 1,14), chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và thật sự chúng ta là thế (x. 1Ga 3,1), dù chưa được xuất hiện với Đức Kitô trong vinh quang (x. Cl 3,4), lúc đó chúng ta sẽ nên giống Thiên Chúa, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy (x. Ga 3,2). Vì thế, “đang khi còn ở trong thân xác này, chúng ta phải lưu đầy xa Chúa” (2 Cr 5,6), và khi lãnh nhận Thánh Thần như ân huệ mở đầu, chúng ta rên xiết trong lòng (x. Rm 8,23). Chính đức ái thúc bách chúng ta sống cho Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta (x. 2 Cr 5,15). Do đó, chúng ta tìm cách làm đẹp lòng Chúa trong mọi sự (x. 2Cr 5,9)  và mặc lấy binh giáp của Thiên Chúa để có thể đối phó và đứng vững trước những cạm bẫy của ma quỉ trong ngày đen tối (x. Ep 6,11-13). Vì không biết ngày nào, giờ nào, nên chúng ta phải luôn tỉnh thức như lời Chúa nhắc nhở, để khi mạng sống duy nhất của mỗi người ở trần gian này chấm dứt (x. Dt 9,27), chúng ta xứng đáng vào dự tiệc cưới với Người và kể vào số những người được chúc phúc (x. Mt 25, 31-46), chứ không như những đầy tớ hư hỏng và lười biếng  (x. Mt 25, 26) bị vất vào lửa đời đời (x. Mt 25,41), vào chốn tối tăm bên ngoài, nơi “khóc lóc và nghiến răng” ( Mt 22,13 và 25,30). Thật vậy, trước khi hiển trị với Đức Kitô vinh quang, tất cả chúng ta đều phải trình diện  “trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với những việc lành hoặc dữ đã làm khi còn trong thân xác” (2 Cr 5, 10), và ngày tận thế, “ai đã làm lành sẽ sống lại để được sống, còn ai làm ác sẽ sống lại để chịu án phạt” (Ga 5,29 ; x. Mt 25,46). Bởi đó, tin rằng “những đau khổ tạm thời chẳng thấm vào đâu so với vinh quang sắp tới sẽ được mạc khải trong chúng ta” (Rm 8,18); x. 2 Tm 2,11-12) chúng ta vững lòng tin tưởng đợi trông “niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại vinh quang của Thiên Chúa cao cả và của Đấng cứu độ chúng ta,  là Đức Giêsu Kitô” (Tt 2,13). “Đấng sẽ biến đổi thân xác thấp hèn của ta nên giống thân xác sáng láng của Người” (Pl 3,21), và sẽ ngự đến “để được tôn vinh giữa các Thánh của Người và được ngưỡng mộ giữa mọi kẻ đã tin” (2 Ts 1,10).

 49. Trong khi mong đợi Chúa ngự đến trong vinh quang cùng với các Thiên Thần (x. Mt 25,31) và chờ ngày muôn loài quy phục Người sau khi sự chết đã bị tiêu  diệt (x. 1Cr 15 ,26-27), trong số các môn đệ Chúa, có những người đang lữ hành nơi trần thế, có những kẻ đang được thanh luyện sau khi đã hoàn tất cuộc sống này, và có những người được hiển vinh đang chiêm ngưỡng “rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi như Người hằng có ”[1]. Nhưng tất cả mọi người, tùy cấp độ và cách thức khác nhau, đều chia sẻ cùng một lòng mến Chúa yêu người, cùng hát lên một bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa chúng ta. Quả vậy, tất cả những ai thuộc về Đức Kitô lãnh nhận Thần khí của Người, đều hợp thành một Giáo hội duy nhất và liên kết với nhau trong Người (x. Ep 4,16). Như vậy, sự hợp nhất giữa những người còn lữ hành với các anh em đã yên nghỉ bình an của Đức Kitô không hề bị gián đoạn, trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hợp nhất đó còn được củng cố nhờ việc thông truyền cho nhau những ơn phúc thiêng liêng[2]. Quả thật, nhờ kết hợp mất thiết với Đức Kitô hơn, những người đang ở trên trời càng giúp cho toàn thể Giáo hội được vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng mà Giáo hội tại thế dâng lên Thiên Chúa được cao cả hơn, và bằng nhiều cách góp phần xây dựng Giáo hội rộng lớn hơn (x. 1Cr 12,12-27)[3]. Được nhận vào quê trời và hiện diện trước nhan Chúa (x. 2Cr 5,8), nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh không ngừng chuyển cầu với Chúa Cha cho chúng ta[4],  bằng cách dâng lên các công trạng các Ngài đã lập được khi còn ở dưới thế, nhờ Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giêsu Kitô (x. Tm 2,5) khi phục vụ Chúa trong mọi sự và hoàn tất nơi thân xác các ngài những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô vì thân thể Người là Giáo hội (x. Cl 1,24)[5]. Như thế, sự yếu đuối của chúng ta được nâng đỡ rất nhiều nhờ mối quan tâm đầy tình huynh đệ của các Ngài.


[1] CĐ Firenze Decretum pro Gracis: DS 693 (1305).

[2] Ngoài những tài liệu xưa hơn, có từ thời Đức Alexandro IV ngăn cấm mọi hình thức chiêu hồn (27.9 1258), xem Thông điệp của Bộ Thánh Vụ De magnetismi abusu, 4.8.1856: ASS (1865), trang 177-178: DS 1653-1654 (2823-2825); Trả lời của Bộ Thánh Vụ, 24.4.1917 : AAS 9 (1917) trang 268: DS 2182 (3642).

[3] x. Trình bày tổng hợp về học thuyết này của Thánh Phao-lô, trong Pio  XII, Thông điệp Mystici Corporis : AAS 35 (1943), trang 200 và nhiều nơi khác.

[4]   x. T .AUGUSTINO, Liber contra Vigilantium, 6 Pl 23,344 ; T. Tôma, In 4m Sent. D.45,q.3 a.2 ;mT. BONAVENTURA, In 4m Sent, d.45, a.3,.q.2 ; v.v…

[5] x. PIO XII, Thông điệp Mystici Corpris : AAS 35 (1943), trang 245.

Comments are closed.