Sự sống sau cái chết trong dụ ngôn Người phú hộ và Ladarô

0

SỰ SỐNG SAU CÁI CHẾT

TRONG DỤ NGÔN NGƯỜI PHÚ HỘ VÀ LADARÔ (Lc 16,19-31)

 ******

Trải qua nhiều năm miệt mài trên ghế nhà trường, các bạn sinh viên hôm nay chắc không được nghe những câu hỏi và giải đáp về sự sống đời sau vang lên từ giảng đường đại học. Nhưng ta biết chắc rằng mọi người thuộc mọi nền văn hóa tập đều đặt câu hỏi về vĩnh cửu. Cả những em bé có kinh nghiệm về cái chết của người thân yêu cũng tự hỏi xem mình có thể nhìn thấy người yêu dấu một lần nữa được không. “Chúng ta sẽ đi về đâu sau khi kết thúc cuộc đời này?” là một trong câu hỏi nền tảng của con người. Câu trả lời được diễn tả bằng nhiều hình ảnh: đó là cuộc sum vầy với tổ tiên nơi chín suối; là chốn thiên thai êm đềm mà hai chàng nho sĩ Lưu – Nguyễn cứ mãi luyến lưu sau một lần lạc bước vào miền cực lạc; là Niết Bàn thinh không hoàn toàn vắng bóng dục vọng và khổ đau; là cõi sáng ngàn thu dẫn ta đi vào một ý thức vũ trụ; là cung lòng của Ápraham; là bữa tiệc Mêsia chẳng bao giờ vơi cạn; là tìm lại vườn diệu quang Eden đã một lần đánh mất…

 “Sự sống sau cái chết” một chủ đề thuyết trình nổi tiếng của bác sĩ Elizabeth Rübler-Ross (1926-2004) người Thụy Sĩ, đã từng nghiên cứu hơn 20.000 trường hợp bệnh nhân được tuyên bố là chết lâm sàng và được hồi sinh; bác sĩ này đã nhận được hơn 20 bằng tiến sĩ danh dự! Nói về cuộc sống bên kia cái chết cũng là tư tưởng chủ đạo và kinh nghiệm thập tử nhất sinh của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng (1972-) đã từng thuật lại hàng ngàn cuộc tiếp xúc các vong linh trong vòng 20 năm và gây được nhiều tiếng vang trong lãnh vực mà người ta gọi là “tâm linh”!

Biết mình chẳng bao giờ có được thiên duyên và sứ mệnh đặc biệt như thế để nói về kinh nghiệm của người chết và sự sống đời sau, chúng ta cùng nhìn vào Chúa Giêsu, người duy nhất đã phục sinh từ cõi chết và là người có đầy đủ uy tín, có đủ thẩm quyền để nói với chúng ta về cái chết và cuộc sống của thế giới bên kia cách xác thực và đúng đắn nhất. Nhưng lạ thay, suốt 40 ngày hiện ra với các tông đồ và những người thân yêu, Ngài chẳng bao giờ kể cho họ nghe những hiện tượng gì xảy ra trong cái chết, về một đường hầm tăm tối mở ra luồng ánh sáng chói lòa, về tiếng nhạc diệu huyền thần tiên, về tâm lý của các vong linh, các cô hồn hay những lời ai oán của các thai nhi … Ngài không dạy dỗ điều gì mới mẻ trong những lần hiện ra từ cuộc phục sinh và cõi vĩnh hằng của Ngài. Vì thế bài chia sẻ này chỉ biết dựa vào nền tảng Thánh Kinh và giáo huấn của Giáo hội, đặc biệt giới hạn vào một dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ: dụ ngôn người phú hộ và Ladarô (Lc 16,19-31).  

Dụ ngôn này có 2 sứ điệp chính: Chúa Giêsu dạy các môn đệ sự cần thiết phải chia sẻ của cải cho những ai túng thiếu và khuyên họ hãy cẩn thận trước những nguy hiểm của sự giàu sang[1]; đồng thời cũng cho thấy rõ một quan niệm về thế giới bên kia như tương lai thực sự của con người[2]. Bài chia sẻ này trình bày chủ đích thứ hai của dụ ngôn theo những diễn biến của câu chuyện và sau đó đối chiếu với các hình ảnh về thiên đàng và hỏa ngục của Kitô giáo.

1. Giàu và nghèo: hai con đường tìm kiếm hạnh phúc

“Giữa giàu và nghèo ai cũng mong hạnh phúc… ngày sau xuôi tay nhắm mắt là hết rồi”. Sau khi nghe bài hát của nhạc sĩ Lâm Thế Hiền thể hiện qua giọng ca của Đàm Vĩnh Hưng, một số người cảm thấy xúc động và hy vọng có một ngày sẽ làm nên phép mầu trong thân phận nghèo khó của mình. Đức tin Kitô giáo cũng dạy rằng sau cuộc đời này có một cuộc phán xét, trong đó ta có thể nhìn thấy tất cả cuộc đời khởi đi từ ánh sáng của Chúa. Trong giây phút đó ta sẽ biết chính mình cách trọn vẹn nhất và đón nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì ta đã từng tìm kiếm: một cuộc sống hiệp thông với Thiên Chúa hay một cuộc sống hoàn toàn vắng bóng Người. Cuộc sống thứ nhất ở bên trên tất cả những gì ta có thể tưởng tượng, được gọi là “Trời” hay “Thiên đàng”; còn cuộc sống thứ hai ở bên dưới gọi là “Địa ngục”. Tư tưởng này được minh họa rõ nét trong hai nhân vật: nhà phú hộ và người nghèo Ladarô ở đời này và đời sau.

a) Phú quý và bần cùng ở đời này

         Nhà phú hộ là một nhân vật vô danh, sống trong nhung lụa, ngày ngày yến tiệc linh đình, no say hả hê. Bản văn Tin Mừng không xác định các buổi tiệc có mời khách đến dự hay không. Điều đó giả định chỉ có những anh em thân thuộc của ông lui tới. Cả cuộc đời của ông đóng khung trong ranh giới gia đình. Ánh mắt ông chỉ hướng vào bên trong và vòng đai hoạt động của ông không vượt qua ngưỡng cửa ngôi nhà mình. Ông khép mình lại đối với người xung quanh, không cần bạn bè, không cần Thiên Chúa. Giá trị và hạnh phúc của cuộc đời ông là thỏa mãn những nhu cầu của bản thân ông. Tất cả những thứ khác chẳng có giá trị gì với ông. Ông không thấy Lazarô hiện diện, không quan tâm ngó ngàng gì tới. Ông chỉ sống cho riêng mình, cho những điều ông ham thích.

Bên dưới bậc thềm trước cửa nhà ông là một Ladarô khốn khổ, khốn khổ về thể lý – khố rách áo ôm, mình đầy lở loét và sắp chết đói – chỉ mong được ăn những mẩu bánh vụn từ bàn ông chủ rơi rụng xuống đất, thế mà hy vọng đó cũng bị vỡ tan. Ladarô còn bị khốn khổ về tinh thần, bị tất cả mọi người ruồng rẫy, lãng quên, trơ trọi một mình trong túng quẫn. Ngày tháng trôi qua vì đói khát nên anh đuối sức và không thể bước đi được nữa. Tình trạng khốn khổ này phát sinh ghẻ chốc phủ khắp người anh, lở loét thành những vết thương, biểu tượng cho đau đớn và sự vô cảm của con người. Anh chỉ có những con chó đến làm bạn, liếm lấy vết thương như muốn xoa dịu anh.

Đối với nhà phú hộ, số phận của Ladarô cơ cực chẳng khác gì loài chó, đáng nhận lấy miệt thị khinh chê. Nhưng trước mặt Chúa, phẩm giá của Ladarô được tôn trọng, đoái hoài như cái tên của anh có nghĩa là “Thiên Chúa trợ giúp”. Ladarô đặt tấm thân kiệt quệ, rỗng tuếch của mình trong bàn tay Chúa, với niềm mong chờ ơn cứu chữa đến từ Đấng duy nhất có thể an ủi anh trong cảnh thử thách và bị ruồng bỏ. Sự an ủi của Ngài sẽ có một giá trị vô biên, kéo dài sang thế giới bên kia và đi vào vĩnh cửu.

Cho tới lúc này toàn bộ câu chuyện dường như đều thuận lợi cho nhà phú hộ.

b) Trầm luân và hạnh phúc ở đời sau

          Ladarô đói ăn nên chết trước và đây chính là một bất hạnh cho ông nhà giàu, bởi vì ông bị tước đi cơ hội thương xót người nghèo. Ladarô không phải là kẻ ăn mày đã từng choán lấy bậc thềm nhà ông, nhưng là một cơ hội Chúa đã trao cho ông để yêu thương và nhờ đó mà hưởng ơn cứu độ. Ladarô trước đây nằm bất động với các vết thương trên mình, thì giờ đây “được các thiên thần đưa vào lòng ông Ápraham” (Lc 16,22). Người đã chẳng được ai đoái hoài mở cửa, thì bây giờ được hân hoan đón rước vào trong nhà Chúa.

“Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới âm phủ, đang phải chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Ápraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ” (Lc 16,22-23).

Cái chết của người giàu làm cho tình thế bị đảo ngược hoàn toàn. Người đã từ chối mở cửa và không đón nhận bất cứ hình thức tiếp đón nào thì giờ đây lãnh lấy một huyệt mồ và ở chốn vực sâu của địa ngục, bị đau khổ và hành hình. Chỉ khi phải chịu đau khổ về tội lỗi của mình thì ông mới biết hối hận. Sống giữa các cực hình, ông mới nhận ra Ladarô, mới nhớ lại quá khứ của ông và xin Ápraham một cử chỉ bác ái: “Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!” (Lc 16, 24).

Ngay cả sau khi chết, người giàu dường như vẫn còn coi Ladarô như tên đầy tớ để sai khiến nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của ông. Trong cuộc đời tại thế, ông đã khinh thường tình cảnh của Ladarô, bây giờ cũng yêu cầu sự giúp đỡ của anh cách tùy tiện, chỉ vì mình là người giàu có. Dường như cá tính của người ta vẫn còn giữ lại sau khi chết. Nếu khi còn sống là tiểu nhân thì chẳng hy vọng bước sang thế giới bên kia là đại nhân! Người giàu đã quên rằng người sai khiến là chính Chúa chứ không phải ông, ông đã được hầu hạ chỉ vì có nhiều của cải, có nhiều gia tài khi ở trên mặt đất. Đây là một thực tại đáng buồn mà anh nhà giàu chỉ ngộ ra sau khi chết.

Bây giờ cần đến giọt nước làm dịu mát cái lưỡi, ông cũng bị từ chối như ông đã từng từ chối cho Ladarô chút bánh vụn từ bàn ăn (nhưng Ladarô không hả hê hay thỏa mãn trước hình phạt của người phú hộ đã từng ruồng bỏ anh). Câu trả lời của Ápraham người nhân cách hóa tiếng nói của Thiên Chúa là tiếng nhắc nhở, không chỉ cho người phú hộ mà cho cả mỗi người chúng ta: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bấy giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ” (Lc 16,25).

Của cải nhận được từ Thiên Chúa phải được sử dụng để chăm sóc đau khổ và cái bất hạnh của người khác, chứ không chỉ nhắm đến những an ủi cho bản thân, nếu không nó sẽ trở thành một mối nguy, một cực hình hơn là một phúc lợi.

Sau khi xin ban phát một giọt nước mát cũng chẳng được, ông liền xin Ápraham sai bảo Lazarô trở lại thế gian để cảnh báo cho các anh em đừng phạm sai lầm như ông nữa. “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” (Lc 16,27-28).

Người ta không đánh mất ký ức sau cái chết. Ta có thể nhìn thấy tất cả cuộc đời của ta và nhớ lại mọi điều ta đã làm trong quá khứ. Tất cả những gì dù nhỏ bé được làm vì tình yêu đối với Chúa, đều được Chúa ghi nhận và đáp trả hoặc được làm vì ghen ghén, thù hận hoặc vô cảm thờ ơ cũng đều phải trả lẽ. Những việc làm và hành vi của ta có một giá trị vĩnh cửu là thế đó. Ápraham nói với người giàu đang ở giữa cực hình rằng không thể trở về cuộc sống hiện tại, đời người chỉ có một lần mà thôi (x. Dt 9,7). Những chọn lựa của chúng ta khi còn sống không thể nào bị thu hồi, không quay trở lại được nữa bởi vì có một vực thẳm sâu ngăn cách giữa người được cứu thoát và kẻ bị trừng phạt (x. Lc 19,26). Dòng đời của chúng ta trên trần gian này là độc nhất. Kitô giáo của chúng ta không tin và không chấp nhận có hiện tượng luân hồi, mặc dù thuyết luân hồi có những điều rất hấp dẫn.

“Ông Ápraham đáp: ‘Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó’. Ông nhà giàu nói: ‘Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối’. Ông Ápraham đáp:‘Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin’ (Lc 16,29-31).

Phần cuối cùng của dụ ngôn xem ra là lời mời gọi sống giây phút hiện tại hơn là tương lai. Người phú hộ bày tỏ lòng thương cảm đối với số phận của các anh em ông.

Rất nhiều người gặp khó khăn để tin vào sự phục sinh mai hậu như được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, nhưng nếu nhìn thấy người thân yêu, quen biết hoặc kẻ thù của họ trở về từ cõi chết, để cho biết cái gì đang chờ đợi ở đằng sau, thì họ rất dễ tin, vội tin, mê tín. Họ bỏ cả công ăn việc làm để đi hầu đồng, cầu cơ, mong nghe được những lời mách bảo của các vong linh về tương lai của họ. Lời của Ápraham rất hữu ích cho chúng ta: cho dù người chết hiện về báo tin thì người ấy chẳng nói điều gì khác với những điều chứa đựng trong Sách Thánh và mạc khải Kitô giáo đã được Hội thánh dạy dỗ. Nếu chúng ta muốn xác nhận có sự phục sinh của kẻ chết và sự hiện hữu của đời sống vĩnh hằng, chúng ta hãy nghĩ đến đoàn ngũ các thánh, từ các Tông đồ đến các vị tử đạo của thời đại chúng ta, những người đã hiến dâng mạng sống, chấp nhận đổ máu đào vì tình yêu Đức Kitô và Tin Mừng và vì niềm hy vọng vào đời sống trường tồn trong Thiên Chúa.

2. Thiên đàng Hỏa ngục hai bên: đối chiếu với quan niệm của Kitô giáo

Câu đồng dao trong trò chơi “Thiên đàng Hỏa ngục hai bên. Ai khôn thì dại ai dại thì khôn” của lũ trẻ miền quê (và các cháu mẫu giáo nhà các sơ) rất thích hợp với câu chuyện dụ ngôn này. Tình trạng của ông nhà giàu ở nơi âm phủ bị đày đọa và của Ladarô trong lòng tổ phụ Ápraham có phải là hình ảnh nói về thiên đàng và hỏa ngục của Kitô giáo không? Chúng ta cùng tìm hiểu thêm một chút về đề tài này.

a) “Lòng Tổ phụ Ápraham” phải chăng là Thiên đàng?

         Người Do Thái ngày xưa quan niệm rằng tất cả mọi người dù kẻ lành hay người dữ sau khi chết đều đi vào chốn âm phủ (Sheol) và bị Thiên Chúa lãng quên. Nhưng dần dần họ tin rằng trong cõi dành cho các vong linh ấy, người công chính sẽ được ở tầng trên cao, được hưởng hạnh phúc và an ủi, còn kẻ dữ ở bên dưới thì bị cực hình; hai bên hoàn toàn ngăn cách nhau bằng một vực thẳm. Sang giai đoạn thứ ba, một số vịnh gia xác tín rằng những người công chính sẽ được đưa ra khỏi nơi đó bởi vì “Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16).

Đến thế kỷ I, Do Thái giáo thời Rabbi tin rằng cuộc phán xét sau khi chết sẽ mở ra hai con đường: con đường đi vào vườn địa đàng (vườn Eden) ẩn dấu ở phía Đông trái đất hoặc ở trên trời dành cho người lành; còn con đường kia hướng về thung lũng Gehinnom dành cho kẻ bị kết án. Về số phận những người được cứu thoát, ngoài tư tưởng “địa đàng” còn có một chuỗi hình ảnh như: “kho tàng các linh hồn”, các linh hồn “chờ đợi dưới ngai Thiên Chúa”; những người công chính, đặc biệt những người tử đạo, được đón vào “lòng Tổ phụ Ápraham”.

Các sách Tân ước cũng tiếp tục tư tưởng của người Do Thái như được thấy trong Tin Mừng Luca, khi nhắc đến lời hứa của Đức Giêsu sẽ cho anh trộm lành được vào “thiên đàng” sau khi chết (Lc 23,43); sách Khải huyền nói đến linh hồn đang “chầu chực dưới bàn thờ Chúa” (Kh 6,9); và một lần nữa trong dụ ngôn người phú hộ và Ladarô, thánh Luca lấy lại hình ảnh “lòng Tổ phụ Ápraham” (Lc 16,19-20). Tuy nhiên Tân ước không chỉ dừng lại tư tưởng của Do Thái giáo, mà còn đi xa hơn nữa khi đặt Đức Kitô làm trung tâm của hạnh phúc đời sau. Chúng ta còn nhớ vị thánh tử đạo tiên khởi là Stêphanô trước lúc trút hơi thở cuối cùng đã cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con” (Cv 7,59). Đối với các Kitô hữu, những người công chính, nhất là các vị tử đạo sẽ được đón vào “lòng Đức Giêsu”, được hiệp thông với ngài sau khi chết. Nơi con người của Ngài là thiên đàng, là ánh sáng, là nước mát, là bình an vững bền. Đức Giêsu không bước ra từ lòng ông Ápraham mà từ cung lòng Thiên Chúa Cha (x. Ga 1,18). Người môn đệ kiểu mẫu là Gioan cũng dựa vào lòng Chúa Giêsu trong bữa tiệc vượt qua (x. Ga 13,23). Các tín hữu cũng sẽ được trú ẩn trong lòng Đức Giêsu và cuối cùng trong lòng Thiên Chúa Cha trong bữa tiệc thiên quốc[3].

Tuy có một số tác giả Kitô giáo đã nghĩ “lòng tổ phụ Ápraham” là một thành ngữ đồng nghĩa với “thiên đường” chứ không chỉ là một nơi hạnh phúc chưa trọn hảo, nhưng nhiều vị giáo phụ sử dụng hình ảnh này với nghĩa “ngục tổ tông”, nơi dành cho những người công chính đã chết trước Đức Kitô và những người không được tiếp nhận vào thiên đàng cho đến ngày họ được phục sinh. Giáo phụ Tertulianô và Hipolitô Romano coi “lòng tổ phụ Ápraham” như một phần của cõi Âm ty trong đó những người công chính đã chết chờ đợi ngày phán xét chung.

Bên Giáo hội Chính thống Đông phương, nhìn chung các tín hữu cũng tin rằng “lòng tổ phụ Ápraham” là một “nơi” khác với thiên đàng. Đối với niềm tin Kitô giáo, tình trạng của Ladarô trong “lòng tổ phụ Ápraham” cần phải hiểu là “thời gian ở giữa” cái chết và sự phục sinh thân xác của toàn thể nhân loại. Dù sao, trong nghi thức an táng, các tín hữu hay cầu xin các thiên thần dẫn đưa linh hồn những người thân yêu vào “lòng ông Ápraham” thì có thể hiểu đó là thiên đàng. Thật vậy, sau khi Chúa Giêsu chịu chết, Ngài đã xuống ngục Tổ tông để cứu vớt các Tổ phụ và những người công chính vào thiên đàng (x. 1Pr 3,18-19) và vì thế ông Ápraham cũng đang ở trên đó.

Bổ túc cho hình ảnh “lòng tổ phụ Ápraham”, Tân ước còn dùng nhiều dụ ngôn và hình ảnh khác để nói về cuộc sống vĩnh cửu đời sau: Với giới thương gia, Đức Giêsu ví Nước Trời như kho báuviên ngọc quý (x. Mt 13,44-46); với các ngư phủ, Nước Trời được ví như mẻ lưới đầy (x. Mt 13, 44-50); với các nông dân, Nước Trời được ví như mùa gặt dồi dào (x. Mt 13,23)…

Trong số những biểu tượng được sử dụng để diễn tả niềm vui và hạnh phúc của con người, có hai hình ảnh xuất hiện nhiều lần, đó là đám tiệchôn lễ (x. Mt 22,1-10; 25,1-10; Lc 12,35-38; 13,28-29; 14,16-24). Hai hình ảnh này làm nổi bật đặc tính cộng đoàn. Ai cũng có thể ăn uống một mình, nhưng đã là “tiệc” thì phải có ba bốn người trở lên! Niềm vui sẽ nhân lên nếu được chia sẻ cho nhiều người. Tất nhiên hình ảnh bữa tiệc không muốn nói rằng cuộc sống đời sau vẫn còn nhu cầu ăn uống để duy trì sự sống bản thân, và hình ảnh đám cưới không ngụ ý đến sinh hoạt truyền sinh để duy trì giới tính và chủng loại trên thiên quốc.

Sách Khải huyền còn sử dụng hình ảnh thành đô (Kh 21,9tt) để nói về Nước Thiên Chúa vào thời cánh chung. Niềm vui và hạnh phúc không chỉ diễn ra trong tâm hồn của mỗi người, nhưng còn tràn ngập cả những tương quan của con người với xã hội và vũ trụ. Cả những công trình, những thành tựu của con người đạt được bằng đức ái, bằng tình thương sẽ cùng tồn tại với chúng ta trong thành đô thiên quốc[4].

b) Chốn cực hình của người phú hộ phải chăng là Hỏa ngục?

         Như đã nói trên, người Do Thái thời Cựu ước tin rằng sau khi chết tất cả mọi người dù tốt dù xấu đều bị giam trong một Âm ty hay Âm phủ (Sheol). Âm ty là chỗ tối tăm, vực sâu thinh lặng ở trong lòng đất (Tv 94,17), bị người đời lãng quên (Tv 31,13; 41, 6) và Thiên Chúa cũng không còn nhớ đến (Tv 88, 6.11; G 14,13). Âm ty cũng được hiểu là huyệt mồ chôn cất người chết (Tv 88) hoặc nơi đoàn tụ mọi người quá cố trong gia đình (x. St 49, 33; G 30, 23). Điều này được phản ánh qua câu chuyện ông Giacóp muốn đi xuống Sheol để gặp lại cậu Giuse khi nghe tin đứa con yêu quý đã bị giết chết, dù ông không biết xác con mình chôn ở đâu (St 37,35). Âm ty cũng có khi được mô tả như cái ngục có nhiều cửa (Is 38,10; Mt 16,18), có xiềng xích (Kh 1,18) không ai có thể thoát ra khỏi đó (G 7, 9; 10, 21, vv). Người Do Thái cũng tin rằng dưới đáy âm ty là nơi giam giữ phương gian ác bất lương (Ed 32, 22; Is 14, 15).

Sang thời Tân ước, Âm ty là nơi giam giữ các vong nhân trong khi chờ đợi sự phán xét chung và sống lại. Sau đó, nó sẽ bị phá hủy còn những người xấu sẽ được chuyển qua Hỏa ngục (ge-hinnom). Vì thế trong nhãn quan Kitô giáo, ta có thể nói ông phú hộ sau khi chết bị đưa xuống Âm ty, chứ chưa hẳn là Hỏa ngục, mặc dù giữa hai bên có một vực thẳm ngăn cách quá đỗi lớn lao. Hỏa ngục là một tình trạng mà trọng tâm là hận thù, cố chấp, tuyệt vọng, hoàn toàn vắng bóng tình thương. “Hỏa ngục chính là tình trạng con người dứt khoát tự loại trừ khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và chư thánh” (GLHTCG số 1033). Và như thế, ắt sẽ không có những dấu hiệu bày tỏ niềm thương cảm với người còn sống, ít là với người thân; không có sự khẩn khoản van xin thật tình của một người đã thất bại trong lối sống ích kỷ, nhẫn tâm, trước một người đáng trân trọng như cha của mình là Ápraham (x. Lc 16,23.28).

Nếu dụ ngôn không đề cập đến hỏa ngục của Kitô giáo, phải chăng nó không hiện hữu?

Thiên Chúa là nguồn của sự sống và tình yêu. Ngài tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp và trang bị cho con người những phẩm giá cao quý, nhất là sự tự do, để cho nó được quyền chọn lựa và quyết định đón nhận hay chối từ sự sống và tình yêu của Chúa. Được ở bên Chúa, sống trong tình yêu vô biên của Chúa là có tất cả, và đó là thiên đường! Ngài không muốn có hỏa ngục, Ngài không đặt ra trước mặt chúng ta thiên đàng và hỏa ngục như hai quê hương tương đương với nhau để cho chúng ta tự do lựa chọn một trong hai, như có người nói: “Thiên đàng hỏa ngục đôi quê. Ai khôn thì về ai dại thì sa”. Hỏa ngục hiện hữu vì là mặt trái của thiên đàng, giống như mặt trái của một bức tranh thêu. Niềm tin có hỏa ngục được hình thành sau niềm tin có sự phục sinh. Ở trong Chúa là thiên đàng, mất Chúa là hỏa ngục.

Chúa Giêsu sử dụng một số kiểu nói và từ ngữ khác nhau để diễn đạt hình phạt đời đời dành cho những người mất ơn nghĩa với Chúa: một đàng, họ bị loại trừ không được gần gũi Chúa; đàng khác, họ phải lãnh lấy các cực hình.

Sự mất mát xuất phát từ việc bị tước mất hạnh phúc với Chúa, bị tống ra bên ngoài (x. Lc 13,23-24), ra khỏi bàn tiệc với Chúa, mất sự sống (x. Mc 8,35; Mt 10,28) không được Chúa biết đến (x. Mt 7,23). Thay vì được “ở với Đức Kitô”, với chàng rể, các cô khờ dại bị Người khước từ vĩnh viễn “Tôi không biết các cô” (Mt 25,12). Thay vì được thông dự vào Nước Chúa, họ bị trục xuất ra ngoài bên ngoài. Thay vì đến gần Thiên Chúa là sự sáng, họ bị đuổi đi cho khuất mắt và vào nơi tối tăm. Thay vì tụ họp vui vẻ bên bàn tiệc với những kẻ công chính, họ bị tách xa một mình trống rỗng, vô nghĩa và tuyệt vọng.

Về những cực hình muôn kiếp dành cho kẻ tội lỗi, Chúa Giêsu cũng dùng một số hình ảnh quen thuộc với người Do Thái: bị ném vào lò lửa bốc cháy (x. Mt 13,50); lò lửa đời đời (x. Mt 18,9); lửa không hề tắt (x. Mc 9,43.48); dòi bọ không hề chết (x. Is 66,24; Mc 9,48); khóc lóc và nghiến răng (x. Mt 13,42); hồ lửa với diêm sinh ngùn ngụt (Kh 19,20); sự chết lần thứ hai ở trong hồ diêm sinh bốc cháy (Kh 20,10.15; 21,8). Những hình ảnh này không nên hiểu theo nghĩa đen, nhưng hàm ý rằng hình phạt muôn kiếp là một điều cực kỳ đau đớn: bị phạt trong lửa (dấu hiệu của sự tàn phá); bị giòi bọ rúc rỉa (dấu hiệu của sự hư nát). Người Do Thái lúc bấy giờ thường thiêu hủy rác rưởi tại thung lũng Hinnom, một nơi đã từng là tế đàn cúng tế thần Môlốc và Baan của dân ngoại Canaan bao gồm việc sát tế các trẻ em, nên đã hiểu được điều đó.

 Thường thường, người ta chỉ chú ý đến những “cực hình” bị lửa thiêng nung nấu mà tội nhân phải chịu trong hỏa ngục, chứ không quan tâm nhiều đến sự “mất Chúa”. Phật giáo, các tôn giáo và văn hóa Đông phương cũng thường quan niệm về địa ngục bằng các hình phạt nung nấu dữ dằn không bao giờ gián đoạn, và như thế không làm nổi bật đặc điểm của Kitô giáo. Nhưng Hội thánh Công giáo dạy: “Hỏa ngục chính là tình trạng con người dứt khoát tự loại trừ khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và chư thánh” (GLHTCG số 1033). Cứu cánh cuộc đời nhằm đạt tới hạnh phúc, và hạnh phúc ở chỗ được thông hiệp vào sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, khi mất Thiên Chúa thì cũng mất hạnh phúc, và mất cứu cánh. “Sự mất mát này gọi là hình phạt đời đời” (GLHTCG số 1472); không thể có chuyện một người bị kết án vĩnh viễn lại có thể bước vào thiên quốc. Đây là sự “thất bại” to lớn vượt hết mức tưởng tượng.

Kết

Thiên Chúa là Cha và là Đấng Sáng tạo. Ngài không tiêu diệt các thụ tạo Ngài đã dựng nên, nhưng sẽ ban cho mỗi loài những gì nó khát khao, đời này và đời sau. Ngài muốn cho ta được hạnh phúc, được ơn cứu độ, nhưng vẫn luôn tôn trọng tự do của ta.

Ladarô được đưa về thiên đàng, vào cung lòng của Ápraham không phải vì đã sống một cuộc đời nghèo khó, nhưng là do ân sủng của Chúa và niềm tín thác vào Chúa. Chính Ápraham đã từng là một người rất giàu có sung túc, nhưng ông cũng là người có đức tin mạnh mẽ và tình yêu sống động với Thiên Chúa. Cho dù được cứu độ hoàn toàn do ân sủng (sola gratia) những người nghèo của Thiên Chúa như Ladarô cũng cần phải trả lời cho Tin mừng Luca rằng Thiên Chúa nâng cao người thấp hèn trong cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu (x. Lc 16,31)[5]. Cũng vậy, người phú hộ bị kết án không phải vì có của cải dư thừa, giàu sang phú quý, nhưng là vì lơ là trước lời dạy của Sách Thánh, của Môsê và các Ngôn sứ, không biết sống yêu thương và hiệp thông với Chúa và người lân cận, mà chỉ biết đến bản thân mình mà thôi.

Sứ điệp của dụ ngôn này không phải là lời mời gọi chúng ta trở nên người nghèo vật chất như Ladarô. Sứ điệp đó là gì? Nếu chúng ta là những người giàu về của cải, khả năng, trí tuệ, sức khỏe, ngoại hình, ơn thánh,… biết lắng nghe và làm theo giáo huấn của Tin mừng và Cựu ước, biết quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với những người bên cạnh yếu kém hơn chúng ta về thể lý và tinh thần như Ladarô, thì chúng ta sẽ được một chỗ trong bàn tiệc Thiên sai. Nếu chúng ta là người nghèo về mọi mặt, thì xin Chúa cũng cho chúng ta biết sống tinh thần khiêm tốn, phó thác, tin tưởng, ngoan thảo, hiền hòa trước những lời dạy dỗ của Chúa, những vị ngôn sứ, những người thay tiếng nói của Chúa… để một ngày kia, sau khi kết thúc cuộc đời bước theo Chúa, chúng ta được các thiên thần đón về với Đức Kitô, người thầy và người bạn chí thánh của chúng ta, tiến sâu vào cung lòng của Ba Ngôi và tham dự bữa tiệc Thiên quốc chan chứa tình thương đến thiên thu, vạn đại.

Sr. Maria Đinh Thị Sáng OP



[1] Tìm hiểu ngữ cảnh của đoạn Tin Mừng, ta thấy dụ ngôn này nằm trong phần II của trình thuật Chúa Giêsu lên Giêrusalem (9,51-19,27). Trên con đường này, Ngài dạy các môn đệ về ý nghĩa của Đạo (x. Cv 9,2; 18,26; 24,22), một con đường đưa đến sự sống ngang qua cái chết Thập giá, thể hiện cách cụ thể là thái độ sẵn sàng từ bỏ những ước vọng và phú quý vinh hoa vì Nước Trời. Riêng chương 16 gồm có 2 dụ ngôn và những lời huấn dụ, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải chia sẻ của cải cho những ai túng thiếu. Qua dụ ngôn thứ nhất, người quản gia bất lương, Ngài nhắn nhủ các môn đệ phải biết sử dụng tiền bạc để làm việc bác ái, mưu ích cho tha nhân. Nếu họ biết trung tín trong việc chia sẻ của cải trần thế, thì sẽ được trao cho của cải trên trời (16,1-13). Tất cả các tín hữu trong cộng đoàn, cả những người có chút địa vị như người Pharisêu, cần phải tránh xa lòng ham hố tiền bạc và những quyến luyến khác để được vào Nước Trời (Lc 16,14-18). Đề tài này được tiếp tục qua dụ ngôn thứ hai người phú hộ và anh Ladarô hàng xóm nghèo khổ (16,19-31).

[2] Xem Joseph Ratzinger, Cánh chung luận. Sự chết và đời sống vĩnh cửu, NXB Tôn Giáo 2013, tr. 155.

[3] Xem Joseph Ratzinger, Cánh chung luận, tr. 156.

[4] Xem Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et spes, số 39.

[5] Xem Raymond Brown – Joseph Fitzinger – Roland E. Murphy, The New Jerome Biblical Commentary, Prentice Hill 1990, tr. 708-709.

Comments are closed.