Giáo án khối Vào đời – Năm I – Bài 11

0

Bài 11 :  SÁCH TIN MỪNG THEO THÁNH LUCA

I.  N ĐỊNH 

1. Thánh hoá:

2. Ôn bài cũ:

3. Dn vào bài mi:

Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tin Mừng thứ ba – Đó là Tin Mừng của ai? Chính là của Luca. Để có thể tiếp thu bài học hôm nay thật tốt, mời các em – chúng ta cùng lắng nghe Lời Chúa.

II. CÔNG B LI CHÚA

– Lời Chúa trong Tin Mừng Lc 15,4-7

(Gợi ý:)

Các em thân mến,
Chúa Giêsu đã đến để tìm và cứu những gì đã hư mất. Lời Chúa mà chúng ta vừa nghe giúp chúng ta suy nghĩ: mỗi người được Chúa tạo dựng mang tính độc nhất vô nhị và với tư cách đó, phải được yêu thương và nâng đỡ, không thể để cho – dầu chỉ một người bé mọn phải hư mất. Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra lòng nhân hậu, thương xót vô biên của Chúa mà thánh sử Luca diễn tả trong Tin Mừng của ngài, để thay đổi nếp sống và cùng kiến tại nền văn minh tình thương.
(Mi các em ngi)

III. DIN GING :

1. Tác gi:

Ngay từ thời giáo hội sơ khai, người ta đã kết luận rằng: Sách Tin Mừng (thứ ba) và sách Công Vụ là cùng một tác giả. Khoa chú giải hiện đại đã công nhận điểm này trên cơ sở ngôn ngữ và tư tưởng của cả hai tác phẩm là đồng nhất, cũng như mục tiêu cả hai cân đối với nhau. Đàng khác theo một truyền thống đã có từ cuối thế kỷ II, theo Thánh Irênê thì tác giả Tin Mừng thứ ba chính là người thầy thuốc Luca mà thánh Phaolô nói tới ở Cl 4,14; Plm 24; 2 Tm 4,11. Luca là người Xy-ri-a xứ An-ti-ô-khi-a, gốc dân ngoại, được ơn trở lại ở An-ti-o-khi-a và qua đời bên Hy Lạp.

Luca là môn đệ và là bạn đồng hành của Thánh Phaolô (Cl 4,14; Tm 4,11) . Luca không được nhìn tận mắt Đức Giêsu mà chỉ tin nhận Người là Chúa vinh quang qua khuôn mặt của Đấng phục sinh.

– Giáo Hội mừng lễ Thánh Luca vào ngày 18.10. hàng năm.

2. Thi gian & mc đích biên son

a/ Thi gian:

Muốn biết thời gian biên soạn sách Tin Mừng thứ ba phải dựa vào thời kỳ Giêrusalem bị quân đội Roma tàn phá, dưới quyền chỉ huy của tướng Ti-tút. Dường như Luca có biết thời kỳ Giêrusalem bị bao vây và tàn phá vào năm 70 (x 19,43-44; 21,20.24). Như vậy sách phải được viết sau thời gian này; Các nhà chú giải hiện nay cho là vào thập niên 80-90, nhưng cũng có một số nhà thần học cho là sớm hơn, có thể là khoảng 70-80.

b/ Mc đích:

Trong lời tựa của Luca Lc 1, 1 – 4 đã giải thích mục đích và phương pháp ông dùng để biên soạn Tin Mừng. Ngài cho biết sẽ “tường thuật những điều đã được thực hiện giữa chúng ta”, có nghĩa là tường thuật cuộc đời Đức Giêsu và thời kỳ thành lập Giáo Hội. Tác giả không phải là người đầu tiên làm công việc này mà đã có những vị đi trước (có lẽ ám chỉ Mác-cô), nên ngài dựa vào “truyền thống” của “những người đã được chứng kiến ngay tđầu và đã phục vụ Lời Chúa”, nghĩa là những người đang rao giảng Tin Mừng và trước hết là các Tông đồ.

Luca đề tặng tác phẩm của mình cho Thê-ô-phi-lô – nhưng hình như qua nhân vật này, tác giả muốn viết cho các tín hữu từ dân ngoại trở lại và có văn hóa Hy Lạp. Có nhiều dấu chỉ cho thấy điều đó:  việc giải thích về địa lý Pa-lét-ti-na (1,26; 2,4; 4,31) và các phong tục Do Thái (1,9; 2,23; 22,1.7), quan tâm đến dân ngoại và nhấn mạnh đến thể xác có thực của Đấng Phục sinh, điều mà người Hy Lạp khó chấp nhận (Cv17,32; 1Cr 15).

3.  B cc và đặc đim ca Tin Mng Luca:

a/ B cc:

Sách Tin Mừng theo Thánh Luca gồm 24 đoạn, 1149 câu. Sau lời tựa Luca cũng theo một dàn bài đại cương giống Mt và Mc:

1/ Thời thơ ấu: Ông gioan Tẩy giả và Đức Giêsu sinh ra và sống ẩn dật (1,5 – 2,52)

2/ Đức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mệnh (3,1 – 4,13)

3/ Đức Giêsu rao giảng tại miền Ga-li-lê-a (4,14 – 9,50)

4/ Đức Giêsu lên Giêrusalem và rao giảng tại đó (9,51 – 21,38)

5/ Thương khó và Phục sinh (22 – 24)

b/ Đặc điểm: Tin Mừng Luca là “hiện đại” nhất trong các Tin Mừng.

  • Văn phong:

Là một sử gia, Luca quan tâm định vị những biến cố trong lịch sử (2,1-3; 3,1-2). Tuy nhiên lịch sử mà Luca muốn trình bày là lịch sử thánh, bởi vì các nhân chứng mà ngài tham khảo là những người rao giảng Lời Chúa.

Là một văn sĩ lỗi lạc, Luca thông thạo văn hóa Hy Lạp, sử dụng khá thành thạo ngôn ngữ Hy Lạp người ta quen dùng thời đó một cách chính xác, vững vàng. Tác phẩm có nhiều ưu điểm: lời văn sáng sủa, mạch lạc, nhuần nhuyễn một cách linh động theo những đề tài khác nhau. Cách trình bày có trật tự và nghệ thuật, phác họa nét độc đáo của cốt truyện. Ngôn ngữ của Luca phong phú nhất trong các sách Tân Ước. Nhiều đoạn được xem như một kiệt tác văn chương. Vd: Dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (15 );  “Hai Môn Đệ Trên Đường Emmau” (24), có thể nói là những kiệt tác văn chương và có giá trị không thua gì những áng văn bất hủ trong kho tàng văn chương của nhân loại.

Luca tập trung những giáo huấn quan trọng của Đức Giêsu trong hành trình dài gọi là Hành Trình Lên Giêrusalem. Trong TM Luca, cuộc đời Đức Giêsu khởi sự từ Galilê và kết thúc tại Giêrusalem. Như thế, trong tác phm ca Luca, Giêrusalem không nhng là trung tâm địa lý quy t mi tín hu, mà còn là trung tâm thn hc, nơi ơn cu độ toàn thành và từ đó được rao truyn thế gii.

Luca thích gộp lại thành đôi các dụ ngôn (13,18-21;14,28-32;15,4-10) và các châm ngôn (4,25-27;11,31-32;13, 1-5; 17,26-30)

Luca tỏ ra tế nhị, nhất là khi chạm đến Đức Giêsu: tránh những kiểu nói đôi khi cứng cỏi của Mc (4,11; 8,24.28.45), và dành cho môn đệ một công thức riêng để nói với Thầy mình (5,5; 8,24; 9, 33.49).

Là một thầy thuốc nên Luca viết về bệnh tật cách chính xác (Cl 4,4; Plm 24; 2 Tm 4,11) .

  • Đề cao lòng nhân hu:

Một trong những nét thần học nổi bật trong TM Luca, đó là lòng nhân hậu của Thiên Chúa đối với con người, đặc biệt là lớp người bị kỳ thị, khinh miệt: tội nhân, phụ nữ. Các tội nhân chiếm chỗ nhất trong con tim Đức Giêsu: Lc 15 ghi lại 3 dụ ngôn: Chiên lạc, đồng bạc bị mất, người cha nhân hậu. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu (10, 29 – 37); Người trộm lành (23,34); Cây vả không sinh trái (13) v.v.

Thánh Luca được tặng danh hiệu là: “Văn sĩ ca tng lòng nhân t và khoan dung ca Đức Kitô” (Dante),  vì Tác giả đã dành cho những người nghèo khổ, ốm đau, tội lỗi và phụ nữ một chỗ đặc biệt với những lời lẽ ngọt ngào đầy an ủi từ miệng Đức Giêsu.

  • Đề cao vai trò ca Chúa Thánh Thn:

Trong TM Luca, sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần rất rõ rệt nơi một số nhân vật có sứ mệnh đặc biệt như Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu: Đức Giêsu Nhập Thể do quyền năng của Thánh Thần(1,35-37); Thánh Thần linh hứng cho bà Elisabeth (1,41-45); Ông Simeon được Thần Khí thúc đẩy lên Đền Thờ (2,26-27)

Sau khi sống lại Đức Giêsu căn dặn các môn đệ hãy ở lại thành Giêrusalem để đón nhận Thánh Thần mà Chúa Cha đã hứa (Lc 24,49). Thánh Thần đã ngự xuống trên các môn đệ (Cv 2,1-4)

Luca đã ghi nhận sức mạnh Thánh Thần trong lời giảng dạy, và nhất là trong các phép lạ Đức Giêsu làm để chữa lành bệnh tật hồn xác cho con người; cũng như sự hiện diện của Thánh Thần trong cuộc sống người môn đệ, nhất là gặp thử thách.

  • Tin Mng ca Nim vui và cu nguyn:

Trong TM Luca, niềm vui là nét nổi bật trong các trình thuật, từ biến cố Gioan Tẩy giả sinh ra đến biến cố Thiên Thần truyền tin cho Đức Maria; Thiên Thần truyền tin cho các mục đồng..

Niềm vui của các môn đệ sau chuyến hành trình truyền giáo và Đức Giêsu cũng vui mừng với các ông… Niềm vui của các môn đệ thật lớn lao khi Đức Giêsu về trời… Họ trở về Giêrusalem lòng tràn ngập vui sướng, ngày ngày tụ tập trong đền thờ ngợi khen Thiên Chúa.

Luca cũng nêu bật Đức Giêsu là con người cầu nguyện và gương mẫu của cầu nguyện, chẳng hạn Người cầu nguyện trước khi hóa bánh ra nhiều, trong Bữa Tiệc ly, trong vườn Cây Dầu… Luca cho thấy Đức Giêsu cầu nguyện trong rất nhiều trường hợp.

Cu nguyn và tìm vào nơi thanh vng cu nguyn là kiu cách ca Đức Giêsu khi đầu và kết thúc các sinh hot quan trng trong cuc đời (x Lc 3,21; 5,1b; 6; 9,29; 10; 11; 22,32; 23,34; 24)

4. Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì bài học Tin Mừng Luca hôm nay, Tin Mừng của lòng nhân hậu Chúa. Xin cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu thương lớn lao Chúa dành cho từng người chúng con một cách rất riêng biệt, để chúng con nhận ra tình trạng tội lỗi của mình, và can đảm thưa với Chúa như người con hoang đàng: “Con thật đắc tội với Trời và với cha” – để đón nhận ơn tha thứ của Chúa.

III. SNG LI CHÚA

1. Bài hc: theo sách thủ bản.

2. Gi ý thc hành: Mỗi ngày, em hãy dành vài phút thinh lặng, nhắm mắt, và nói chậm câu: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho nhận ra lòng nhân hậu xót thương của Chúa!” (3 lần). Nếu em làm đúng, chắc chắn em sẽ cảm thấy vui vì tin rằng Chúa rất yêu thương em.

IV.  Kết:

 Sr. Têrêsa Nguyễn Thị Phượng

Comments are closed.