Luật mới và luật cũ

0

Chúa Nhật VI Thường Niên A

LUẬT MỚI VÀ LUẬT CŨ

Mt 5, 17-37

I. Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) cc. 17-20: Đức Giêsu mạc khải ý muốn của Thiên Chúa

2) cc. 21-37: Đức Giêsu dạy về cách cư xử với người thân cận

II. Tìm hiểu bản văn               

1. Đức Giêsu và lề luật (cc. 17-20)

Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Thành ngữ “kiện toàn” có hai nghĩa:

a/ Làm cho ứng nghiệm: Có thể hiểu theo nghĩa này vì hai lý do: lý do truyền thống và nỗi bận tâm của thánh sử Mt.

Truyền thống: một trong những điều cổ nhất mà người ta tuyên xưng do đức tin, quả quyết rằng: Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Ngài đã được mai táng và ngày thứ ba đã sống lại đúng như lời Kinh Thánh. Niềm xác tín rằng Đức Kitô làm trọn Kinh Thánh đã ăn rễ sâu trong ý thức Kitô giáo, niềm tin ấy là yếu tố cấu thành đức tin của cộng đoàn tiên khởi.

Nỗi bận tâm của Mt: trong suốt Tin Mừng của Mt, thánh sử luôn nhấn mạnh Đức Kitô làm trọn Thánh Kinh, có nghĩa là làm cho Thánh Kinh ứng nghiệm.

b/ Làm cho đầy, làm trọn: trong đoạn Tin Mừng này thì nghĩa thứ hai rõ hơn, vì ở đây Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng không được bỏ điều nào mà phải giữ hết. Giữ cách triệt để, giữ hết, giữ trọn vẹn đến một chấm, một phết cũng không được bỏ đi.

  • Triệt để tới độ không những tòa án lên án tội giết người (c. 21) mà còn lên án cả người giận anh em, gia hình hỏa ngục cả những người mắng nhiếc anh em (c. 22).
  • Triệt để không những phải xin lỗi người mình xúc phạm mà còn phải tự mình đến làm hòa với người đó (cc. 23-26).
  • Triệt để đến độ nhìn người phụ nữ mà mới thèm muốn trong lòng đã bị coi phạm tội ngoại tình (cc. 27-28).
  • Triệt để đến nỗi phải dứt bỏ mọi cái gây nên dịp tội, ngay đến tay, mắt của mình cũng không từ.
  • Triệt để đến độ tuyệt đối không được ly dị.
  • Triệt để không được thề (cc. 33-37).

Trước khi…cũng không bỏ đi được”: câu này không thể hiểu theo nghĩa chữ, vậy phải hiểu theo nghĩa nào? Khi đạt được tinh thần luật như Đức Giêsu đưa ra, thì luật Môsê tức khắc sẽ giữ trọn tinh thần luật đó là tinh thần yêu thương. Luật yêu thương của Chúa Giêsu đòi người ta phải yêu mến cả kẻ thù, đến độ phải hiến mạng sống của mình cho người mình yêu.

2. Đức Giêsu dạy về cách cư xử với người thân cận (21-37)

Thành ngữ nào được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn này? Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng…và “Còn Thầy, Thầy bảo anh em” được nhắc lại 6 lần (5,22.28.32.34.39.41). Điều này cho thấy lời nói của Chúa Giêsu nói với uy quyền của Thiên Chúa, để giải thích đâu là lối cư xử phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Ngài muốn họ phải sống một sự công chính “dồi dào” hơn các kinh sư và người Pharisêu (c. 20). Nhưng “hơn” đây là đi xa hơn trong việc tuân giữ cốt lõi của Luật (x. cc. 38-48: điều răn yêu thương), các môn đệ không hoàn tất Luật theo cách vị luật, nhưng bằng con tim (Mt 23,25-28; x. 5,27-28), như những người con của Cha trên trời (5,45-48).

Trong các giáo huấn, Chúa Giêsu đưa ra mấy tương quan? Hai tương quan

  • Huynh đệ cc. 21-26
  • Nam nữ cc. 27-31

Tương quan huynh đệ: từ anh em dùng ở cc. 21-26 là ai? Là mọi người, vì tất cả đều là con một Cha trên trời.

  • Khổng Tử cũng coi mọi người là anh em vì là con người, trong con người mang chữ nhân.
  • Kitô giáo: mọi người là con Thiên Chúa. Như vậy, Chúa Giêsu đòi các môn đệ đối xử với mọi người như anh em, có nghĩa là không những không được thù ghét mà còn phải coi họ như anh em, phải làm hòa trước dù họ có lỗi với ta.

Bằng các ví dụ (5,23-25), Đức Giêsu trình bày hình thức tích cực nên theo để vượt qua các xung đột, đó là sự hòa giải, và Ngài nêu bật ý nghĩa của việc hòa giải. Để hòa giải, Ngài nói thậm chí phải ngưng dâng lễ vật, điều này cho thấy tầm quan trọng, tính ưu tiên của việc hòa giải. Nếu người ta phải nhắm hòa giải cho được trong khi đi đường tiến về tòa án, điều này cho thấy hòa giải là chuyện cấp bách và cần thiết, và bõ công để người ta ra sức đạt cho được. Tiến trình mà Đức Giêsu đề nghị để thắng vượt các xung đột là tiến trình của tình yêu và hòa giải. Dĩ nhiên, để hòa giải được, cần phải có hai hoặc nhiều người, và không phải chỉ cần một bên đồng ý là được nhưng nó giả thiết có sự sẵn sàng của cả bên kia. Mỗi bên phải ra sức làm tối đa để đạt được sự hòa giải. Phần nói về đức công chính mới chính là một tiếng gọi duy nhất thúc bách người ta đi tới hòa giải và tình bằng hữu với người thân cận.

Tương quan nam nữ:

Ngoại tình: có phải Chúa Giêsu lên án vì cảm tình đối với người khác hay không? Chúa Giêsu muốn chú ý đến sự nguy hiểm cho điều thèm muốn đó.

Người phụ nữ ở đây là người đàn bà đang có chồng. Chúa đặc biệt chú ý đến trường hợp này, vì hậu quả liên quan đến nhiều người: chồng, con cái, phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác, và diệt trừ tội lỗi ngay trong lòng mình.

Còn đối với những người chưa lập gia đình, sự thu hút của người khác phái, theo sinh vật học, đó là bản năng sinh tồn, không có tội. Còn thèm muốn để phạm tội dĩ nhiên có tội.

cc. 27-30 nói đến cách cư xử đối với phụ nữ, đối với vợ người khác.

cc. 31-32 nói đến cách cư xử đối với vợ của mình.  

Lời khuyến khích thà móc mắt phải và chặt tay phải được hiểu như thế nào? Dĩ nhiên, không được hiểu các lời này sát mặt chữ, vì không phải là con mắt phạm tội, nhưng là ý chí của mình! Chúa Giêsu muốn nói rằng chúng ta không được bỏ mặc các giác quan của chúng ta cho ý chí, nhưng phải hướng dẫn cách sử dụng chúng cho có trách nhiệm.

Sau khi nói đến hai mối tương quan, Chúa Giêsu đề cập đến sự thật (cc. 33-37). Lời nói và mọi hình thái truyền thông có thể được sử dụng không những để truyền tải sự thật, mà còn để lừa dối. Sự thiệt hại cho tha nhân do những lời dối trá, lừa đảo và không giữ lời hứa là nghiêm trọng. Để ngăn chặn được thiệt hại này, người ta thề. Nhưng bởi vì ở đây cũng lại có thể phát sinh vấn đề dối trá, mới có lệnh cấm nghiêm khắc không được thề gian. Qua việc thề, người ta muốn diễn tả là chính Thiên Chúa, là Đấng tuyệt đối chân thật và chắc chắn không lừa dối, có thể làm chứng cho sự thật của lời khẳng định của chúng ta hoặc sự khả tín của lời chúng ta hứa; do đó người ta có thể tín nhiệm. Đồng thời ai nại dến Thiên Chúa để làm chứng cách dối trá, thì bị phạt.

Ngược lại, Chúa Giêsu bảo “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không” (x. Gc 5,12); Ngài yêu cầu một dây liên kết vững bền và trực tiếp với sự thật, không cần nại đến bất cứ hình thái lời thề nào. Thiên Chúa không có việc gì mà phải đóng vai làm chứng và càng không đóng vai người hù dọa kẻ khác bằng hình phạt. Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối chân thật và tuyệt đối xứng đáng với niềm tin của chúng ta. Nơi chúng ta, không được có sự khác biệt giữa những gì đang có trong thâm tâm ta dưới dạng kiến thức, ý kiến, ý hướng… và những gì chúng ta tỏ ra bên ngoài. Như thế ta công nhận sự thật, và tha nhân tránh khỏi thiệt hại.

Suy thêm

1/ Tôi có thái độ nào đối với lề luật?

2/ Tôi đã từng đối xử với tha nhân như thế nào?

3/ Theo tinh thần của Chúa, tôi phải điều chỉnh lời nói của tôi đối với người khác như thế nào?

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh

——————-
Tài liệu tham khảo

1/ Phêrô Phạm Hữu Lai, “Luật mới và luật cũ”, Chia sẻ Tin Mừng Chúa Nhật năm A, tr. 132-135.

2/ Chú giải của Noel Quesson.

3/ Vũ Phan Long, “Thứ bậc các giá trị theo Đức Giêsu”, Các bài Tin Mừng Mattheu dùng trong phụng vụ, Tôn giáo, 2007, tr.114-124.

Comments are closed.