Ơn huệ và lệnh truyền

0

ƠN HUỆ và LỆNH TRUYỀN

(St 2, 16-17 ; 3, 1-7)

1. Lệnh truyền : « Hết mọi cây trong vườn, ngươi có thể ăn; nhưng… » (2, 16-17)

Lệnh truyền trong bản văn St 2 tương đương với sứ mạng thống trị thú tính, nghĩa là lòng ham muốn, được diễn tả ngang qua hình ảnh loài vật trong St 1, 28; Hc 17, 4 và Tv 8, 6-9; như thánh Phao-lô nói trong thư Roma: “ngươi không được ham muốn”. Chính trong mức độ con người thống trị thú tính, được đặc trưng bởi lòng ham muốn, con người sống nhân tính của mình, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Và để sống sứ mạng này, con người phải dựa vào kinh nghiệm về ơn huệ và tình yêu của Thiên Chúa. Thực vậy, Thiên Chúa luôn ban ơn trước; và ở đây ngay trong lệnh truyền, ơn huệ cũng đi trước lệnh cấm:

ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.”

Đó chính cách hành động của Thiên Chúa trong sáng tạo và trong lịch sử cứu độ. Chiều kích nhưng không và quảng đại của ơn huệ còn được nêu bật bởi sự kiện: việc trồng vườn Eden và đưa con người vào đó, được mô tả như những ơn huệ « dư tràn », chất thêm vào ơn huệ sáng tạo ra con người. « Cầm tay » con người và « dẫn vào » (2, 15): đó là một tiến trình gợi lại việc đưa dân được tuyển chọn vào Ðất Hứa. Chúng ta cũng có thể hiểu như vậy trong hành trình làm người, và trong hành trình ơn gọi của chúng ta, ơn gọi đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, ơn gọi sống đời dâng hiến, hay ơn gọi sống đời hôn nhân.

Ở nguồn sự sống, luôn luôn là ân huệ nhưng không tuyệt đối ; điều này đúng ở thời điểm sáng tạo và ở khởi đầu sự sống của chúng ta (x. Tv 139, 13tt). Và chúng ta chỉ hiểu được và giữ được lệnh truyền và mọi thứ lề luật khác, khi nhận ra và ghi nhớ ân huệ sự sống mà chúng ta đã lãnh nhận một cách nhưng không ; nhận ra và ghi nhớ, chính là động lực để chúng ta đi vào và ở lại trong tương quan với Đấng ban ơn, để được tái sinh và đi vào con đường chính lộ ngàn đời (Tv 139, 24). Vì ơn huệ và Người ban ơn huệ không thể tách rời. Chính trong và nhờ tương quan với Đấng ban ơn mà chúng ta quảng đại đón nhận, hiểu và giữ lệnh truyện và mọi thứ luật xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ Thiên Chúa. Lệnh truyền là lời dặn dò của một người dành cho một người trong một mối tương quan liên vị : tương quan ân sủng, tương quan ân huệ, tương quan tình yêu nhưng không Chúa dành cho chúng ta, khi chúng ta chưa là gì. 

“Lệnh Truyền”

Thiên Chúa           <==>          Con người

[Tương quan ơn huệ và tình yêu được thể hiện đến cùng nơi Đức Ki-tô]

Nhưng tại sao phải có lệnh truyền? (1) Đó là cách thức, là con đường gìn giữ chúng ta trong tương quan ơn huệ và tình yêu, tương quan Giao Ước, tương quan thuộc về Chúa ; đó là để giúp chúng ta lớn lên trong tương quan này, và chuẩn bị chúng ta đón nhận những ơn huệ lớn hơn, là chính Chúa (trong ơn lương thực, chất chứa lời hứa ban ơn lương thực thần linh là chính Chúa). (2) Và đó còn là cách thức Thiên Chúa tiếp tục sáng tạo chúng ta, với tất cả ý nghĩa của hành động sáng tạo : soi sáng, phân rẽ, sắp xếp, ban căn tính, nuôi dưỡng, mang lại ý nghĩa (x. St 1). Vì thế, theo Tv 19, lệnh truyền là “ơn huệ ngọt ngào của Thiên Chúa (x. Tv 19). (3) Ngoài ra lệnh truyền còn có ý nghĩa thử thách, và thử thách lớn nhất là chính thân phận phải chết của con người. Nhưng Thiên Chúa ban sự sống giới hạn, chính là để chúng ta khát khao sự sống viên mãn, khát khao sáng tạo thứ hai, chứ không ham muốn; luật được ban là để ngăn chặt lòng ham muốn, vốn thuộc về thú tính; như Thánh Phao-lô đã tóm tắt Lề Luật trong công thức sau đây: “Ngươi không được ham muốn” (Rm 7, 7). Và khi chúng ta ước ao, tin tưởng và hi vọng, Chúa sẽ ban tặng (x. Ga 4, 10). Niềm hi vọng này được làm rõ nơi Đức Giê-su-Ki-tô. Nhưng tại sao Thiên Chúa không ban ngay? Vì như thế, sẽ không có khát khao, quà tặng mất ý nghĩa, không có phó thác và tin yêu.

Chúng ta được mời gọi nhận ra và ghi nhớ ơn huệ Thiên Chúa ban để hiểu đúng lệnh truyền và Lề Luật, và để sống Luật như Lời dặn dò yêu thương, như cách thức để diễn tả lòng tín thác nơi sự Quan Phòng của Chúa, tình yêu chúng ta dành cho Chúa, và như lời tạ ơn và ca tụng. Quên ơn huệ Thiên Chúa  ban, Lề Luật sẽ trở thành tai họa, như thánh Phao-lô nói : « Thành thử điều răn lẽ ra phải đưa đến sự sống, lại dẫn tôi đến chỗ chết » (Rm 7, 10). Đó là điều Con Rắn, hình ảnh của sự dữ, muốn con người sa vào.

Chúng ta có khuynh hướng chú ý đến những cái thiếu, những điều không được phép. Trong khi, những điều chúng ta có, những điều được phép rất phong phú và rất nhiều. Chính vì thế, chúng ta không tự do, không vui và không thể tạ ơn và ca tụng. Để sống lề luật và thân phận con người, phải dựa vào ơn huệ. Quên ơn huệ, sẽ là tai họa. Trong cuộc sống, lề luật và nhất là luật cấm, là không thể tránh khỏi, trong gia đình, nơi trường học, xã hội, Giáo Hội, trong đời tu, trong ơn gọi gia đình. Nếu không có kinh nghiệm về ơn huệ, chúng ta sẽ không hiểu đúng và sống “những giới hạn” một cách bình an!

Khi Đức Giê-su sinh ra, thì ngài đã chọn để sinh ra giữa thử thách, sống trong thử thách và chết cũng trong thử thách, thử thách tận cùng. Xin cho chúng ta hiểu Đức Giê-su một cách sâu xa và khát khao mặc lấy những tâm tình của Ngài (nên đọc Phil 2, 5-11). Nếu lệnh truyền làm con người hiểu sai về Thiên Chúa, thì chính ở nơi Đức Ki-tô mà tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho con người được làm rõ và đạt tới mức tuyệt đỉnh : « Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?… Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô » (Rm 8, 32.39). Và Đức Ki-tô cũng làm rõ khởi điểm, nền tảng và cùng đích của mọi lệnh truyền là “lệnh truyền yêu thương”: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến nhau, khơi đi từ kinh nghiệm sâu đậm và tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và từng người nơi Đức Ki-tô. Và chính trong tương quan với Chúa, Đấng ban ơn cách nhưng không, chứ không phải tương quan với luật này luật kia, mà chúng ta hiểu TỘI là gì.

2. Vi phạm lệnh truyền (c. 3, 1-6)

a. « Có thật Thiên Chúa bảo : các ngươi không được… » (St 3, 1)

Con rắn nói : « Có thật Thiên Chúa bảo: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?” ». Những chữ đầu tiên: “Có thật Thiên Chúa bảo: các ngươi không được ăn…” đã chứa đựng tất cả mánh khóe, sự xảo quyệt của con rắn. Thiên Chúa là Đấng nói: “không được”; như thế, Thiên Chúa được trình bày cho ý thức của người phụ nữ như là người chuyên ngăn cấm. Con rắn trích lời của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã nói: các ngươi không được ăn”. Nhưng thực ra Thiên Chúa đã nói gì? Như chúng ta đã suy niệm về lệnh truyền: “Hết mọi cây trong vườn ngươi có thể ăn…” (2,16). Như vậy, Thiên Chúa đã nói điều hoàn toàn ngược lại với điều con rắn nói.

Dĩ nhiên, “ăn tất cả trừ một” và “không ăn được tất cả” là hai điều không mâu thuẫn, ít nhất trên bình diện luận lý. Nhưng trên bình diện tâm cảm và thực tế, đó là hai câu nói mâu thuẫn. Lời Thiên Chúa nhấn mạnh trên ơn huệ, vốn đã được thể hiện trong hành vi đặt Adam vào vườn Địa Đàng, sau khi ông được kéo ra từ bụi đất. Đối diện với câu “Ta ban cho ngươi tất cả, nhưng…”, con rắn nói: “Thiên Chúa ngăn cấm ông bà”. Năng động của lời Thiên Chúa bị con rắn đảo ngược lại hoàn toàn: điều cấm được đưa lên trước ơn huệ. 

b. “Các ngươi không được đụng tới e rằng các ngươi sẽ chết” (St 3, 2-3)

Câu trả lời của người phụ nữ: “Trái các cây trong vườn, chúng tôi được ăn. Nhưng trái của cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã nói: các ngươi không được ăn và các ngươi không được đụng tới e rằng các ngươi sẽ chết”. Người phụ nữ nhấn mạnh bằng cách nói thêm: “các ngươi không được đụng tới”. Điều này có nghĩa gì? Vì động lực nào? Chúng ta có thể coi đó là bằng chứng của lòng nhiệt thành. Nhưng bên dưới lòng nhiệt thành này, ẩn dấu tâm trạng run sợ hoặc giận dỗi không bình an: thay vì giữ luật vì lòng mến, con người run sợ vì đó là điều cấm, gây tai họa hay án phạt nếu vi phạm; thay vì hiểu tốt và hiểu đúng về Đấng ban lệnh truyền, con người giận dỗi không bình an, vì con người tự nhủ: “Tại sao lại cấm ăn? Đụng tới hay nhìn ngắm, mình cũng không thèm!”

Chúng ta có thể nhận ra rằng người phụ nữ không giữ lại chữ “chắc chắn” đi trước bản án: “ Vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết”; và từ này được đổi thành “kẻo”: “kẻo phải chết”. Xét về hình thức, bà đã chuyển mệnh đề tất yếu thành mệnh đề khuyến dụ! Như thế, thái độ chê ghét đối với hành vi xuất phát từ mối đe dọa hình phạt bao quanh hành vi, chứ không từ cái xấu mà mọi hành vi vi phạm chất chứa cách tự tại.

“E rằng” hay “kẻo”: cái chết tự tại trở thành cái chết được nhìn như là hình phạt. Chúng ta giữ giới răn thường là vì sợ bị phát hiện và bị hình phạt (chẳng hạn vượt đèn đỏ); khi không có ai, hay không có hình phạt, chúng ta “tới luôn”. Trong khi đó, “cái chết” hiểu theo nghĩa rộng, có ở ngay trong hành vi lỗi luật hay lỗi lời dặn hay lời thề: giết người, ngoại tình, không vâng lời cha mẹ, lỗi luật đời tu… 

c. “Ông bà sẽ không chết!” (St 3, 4-5)

Vì động lực sợ hãi chi phối người phụ nữ, nên con rắn sẽ khai thác chính điều đó: “ông bà sẽ không chết. Chính vì Thiên Chúa biết rằng ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa, biết điều tốt và điều xấu”. Đây là sự phủ nhận minh nhiên hậu quả, được chính Thiên Chúa công bố. Trở ngại gây ra sự sợ hãi đã bị dẹp bỏ bởi lời khẳng định này của con rắn.

Nhưng, dĩ nhiên, chỉ một lời khẳng định như lời khẳng định của con rắn có lẽ chưa mang lại sức nặng; còn phải đưa ra một lý do khiến con người không tin Thiên Chúa. Thực vậy, tất cả phụ thuộc vào sự tín nhiệm dành cho lý do liên quan đến Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nói trái với sự thật: trái cây mang lại hiệu quả tuyệt vời, mà tại sao Thiên Chúa lại nói rằng, ăn vào thì chết? Tại sao Thiên Chúa “nói dối” con người? Trong lý do con rắn đưa ra, có sự hấp dẫn của cái biết: Thiên Chúa biết rằng… mắt ông bà sẽ mở ra. Như vậy, Thiên Chúa biết điều mà ông bà không biết; Thiên Chúa dấu điều gì đó, Thiên Chúa lừa dối. Điều này kích thích sự tò mò: tại sao Thiên Chúa lại lừa dối? Bởi vì “ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa”. Ở đây, có một điều được gỉa định như là hiển nhiên: Thiên Chúa không muốn con người trở nên như Thiên Chúa. Thiên Chúa ngăn cấm một hạnh phúc vô hạn, và Ngài đã che dấu lý do này: lý do của hành vi ngăn cấm chính là ý muốn giữ lấy cho mình bản tính thần linh và đặc quyền của mình. 

d. “Người đàn bà thấy trái cây…” (St 3, 6)

Nếu cuộc đối thoại đã chấm dứt, thì những gì xẩy ra vẫn cứ xẩy ra. Tác giả Kinh Thánh không cần phải nói với chúng ta rằng người đàn bà đã tin con rắn. Tác giả nói ngắn gọn bằng cách chỉ mô tả cho chúng ta kết quả của sự cả tin: “Người đàn bà thấy trái cây ăn chắc là thật ngon, nhìn hấp dẫn, đáng quí để hiểu biết”. Chúng ta thấy rằng lòng ham muốn đã bắt đầu phát sinh nơi người phụ nữ. Bây giờ chúng ta cũng hiểu được rằng lòng ham muốn dẫn đến hành vi vi phạm lệnh truyền không phải là đầu tiên; nó là hậu quả của cả một tiến trình biến đổi nội tâm: quên ơn huệ dẫn đến nghi ngờ Thiên Chúa: 

Lệnh truyền khởi đi từ tương quan ơn huệ và tình yêu, nên tội không thể được hiểu là vi phạm lệnh truyền, nhưng có liên quan đến nhận thức và tâm tình của tôi dành cho Chúa, ngang qua ơn huệ và tình yêu của Người: “Con đắc tội với trời và với Cha” (x. Lc 15). Vì thế, khi đọc lại đời mình dưới ánh sáng của ân huệ và tình yêu Thiên Chúa, chúng ta không chỉ xét hành vi, nhưng còn nhận ra những động lực sâu kín của nội tâm, của tương quan thực sự giữa chúng ta và Thiên Chúa. (*) Vi phạm luật có nguồn gốc là vấn đề nội tâm, chính vì thế để “hoàn tất lề luật”, cũng phải khởi đi từ vấn đề nội tâm. Đó chính là cách Đức Giê-su mời gọi chúng ta hoàn tất lề luật (x. Mt 5, 17-48). Và Người không chỉ mời gọi, nhưng còn tái sinh nội tâm chúng ta bằng Lời, Mình và Máu của chính Người.

Con người, bởi sự xúi dục của ma quỉ, ghen tị với Thiên Chúa và ham muốn thiên tính của Ngài; nhưng Thiên Chúa, nơi Đức Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, từ bỏ thiên tính để mang lấy nhân tính và sống nhân tính đến cùng như con đường dẫn đến sự sống viên mãn nơi Thiên Chúa: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Ph 2, 6-7)

Thủa ban đầu, “lệnh cấm ăn” (tượng trưng cho sự sống giới hạn và đầy thách đố và khổ đau), làm cho con người nghi ngờ Thiên Chúa; thì nay, mỗi ngày, để chúng ta đừng nghi ngờ tình yêu của Thiên Chúa nữa, Thiên Chúa nói với chúng ta nơi Đức Ki-tô:

Này là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn!

3. Hậu quả và lời hứa chữa lành (c. 7)

“Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn”. Con rắn đã rất mưu mô để làm cho bà ăn trái cấm, còn ông thì thật là tệ: không nói lại được một lời nào, trong khi ông là người đón nhận lệnh truyền và chịu trách nhiệm truyền đạt; vì thế, ông là người bị tra vấn đầu tiên). Có thể nói, cách sa ngã bà thì như lá rụng, còn của ông thì như cục đá rơi.

Khi đó, mắt của cả hai người mở ra và họ biết rằng mình trần trụi”. Nghĩa là trở nên giống con rắn. Điều này có nghĩa là, loài người chúng ta đã bị con rắn tiêm nọc độc vào người. Chính nọc độc gây chết chóc, chứ không phải Thiên Chúa phạt chết. Nhưng nọc độc là gì? Lời đối thoại của con rắn và người phụ nữ giúp nhận ra nọc độc. Nhận ra là đã được chữa lành rồi (tương tự như con rắn đồng bị treo lên cao trong Ds 21, 4-9).

Khi Đức Chúa hỏi tới, người phụ nữ đáp: “Con rắn lừa dối con nên con đã ăn”, con người bị sự dữ, vốn mạnh hơn con người, lừa dối. Vì thế con người đáng thương hơn là đáng phạt. Hình phạt nếu có, đã hàm chứa ngay trong hành vi vi phạm rồi. Và Thiên Chúa thì mạnh hơn sự dữ. Lời hứa cứu độ được ban cho Người Phụ Nữ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” Con rắn cắn gót, nguy hiểm nhưng còn chữa lành được; nhưng con rắn bị đập nát đầu, thì vô phương cứu chữa.

*  *  *

Con rắn đã dựa vào lệnh truyền Chúa ban để làm cho con người quên ơn và nghi ngờ Thiên Chúa. Vì thế, có thể nói, Thiên Chúa cũng có trách nhiệm. Và chỉ có thánh Phao-lô mới dám nói ra điều này: “Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không tuân phục, để thương xót mọi người” (Rm 11, 32). Và nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa vừa bày tò lòng thương xót, vừa chữa lành và vừa chiến thắng Sự Dữ.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ

Comments are closed.