Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ

0

I. Bố cục

Đoạn Tin Mừng này có thể chia thành ba phần:

1) Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ không có Tôma (cc. 19-23)

a) Lời chào “bình an” thứ nhất với việc chứng minh (cc. 19-20)

b) Lời chào “bình an” thứ hai với sứ mạng (cc. 21-23)

2) Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ và Tôma (cc. 24-29)

a) Tôma không tin anh em (cc. 24-25)

b) Đức Giêsu và Tôma (cc. 26-31)

3) Kết luận: Tóm tắt mục tiêu sứ mạng của Đức Giêsu (cc. 30-31)

II. Tìm hiểu bản văn

1) Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ không có Tôma (cc. 19-23)

Các yếu tố lặp lại là những yếu tố nào? “Bình an cho các con”, “Nói thế rồi”

Về cử chỉ: “Thấy tay và cạnh sườn”; “Thổi hơi trên họ”

Kết quả: “mừng rỡ”; “ban quyền tha tội”

Cảnh thứ nhất, các câu 19-20 xác định không gian và thời gian của sự kiện cùng nói lên tâm trạng của các môn đệ. Đức Giêsu đến và chúc bình an, Ngài cho xem tay và cạnh sườn, các môn đệ được tràn ngập vui mừng vì được thấy Chúa.

Cảnh thứ hai, cc. 21-23: Đức Giêsu lặp lại câu chào chúc bình an và đọc lên lời sai phái các môn đệ đi truyền giáo. Công thức chuyển tiếp “Nói thế rồi” lại xuất hiện để báo hiệu việc chuyển qua biến cố trọng đại Đức Giêsu thổi hơi trên các môn đệ và bảo “Hãy nhận lấy Thánh Thần”. Trình thuật kết thúc với lời trao ban quyền tha và cầm giữ.

Hai cảnh trên khác nhau ở chỗ nào?

Hai cảnh này cho thấy hai loại hiện ra của Đấng Phục sinh. Một cuộc hiện ra để người ta nhận biết Đức Giêsu đến với các môn đệ, họ nhận ra Ngài, lòng tràn ngập mừng vui. Một cuộc hiện ra để ủy thác sứ mệnh: Đức Giêsu Phục sinh thông truyền cho các môn đệ sứ mệnh nối tiếp công việc của Ngài ở trần gian như trong Mt 28, 16-20.

Hai cảnh này có cho thấy sự tiến triển tâm lý của các môn đệ không?

Cảnh thứ nhất, các môn đệ đi từ nỗi lo sợ người Do thái đến niềm vui được thấy Chúa. Trong cảnh thứ hai thì đi từ sự bình yên đã tìm lại được đến việc được sai đi thi hành sứ mệnh. Từ đầu cảnh thứ nhất cho đến cuối cảnh hai cũng có sự tiến triển rõ rệt, đầu cảnh 1, các môn đệ sợ hãi co cụm trong phòng đóng kín cửa, ở cuối cảnh 2 các môn đệ nhận được sứ mệnh và được sai bung ra rao giảng.

Trình thuật này tập trung vào nhân vật nào?

Tập trung vào Đức Giêsu. Sáng kiến hoàn toàn do Đức Giêsu. Mọi hành động đều xuất phát từ Ngài, chính Ngài đến, Ngài cho xem các dấu vết khổ nạn, chứng tích của việc Ngài chiến thắng sự chết, Ngài ban bình an. Chính Ngài làm cho các môn đệ đang sợ trở thành vui, đang xao xuyến trở thành yên hàn. Chính Ngài đã vực các môn đệ dậy, Ngài đã ủy thác sứ mạng mình và thổi Thánh Thần vào họ. Từ nhóm người nhát đảm Ngài dùng lời và cử chỉ tạo nên một đội quân xung phong sai đi vào trần gian, trang bị bằng quyền năng bẻ gãy sức mạnh của tội lỗi.

Vì sao các cửa đều đóng kín? Lý do nêu ra trong bản văn là “vì các ông sợ người Do Thái”, nhưng có lẽ thánh sử Gioan cũng muốn cho thấy là thân thể Đức Giêsu Phục Sinh có thể đi qua cửa đóng kín. Đây là một yếu tố mới của thân xác phục sinh, thân xác đã biến đổi không lệ thuộc chất thể, không gian và thời gian.

  • Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Ngài có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Ngài xuất hiện trong vườn; bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới; ở làng Emmau; trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp.
  • Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Ngài xuất hiện với Maria khi trời còn tối; bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng; ở Emmau khi trời đã về chiều.
  • Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Ngài xuất hiện như người làm vườn. Bên những người chài lưới, Ngài xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Ngài xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai môn đệ. Ngài xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ của Tôma.


Đức Giêsu làm thế nào giúp các môn đồ nhận ra Ngài?

Đức Giêsu cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn, các vết thương mà các môn đệ đã chứng kiến tỏ tường trong cuộc thương khó. Ngài có ý cho các môn đệ biết rằng thân xác phục sinh của Ngài chính là thân xác cũ chứ không phải là một thân xác nào khác hoặc là một hồn ma.

Lời chúc bình an cũng là một yếu tố giúp các môn đệ nhận ra Chúa. Sự bình an là điều rất cần thiết cho các ông lúc này khi các ông đang sợ hãi. Sự bình an Đức Giêsu không phải là một lời chào hỏi xuông, nhưng là một sự bình an đích thực. Sự bình an đã làm cho các ông vui mừng, nó cũng là sự bình an mà các môn đệ phải đem đến cho người khác khi nó gắn liền với sứ mạng mà các ông được sai đi sau đó.

2) Đức Giêsu trao sứ mạng gì cho các môn đệ?

  • “Các con hãy chịu lấy Chúa Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha”. Chính nguồn sinh khí mới này sẽ đem lại cho các ông quyền tha tội, mà trước đây chỉ dành cho một mình Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần và quyền tha tội được nối kết chặt chẽ với nhau, vì mục đích chính yếu của Chúa Thánh Thần là tẩy luyện, là đổi mới.
  • “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”: Các môn đệ được Chúa sai đi, hầu tham dự vào công cuộc tẩy luyện và đổi mới trần gian. Trước kia, khi Chúa Giêsu còn ở với các ông, các ông có thể sống ỷ lại và tầm thường, nhưng giờ đây thì không được nữa, bởi vì các ông đã lãnh nhận một sứ mạng lớn lao. Các môn đệ tiếp nối chính sứ mạng được sai đi của Chúa Giêsu. Các ông sẽ lên đường và làm chứng về Ngài cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.


3) Đấng Phục sinh làm thế nào giúp Toma nhận ra Ngài?

Toma là mẫu người duy vật hạng nặng, ông giới hạn tri giác và tri thức vào tiêu chuẩn của kinh nghiệm và vào khả năng suy tư. Những gì ông không thể hiểu, không thể đo lường, chạm, sờ, đều bị ông chối từ. Đức Giêsu đã có sáng kiến đáp ứng mọi đòi hỏi của Toma: Hãy xỏ ngón tay con vào đây, hãy đặt bàn tay con vào cạnh sườn Thầy. Khi đã có đủ chứng cớ thể lý, Toma đã tin và nhận ra Chúa.

Trong sự cứng tin của Tôma, ai là người đáng trách: Tôma hay các môn đệ?

Thường ta trách Tôma, sao lại không tin vào lời các môn đệ đã báo cho ông, nhưng có lẽ phải trách các môn đệ kia mới đúng. Lý do: họ nói “Chúng tôi đã thấy Chúa… sai đi” thế mà 8 ngày sau vẫn ngồi ì một chỗ mà run sợ, thì thử hỏi các ông tin Chúa sống lại ở chỗ nào. Nếu chính các ông không tin, không tỏ dấu chỉ là tin thì làm sao khiến Tôma tin được: Tôma không cần lý luận xa xôi, cứ nhìn vào sự không có gì thay đổi của các môn đệ kia thì đủ để nghĩ rằng làm gì có chuyện Chúa sống lại và hiện ra với các ông. Vì thế câu Chúa nói như để trách sự cứng lòng của Tôma: Phúc cho những ai không thấy mà tin” còn có thể hiểu như một câu gián tiếp kết tội: “Lòng tin không việc làm” của các môn đệ.

Sự cứng lòng tin của Tôma đã để lại gì cho chúng ta?

Chúng ta không nên trách Tôma, ngược lại phải biết ơn ngài. Bởi vì chính “sự cứng lòng” của Tôma lại làm kiên vững cho niềm tin yếu đuối của chúng ta, khi Đấng Phục sinh đáp trả đòi hỏi sự kiểm chứng bằng giác quan của thánh Tôma: “Tôma hãy đặt ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy”. Điều này không chỉ để thỏa mãn đòi hỏi riêng của thánh Tôma, mà còn đáp trả cho yêu cầu của tất cả chúng ta, những kẻ “không thấy” mà được gọi là “tin”, nhất là trong thời đại khoa học thực nghiệm hôm nay. Đồng thời, “sự cứng lòng” của thánh Tôma cũng làm cho lời chứng của cộng đoàn thêm mạnh mẽ. Ngày nay, chúng ta đều là những người không thấy mà tin dựa vào lời chứng của các tông đồ – những kẻ dám sống, dám chết cho niềm tin của mình. Thánh Tôma là môn đệ cuối cùng tin Chúa sống lại, nhưng lại là người đầu tiên tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”.

Suy thêm

1) Dùng lời lẽ chứng minh cho đức tin là tốt, nhưng tốt hơn và cần hơn là hành động cho người khác thấy được niềm tin của mình. Đó chính là điều mà các bạn của Tôma lẽ ra phải có nhưng đã không có. Còn tôi, tôi đã làm gì để chứng minh niềm tin của mình?

2) Đức Giêsu phán “Phúc cho những kẻ không thấy mà tin”, chúng ta thuộc về đối tượng này, nhưng tôi phải sống niềm tin ấy thế nào để thực sự trở thành người có phúc?

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh

Tài liệu tham khảo

Phêrô Phạm Hữu Lai, Chia sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A, lưu hành nội bộ.

Fx. Vũ Phan Long, “Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ”, 

Comments are closed.