Không thấy mà tin

0

Từ ngỡ ngàng này tới ngỡ ngàng khác, Thánh sử Gioan đã khéo léo dẫn đưa độc giả tới niềm tin vào Đấng Phục Sinh. Ở đoạn cuối Tin Mừng của ông, biến cố “mồ trống” đầy ấn tượng, đã gây cho họ nhiều mối nghi hoặc. Tuy nhiên, đã được tác giả giải đáp một cách thoả đáng, bằng cách cố gắng trình thuật sát thực tế những hành trình đức tin của từng nhân vật :

– Gioan thấy khăn liệm nên tin (Ga 20, 1-10)

– Madalena nghe gọi tên mình nên tin (Ga 20, 11-18)

– Nhóm các Tông Đồ thấy Đức Kitô nên tin (Ga 20, 19-23)

– Và cuối cùng Tôma thấy Đấng Phục Sinh nên mới tin (Ga,20, 24-29a)

Thế nhưng lời kết luận đanh thép “Phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20,29b) đã gây lúng túng không ít cho nhiều người. Vậy, làm sao chúng ta có thể tiếp nhận được chân lý này ?

1. Khởi đi từ ngôi mộ trống, niềm tin vào Đấng Phục Sinh được coi là niềm tin cốt lõi của Kitô Giáo. Thánh Phaolo đã biện giải trong thư gửi giáo đoàn Corinto với luận chứng : “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi thật hư không và hư không nữa việc anh em tin” (1Cr 15, 14). Thánh Phaolo đã không dừng lại ở đó, mà không quên nhấn mạnh một cách sắc cạnh: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại thì việc anh em tin cũng hão huyền” (1Cr 15, 17).

Đấng Phục Sinh có đó, … nhưng làm sao các môn đệ có thể hình dung được chuyện này, để họ có thể trao gởi niềm tin của họ vào Ngài, để xin Ngài xoá tan sự sợ hãi đang đè nặng cuộc sống của họ. Gioan đã diễn tả cách trung thực tình huống của các ông : tốt hơn là ru rú trong phòng và chốt cửa lại. Họ khao khát sự bình an nhưng họ chưa nhận ra Đấng Phục Sinh để nương tựa vào, họ chỉ biết dựa vào vật chất và phương diện phàm trần. Chiếc then cài mong manh ấy đã trở thành vị thần hộ mệnh cho họ…

Nhưng liệu chiếc then cài ấy có đem lại sự bình an thật cho họ không?

Chuyện đời vẫn thế, con người đã không thể thoát ra khỏi những bận vướng của đời thường với những then cài bí hiểm, những then cài của tình, tiền, tài…những then cài vật chất mà con người dựa vào như một điểm tựa vững chãi. Những then cài có một ngôn từ vạn năng đầy cuốn hút …xem ra rất thực tế và hợp lý. Nhưng Đấng Phục Sinh sắp bẻ gãy những then cài này. Thực vậy, đang khi các ông sợ mà co cụm lại, giữa lúc căn phòng niêm phong bởi cửa đóng then cài, Đấng Phục Sinh hiện đến ngự giữa các ông. Ngài đã làm cho các ông nhận ra và tin vào Ngài.

Như vậy, luận cứ biện chứng của Gioan giữa sự hữu hình và vô hình, giữa vật để thấy và vật không thể thấy, rõ ràng không theo nghĩa bình thường, nhưng theo ông, Đấng Phục Sinh trở thành hiện hữu một cách cụ thể tuỳ thuộc sự nhận thức bằng đức tin của con người. Bởi lẽ, người có đó, nhưng Maria tưởng là người làm vườn. Ngài tuy hữu hình nhưng Maria vẫn không thấy Ngài. Trái lại, Người không có đó, nhưng vừa nhìn thấy khăn liệm thì Gioan đã tin vào sự Phục Sinh, vào Đấng Phục Sinh…. Tất cả các ý nghĩa ấy cho chúng ta hiểu rằng không phải các môn đệ tự mình tin vào sự Phục Sinh mà chính Chúa làm cho các ông tin, không phải các môn đệ tự mình dựa vào Chúa mà chính Chúa làm cho các ông dựa vào Người.

2. Tại sao Tôma, một con người được chú ý của Tin Mừng lại được đặt trong bối cảnh của “một kẻ nghi ngờ”? Tôma hăm hở mời gọi các bạn cùng đi để cùng chết với Đức Kitô, nhưng ông lại không cùng các bạn trong giây phút tuyên xưng niềm tin Phục Sinh: “Cả chúng ta nữa, hãy đi qua để chết với Ngài” (Ga 11,16). Tôma là con người nhanh nhảu hay thắc mắc nhưng dễ nghi hoặc : “Thưa Ngài chúng tôi không biết được Ngài đi đâu, làm sao biết được con đường” (Ga 14,5). Ông được chọn gọi ngay giây phút đầu tiên, nhưng ông lại không được vào số những chứng nhân đầu tiên của cộng đoàn.

Chắc chắn ông Tôma là người Do thái, ông không ngu gì mà không biết đến ngày có cuộc cánh chung cho hết mọi người. Nhưng làm sao có thể chấp nhận được Đấng chịu đóng đinh bây giờ đã vào cõi sự sống ? Ông phải kiểm chứng lại người này bằng cách đụng vào vết thương (nơi bị đâm bởi lưỡi gươm). Yêu cầu này của ông rất phù hợp với quan điểm của con người thời đại. Sự biện bác nhanh và dứt khoát của Tôma được hình thành một kết luận sắc bén của Gioan, sát với cấu trúc quen thuộc mà tác giả thường sử dụng “phép lạ với niềm tin”. Ông chỉ lấy lại niềm tin của ông sau khi đã bị đầu hàng trước một sự thật hiển nhiên của Đấng Phục Sinh. Đã đến lúc ông chỉ còn có thể tuyên xưng : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Lời tuyên xưng này của Tôma là chóp đỉnh của Tin Mừng Gioan. Đức Kitô không chờ đợi Tôma một lời tuyên xưng, với một suy tư chắc chắn như ở công đồng Nicê về bản vị thần linh của Chúa Kitô cũng chính là bản vị của Chúa Cha. Nhưng thánh sử đã muốn thiết lập một cách chắc chắn ở phần kết Tin Mừng của ông một sự phù hợp với lời tiền từ : “Ngài là Thiên Chúa, Ngôi Lời”. Có thể nói rằng trọn bộ Tin Mừng của Gioan đã tự trình bày lời tuyên tín tối hậu này. Lời tuyên tín từ nay sẽ được thốt lên nơi “những người không thấy mà tin”.

3. Mối bận tâm của Gioan là hiệp nhất sự Phục Sinh của Đức Kitô và sứ vụ của Giáo Hội. Với biến cố Phục sinh, Chúa Giêsu bắt đầu cách thức mới để hiện diện giữa các môn đệ và hiện diện mãi mãi trong Giáo Hội.

Nếu như Maria là người được sai đi để loan báo Tin Mừng: “Con hãy đi loan tin cho các anh em Thầy rằng: Thầy lên với Cha Thầy cũng là Cha của anh em, Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em” thì Gioan maău người khai mở hành trình cho những ai không thấy mà tin. Madalena có thành tâm thiện chí đi tìm Chúa, nhưng không hiểu được dấu chỉ, và do đó không gặp được Chúa như lòng mong ước. Chính Chúa Phục Sinh đã đến với Madalena trước và giúp bà nhận ra Ngài. Việc Chúa Giêsu gọi đích danh bà đã làm cho bà mở mắt đức tin. Còn Gioan, nhìn dấu chỉ và đã tin.

Từ nay niềm tin của họ sẽ được đặt trên những lời giảng dạy và Thần Lực Chúa Thánh Thần, dưới những cách thức dẫn tới niềm tin khác nhau, không chỉ trên những dấu hiệu hiển nhiên của sự hiện diện. Từ nay mở ra một tương lai vô hạn của một thế giới tìm gặp Đấng Phục Sinh với sự biến mất những nhân chứng mục kích và thế hệ của những lớp người  sống đương thời với Đức Giêsu thành Nagiaret. Từ nay, sự phát sinh và phát triển của Giáo Hội là bằng chứng cụ thể về hành động của Đấng Phục Sinh. Phải chăng vì thế mà ta có thể nói nhìn vào Giáo Hội thì ta thấy Đấng Phục Sinh.

Đức Kitô không đòi hỏi một cộng đoàn hoàn hảo trước khi Ngài đến hiện diện, bởi vì Ngài đến là để kiện toàn và nâng cao cộng đoàn đó. Nơi những con người mà Đấng Phục Sinh đã gặp gỡ và biến đổi họ, Ngài đã gặp toàn sự bất toàn của họ, nhưng Ngài đã ban cho họ sự bình an và niềm vui là dấu chỉ của sự hiện diện của Ngài. Dĩ nhiên sự bình an và niềm vui này hướng đến một sứ mạng: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Như vậy, được tham dự vào sứ mạng của Chúa Giêsu, Giáo Hội sống chứng tá cho Đấng Phục Sinh bằng niềm tin vững chãi của mình.

Tóm lại, thật khó mà khám phá ra những dấu chỉ nói lên sự hiện diện của Đấng Phục Sinh trong thế giới hôm nay, nếu không được Đấng Phục Sinh khai mở tâm hồn. Bởi vì, vẫn còn đó những thái độ khác nhau khi đứng trước sự hiện diện của Ngài, thái độ của Madalena, của Gioan, của Phêrô, của Tôma…thái độ nào cũng được Chúa trân quý. Nơi hành trình mà mọi người đều phải lần mò trong đức tin ấy, Ngài luôn hiện diện và Ngài chứng minh sự hiện diện của Ngài bằng nhiều cách thể hiện khác nhau phù hợp với tâm thức của từng người. Hãy dám tin vào Ngài vì “tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ của con người” (1P 1,8-9)

Sr. Agnès Hoàng Thị Hòa

Comments are closed.