Triều đại 264: Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II

0

Đức Giáo hoàng  Gioan Phaolô II là người Ba Lan, tên thật là Karol Wojtyla, sinh ngày 18-5-1920 tại ngôi làng nhỏ Galicie, miền Wadowice, nước Ba Lan. Mẹ ngài qua đời năm 1929, cha là một sĩ quan hưu trí, mất năm 1941. sau đó ngài quyết định đi tu làm linh mục, gia nhập một chủng viện bí mật tháng 10-1942. trải qua nhiều khó khăn cấm cách, ngài chịu chức linh mục ngày 1-10-1946, rồi được chức Hồng y Adam Sapieha gởi đi Đức Giáo hoàng  học tại đại học Angelicum ở Rôma. Với hai bằng tiến sĩ triết và thần học, ngài trở về Ba Lan, làm giáo sư tại phân khoa thần học Cracovie, rồi giáo sư ở Đại học công giáo Lublin. Ngày 28-9-1958 ngài được đức Piô XII bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá Cracovie khi mới 38 tuổi, là Giám mục trẻ nhất Ba Lan. Khi đức Gioan XXIII triệu tập Công đồng Vaticano II, ngài tham dự vào việc chuẩn bị, đặc biệt cho lược đồ của hai Hiến chế quan trọng Gaudium et Spec (Vui mừng và Hy vọng) và Lumen Gen tium (Ánh sáng muôn dân). Ngày 13-1-1964 Đức Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Cracovie và nâng lên chức Hồng y năm 1967. Sau khi Đức Hồng y Gioan Phaolô I đột ngột qua đời, Mật tuyển viện nhóm họp để bầu chọn Giáo hoàng mới, trong những vòng bỏ phiếu đầu, hai ứng cử viên là Hồng y Giuse Siri và Gioan Benelli nổi bật lên, nhưng không ai thắng đủ số phiếu cần thiết. Cuối cùng,ngài là gương mặt mới được đề cử và ngài được bầu chọn ngày 16-10, đăng quang ngày 22-10-1978 với danh hiệu Gioan Phaolô II, như sự tiếp nối ba vị tiền nhiệm Gioan XXIII, Phaolô VI và Gioan Phaolô I.

Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên không phải là người Ý kể từ năm 1522 (xem vị Giáo hoàng số 218, đức Adrianô VI người Hòa Lan 1522-1523). Giáo triều của ngài là một trong những giáo triều dài nhất trong lịch sử các Giáo hoàng.

Là vị Giáo hoàng rất được yêu mến bởi các hoạt động mục vụ không mệt mỏi, ngài có sức thu hút mãnh liệt và rất tự nhiên, nhất là giới trẻ của ngài. Các cuộc du hành của ngài thường quy tụ hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu tín đồ, qua đó, kêu gọi mọi người trở thành chứng tá cho Chúa Kitô bằng đời sống bác ái, hiệp thông huynh đệ để loan bào Tin mừng. Với hơn 26 năm giáo hoàng người ta đưa ra những con số như sau:

– Ngài đã thực hiện 104 chuyến thăm mục vụ các nước và 146 chuyến thăm trong nước Ý.

– Là Giám mục Rôma, ngài đã đi thăm 317 trong số 333 giáo xứ thuộc giáo phận Rôma.

– Đã ban hành 14 Thông điệp, 15 Tông huấn, 11 Tông Hiến, và 45 tông thư.

– Đã chủ sự 51 cuộc lễ phong thánh cho 482 vị, trong đó có 117 thánh tử đạo Việt Nam ngày 19-6-1988. Ngài cũng chủ sự 147 lễ phong chân phước cho 1.338 vị, trong đó có chân phước Andrê Phú Yên của Việt Nam ngày 5-3-2000.

Đã tổ chức 9 hội nghị các Hồng y, phong 321 hồng y, trong đó có Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận ngày 21-1-2011 và đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn ngày 22-10-2003. Ngài còn chủ trì 15 thượng Hội đồng Giám mục thế giới.

Ngày 13-5-1981 trong một cuộc triều yết chung tại quảng trường thánh Phêrô, ngài đã bị một thanh niên hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mohamed Ali Agca mưu sát, nhưng chỉ bị thương. Với lòng yêu mến, sùng kính đặc biệt đối với Đức Trinh nữ Maria, ngài tin rằng đã thoát chết là nhờ sự che chở của Đức Mẹ và trên huy hiệu giáo hoàng của ngài, chúng ta nhìn thấy chữ M, viết tắt của chữ Maria.

Bức hình Đức Giáo hoàng Gioan phaolô II được Đức Mẹ che chở khi ngài bị ám sát ngày 13-5-1981 tại Quảng trường thánh Phêrô. Bức ảnh được chụp bởi một cận vệ của ngài. Người ta không hiểu vì sao, Đức Gioan Phaolô II đã cất giữ bức ảnh này trong suốt thời gian làm Giáo hoàng của ngài. Mới đây, sau khi điều tra và xác minh, Tòa thánh đã cho công bố bức ảnh và công nhận đó như một phép lạ.

Trong bức ảnh, chúng ta có thể nhận thấy nét mặt đau đớn của Đức Giáo hoàng  khi ngài bị ám sát. Những người chứng kiến cho rằng, một người phụ nữ xuất hiên nhanh chóng ôm chầm lấy Đức thánh Cha khi ngài gục ngã trên chiếc xe chở ngài, rồi sau đó người phụ nữ nhanh chóng biến mất.

Kẻ sát nhân là Mohamed Ali Agca đã bị bắt và bị kết án tù chung thân. Còn Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II bị trọng thương, nhưng ngài đã được Đức Mẹ cứu thoát khỏi cái chết sau một cuộc phẫu thuật nhiều giờ và đã bình phục.

Ngài viết nhiều tác phẩm về thần học và tu đức đã thành lập một ủy ban để soạn thảo cuốn Giáo lý chung của Giáo hội Công giáo vào tháng 10-1986, sách này được chính thức phê chuẩn vào ngay25-6-1992. Ngài cũng đã công bố Quyển Giáo luật mới ngày 25-1-1983.

Ngài đã thiết lập ngày Quốc tế giới trẻ vào Chúa nhật Lễ Lá, ngày 15-4-1984. Là vị Giáo hoàng rất quan tâm đến các hoạt động Đối thoại liên tôn và Đại kết, ngài đã đưa ra sáng kiến về ngày cầu nguyện chung của các tôn giáo tại Assisi, là vị Giáo hoàng đầu tiên đã thăm viếng đền thờ Hồi Giáo, thăm hội đường Do Thái Giáo ở Rôma và cũng là vị Giáo hoàng đầu tiên đi thăm một quốc gia có đa số người theo Chính Thống giáo tại Rumanie vào năm 1999. Ngài cũng ban hành thông điệp Ut sint unum ngày 25-5-1995, bênh vực sự sống, chống lại việc li dị, phá thai, an tử và hoạt động không ngừng cho sự công bằng xã hội, tìm kiếm tự do, hòa bình cho nhân loại.

Ngày 1-2-2005 bị bệnh nặng, ngày 2-4-2005, vào lúc 21h37 phút giờ Rôma, ngài được Chúa gọi về, hưởng thọ 84 tuổi sau hơn 26 năm làm Giáo hoàng với giáo triều dài thứ 3 trong lịch sử Giáo hội. Thánh lễ an táng ngài diễn ra ngày 8-4-2005 và chỉ sau hơn 2 tháng, ngày 28-6-2005, đức Bênêđictô XVI đã ban phép chuẩn khỏi tuân giữ quy định “sau 5 năm” để chính thức mở án phong chân phước cho ngài.

Comments are closed.