Trí Tuệ Khiêm Tốn Của Trái Tim [1]

0

Ngày 7/11/2015, Dòng Đa Minh bắt đầu một năm kỷ niệm 800 năm dòng được Đức giáo hoàng Honôriô III xác nhận. Ngay từ lúc bắt đầu xuất hiện tại Toulouse, các tu sĩ Đa Minh đã trung thành với sứ vụ rao giảng, lắng nghe, và truyền dạy bằng lời nói lẫn việc làm.

Tác giả Allan White

Nhiều đấng sáng lập các dòng tu đã cảm nghiệm một khoảnh khắc hoán cải và quyết định khi các ngài cảm nhận được tiếng Thiên Chúa mời gọi đi vào trải nghiệm sâu xa hơn của người môn đệ. Thánh Antôn tu rừng đã được gọi khi đang cử hành phụng vụ và nghe thấy: “Nếu con muốn nên hoàn hảo, hãy đi và bán những gì con có mà cho người nghèo và con sẽ có được kho tàng trên trời. Rồi sau đó hãy đến và theo Thầy”. Thánh Phanxicô đã nghe tiếng Chúa Kitô từ trên cây thánh giá ở San Đamianô, gần Assisi, kêu gọi ngài hãy đi xây dựng lại ngôi nhà của Thiên Chúa.

Khởi đầu của Dòng Đa Minh diễn ra tại một quán trọ ở Toulouse, phía nam nước Pháp. Tại đó, vào khoảng năm 1204, thánh Đa Minh đã có cuộc tranh luận thần học với vị chủ quán trọ, một người theo bè phái Albi. Những người theo phái Albi, hay còn gọi là Cathars, tin rằng thế giới vật chất được một Thần Dữ điều khiển, còn tất cả mọi sự thiện hảo đều bắt nguồn từ thế giới thiêng liêng. Thánh Đa Minh đã dành cả đêm để tranh luận với người chủ quán và đưa ông trở về với niềm tin. Chúng ta không thể thức suốt đêm chỉ đơn giản lặp đi lặp lại rằng “Bạn đã sai rồi”.

Trong hành trình ngang qua Languedoc, thánh Đa Minh lấy làm lạ khi thấy quá nhiều người đã theo lạc thuyết. Ngài không kinh ngạc hay tức giận. Chân phước Giorđanô Saxonia, nhà viết tiểu sử thánh Đa Minh, cho ta biết thánh nhân cảm thấy một nỗi thương cảm sâu xa trong tâm hồn. Ngài không muốn phá hủy, mà chỉ muốn chữa lành. Ngài không phải là một kẻ hủy diệt, nhưng là một bác sĩ đa khoa. Việc Đức Giáo hoàng Honôriô III nhìn nhận dòng Anh em Giảng thuyết vào năm 1216 quả là một nguồn động lực mới cho công cuộc truyền giảng Tin Mừng, đồng thời là kết quả do tầm nhìn của thánh Đa Minh, đã được phát triển từ suốt hơn 10 năm nhằm chống lại bè rối Albi tại Languedoc.

Thánh Đa Minh, sinh khoảng năm 1170 ở Tây Ban Nha và qua đời năm 1221, không được biết đến nhiều như thánh Phanxicô. Cha Đa Minh muốn ẩn mình phía sau hoạt động của dòng. Ngài khởi đầu cuộc đời như một kinh sĩ tại Castile, nơi mà sau này là tiền tuyến của Tây Âu, và cuộc đời ngài đã kết thúc trong vai trò là đấng sáng lập của một dòng du thuyết, gồm các tu sĩ hành khất và các nữ đan sĩ, với sứ mạng loan báo Tin Mừng và hòa giải tội nhân thông qua bí tích Giao hòa và việc hướng dẫn tâm linh.

Chân phước Giorđanô cho biết Thiên Chúa đã ban cho thánh Đa Minh một ân sủng đặc biệt là cầu nguyện cho các tội nhân, người nghèo và người bị đàn áp: ngài đã mang những nỗi khổ đau của họ vào nơi “thánh thiêng sâu thẳm nhất” (innermost sanctuary – sacrarium intimum) của cõi lòng. Theo giáo lý tâm linh của thời đó thì đây chính là nơi thường chỉ dành cho một mình Thiên Chúa. Không một ai khác có thể chiếm ngự chốn này được.

Với thánh Đa Minh, đây là một nơi chốn đông đảo, đầy những con người đau khổ và thất vọng. Ngài dành chỗ cho họ ngoài phần đã dành cho Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa, Đấng đã cưu mang họ với lòng trắc ẩn thần linh, cũng đã đưa họ đến với ngài. Đối với thánh Đa Minh, giảng thuyết không chỉ là công việc hướng dẫn, nhưng còn là công việc của lòng trắc ẩn, lòng thương xót và do vậy cũng là công việc của tình yêu. Chính bởi lòng trắc ẩn mà ngài đã cố gắng dẫn đưa người chủ quán trọ đến một thế giới rộng lớn hơn của chân lý Công giáo. Người theo lạc giáo thường dễ được cảm hóa hơn người theo chính thống giáo.

Thánh Tôma Aquinô dùng lối đặt vấn nạn và trả lời để giúp người khác hiểu được các vấn đề thần học. Đối thoại chính là trọng tâm trong phương pháp của ngài. Chỉ có Thiên Chúa mới hoàn toàn đơn thuần. Đang khi hình thành con đường của riêng mình để đến với Người qua những mối tơ vò của tâm trí thì chúng ta cũng đang tham gia vào một tiến trình đầy phức tạp của con người. Chúng ta đi đến chân nhận sự đơn giản thần linh thông qua những điều phức tạp, qua việc tách rời những ý tưởng và rồi liên kết chúng lại với nhau. Chúng ta làm ra những khuôn mẫu và tạo nên một trật tự từ những ấn tượng được in sâu vào trong tâm trí.

Trong nghiên cứu của mình về đạo lý, thánh Tôma nêu lên vấn nạn và đưa ra những luận điểm ủng hộ và phản bác, cho những kẻ thù ngài thấy được sự lắng nghe đón nhận của ngài và cố gắng hiểu trường hợp của họ. Thông thường, ngài lý luận về trường hợp của họ tốt hơn là chính họ có thể làm. Trong truyền thống tốt đẹp của dòng Đa Minh, việc tranh luận và phản biện không nằm ở việc người thắng sẽ giành tất cả. Chân lý được phục vụ bằng việc chuyên chú lắng nghe và cái hiểu cảm thông, để rồi cùng chân nhận vẻ đẹp rạng ngời của chân lý thần linh. Đó là phẩm tính cao quý nhất mà chúng ta cần chia sẻ.

Chính lúc con người cảm thấy bị im hơi lặng tiếng, bị hiểu lầm hay bị sỉ nhục trong cuộc tranh luận thì sự bực tức xuất hiện và khiến cho bất kỳ mối quan hệ gia đình nào cũng trở nên chua xót. Theo cách thức đầy tình cảm thông trong việc sử dụng lý trí để tìm kiếm chân lý, chúng ta tiến gần hơn đến Thiên Chúa. Chúng ta khám phá ra dòng mà cha thánh Đa Minh đã sáng lập trên trần thế này bằng cách xây dựng và có một cái nhìn khách quan về dòng.

Theo cái nhìn của người Đa Minh, một lối hiểu sai lầm về Thiên Chúa sẽ dẫn đến một lối hiểu sai về ơn gọi của con người. Việc đánh mất nhận thức chân thực về mầu nhiệm Thiên Chúa cũng làm mất đi nhân tính và nhân phẩm của chúng ta. Công việc loan báo được diễn tả trong sứ vụ giảng thuyết chính yếu là hoạt động của lòng thương xót được thúc bách do tình yêu dành cho người đã bước trên con đường không xứng hợp với vị thế dành cho họ.

Trong suốt 10 năm như một nhà truyền giáo hành khất tại miền Languedoc bị tàn phá bởi chiến tranh, thánh Đa Minh đã chịu thử thách qua những thất bại. Ngài đã lôi kéo được một nhóm nhỏ các linh mục quanh ngài và dường như họ đã sống theo kiểu mẫu thông thường của đời sống đan tu ở vùng Toulouse.

Việc ngài tham dự vào Công đồng Lateranô IV năm 1215 và ảnh hưởng từ tầm nhìn mục vụ đầy năng động của Đức Innôcentê III và Đức Honôriô III đã làm thay đổi cái nhìn của ngài. Kết quả là một dòng tu mới nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy đã xuất hiện và được gọi là Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Cho đến lúc đó, chỉ có các giám mục mới có quyền giảng dạy, cùng với những người do giám mục uỷ quyền mới được làm như thế. Thế nhưng dòng tu mới này đã được trao phó với sứ vụ giảng thuyết khắp hoàn cầu do ủy nhiệm trực tiếp từ giáo hoàng.

Dòng mới kết hợp hai cách hiểu về những hình thức của nếp sống tông đồ; tức là, đời sống của cộng đoàn tiên khởi tại Giêrusalem với việc sốt sắng cử hành phụng vụ, sống khó nghèo và tình huynh đệ, kèm theo đó là sứ vụ lữ hành rao giảng khắp thế giới như các tông đồ. Thánh Đa Minh và dòng của ngài là những con người giảng thuyết không do thẩm quyền của giám mục nhưng do thẩm quyền của Giáo hoàng. Gia nhập cộng đoàn ấy là các thành viên có quyền thuyết giảng. Dòng Giảng Thuyết là một Dòng của các Tiến Sĩ, do vậy mà ngay từ ban đầu, dòng Đa Minh đã có mối liên hệ với các trường đại học. Các bậc cha anh đã chuyên chăm học hành, nghiên cứu, và đời sống tu trì của các ngài trở nên minh chứng cho cái đẹp trong lời giảng dạy. Các ngài giảng thuyết bằng lời nói và bằng việc làm – verbo et exemplo. Đời sống của các ngài hợp thành một lời được bày tỏ qua hành động.

Dòng Anh Em Giảng Thuyết là một khí cụ của Lời và mọi điều liên kết với hoạt động này đều phải gắn kết với sứ vụ đó. Bản đối chiếu kinh thánh đầu tiên là công trình của các tu sĩ Đa Minh vào những năm 1230, và là minh họa cho mối quan tâm nghiên cứu Kinh Thánh. Điều bận tâm ấy cũng được thấy sau này nơi hoạt động của cha Giuse Maria Lagrange và hiện nay là trường Kinh Thánh Giêrusalem.

Cha Humbertô Romans, bề trên tổng quyền thứ năm của dòng, đã khích lệ anh em hãy thiết lập mối giao hảo với Hồi giáo; cuộc đối thoại hiện vẫn còn tiếp tục tại Viện Đa Minh (Dominican Institute) ở Cairô. Thánh Catarina Siêna và những người nữ Đa Minh vĩ đại nước Ý thời trung cổ đã hoạt động như những người bảo vệ hòa bình và hòa giải các thành phố đang có chiến tranh. Fra Angiêlicô, cha Bartôlômêô và sơ Plautilla Nelli giảng thuyết thông qua các hoạt động nghệ thuật, còn Gioan Siferwas cũng làm điều tương tự tại Anh quốc trong việc trình bày bản thảo sách lễ cổ bằng tiếng Anh vào thế kỷ 15 (Sherborne Missal).

Thánh Tôma Aquinô và thánh Albertô Cả đã đưa việc nghiên cứu Aristôt vào trong các lĩnh vực thần học và triết học. Vào thế kỷ 13, William Tournai đã viết về giáo dục đời tu cho những người trẻ. Ngài cho rằng việc giáo dục nên dựa trên gương sáng, giáo huấn và giảng thuyết. Cha Bartôlômêô de las Casas đã dành 50 năm để ghi chép lại vấn đề lạm dụng dân bản xứ tại vùng Trung Mỹ và đấu tranh chống nạn nô lệ; cha Phanxicô Victoria, thần học gia Tây Ban Nha thế kỷ 16, được coi như là “sáng lập viên công luật quốc tế”.

Họa lại hình ảnh sống động của tất cả những vị thánh, học giả, các vị tử đạo, những nhà giảng thuyết, thầy dạy và những môn đệ chính là chân nhận dòng Đa Minh như một tôi tớ của Lời. Chúng ta, những con người Đa Minh, được mời gọi mưu ích cho tha nhân qua lòng cảm thương trí thức, điều mà chúng ta mô tả như là “lòng thương xót của chân lý”. Chúng ta biết rằng thánh Đa Minh có khả năng xuyên thấu những vấn nạn hóc búa của thời đại ngài nhờ “trí tuệ khiêm tốn của trái tim”.

Sứ vụ dòng Đa Minh đã trải dài hơn 800 năm, vẫn bền vững qua bao cuộc đổi thay, nay được làm sống động hơn nhờ lòng trắc ẩn trí thức và niềm say mê mầu nhiệm Thiên Chúa. Như thánh Tôma Aquinô có nói: “thắp sáng thì tốt hơn chiếu sáng, cũng vậy, trao ban cho người khác hoa quả của chiêm niệm thì tốt chỉ chiêm niệm”. Hoạt động giảng thuyết trước hết là hoạt động của lòng thương xót.

Allan White OP,
Nguyên Giám tỉnh Tỉnh dòng Anh, hiện đang là phó Hiệu

trưởng Trường Thánh Maria, El Centro, California.

Học viện Đa Minh chuyển ngữ

…………………………………………………………….

[1] Bài báo đăng trên tạp chí The Tablet, số 175 ra ngày 7/11/2015

Comments are closed.