Định luật thương xót – suy niệm CN VI PS, năm C

0

9

Luật vị nhân sinh, nhân sinh bất vị luật. Con người có trước luật, nhưng con người sa ngã nên sinh ra luật. Điều đó chứng tỏ con người rất ngang ngược, vì “cái tôi” lúc nào cũng rình nổi dậy. Hai con người đầu tiên đã bất tuân Thiên Luật, con cháu muôn đời cũng chưa chừa, vẫn máu kiêu ngạo. Do đó, lúc này thì “nhân sinh vị luật”, nếu không có luật thì xã hội loạn hết.

Lĩnh vực nào cũng cần có luật, chí ít cũng là nội quy. Nhà có gia phong, nước có quốc pháp. Ngay cả cái mà chúng ta gọi là Tự Do cũng vẫn có luật, có giời hạn của tự do. Không thể lợi dụng tự do để tự tung tự tác. Tương tự, yêu thương cũng có luật, thương xót cũng có luật. Yêu cho tha thiết, xót phải thật lòng, thương vô điều kiện. Ông Abe Shinzō, thủ tướng Nhật Bản, ngồi quỳ khi nói chuyện với người cao tuổi, hình ảnh thật đẹp và đáng để chúng ta học tập!

Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13:8 và 10). Nếu không thì sao ? Có “vấn đề” ngay thôi: “Người không được cắt bì trong thân xác mà vẫn chu toàn Lề Luật, người ấy sẽ lên án bạn, vì bạn có Lề Luật ghi chép hẳn hoi và bạn đã được cắt bì, mà vẫn vi phạm Lề Luật” (Rm 2:27).

Đúng vậy, như Chúa Giêsu đã nói với nhóm Pharisêu: “Nếu các ông đui mù thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:41). Người Việt cũng có câu tục ngữ: “Khôn cho người ta rái (sợ), dại cho người ta thương, dở dở ương ương tổ cho người ta ghét”.

Trình thuật Cv 15:1-2. 22-29 cho biết tầm quan trọng của lề luật. Hồi đó, có những người từ miền Giuđê đến dạy anh em rằng: “Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Môsê, anh em không thể được cứu độ”. Rõ ràng giữ luật là việc làm cần thiết. Giữ luật là chứng tỏ vâng lời.

Lúc đó, ông Phaolô và ông Banaba chống đối và tranh luận khá gay go với họ. Người ta bèn quyết định cử ông Phaolô, ông Banaba và một vài người khác lên Giêrusalem gặp các Tông Đồ và các kỳ mục, để bàn về vấn đề đang tranh luận này. Bấy giờ các Tông Đồ và các kỳ mục, cùng với toàn thể Hội Thánh, quyết định chọn mấy người trong các ông, để phái đi Antiôkhia với ông Phaolô và ông Banaba. Đó là ông Giuđa, biệt danh là Basaba, và ông Xila, những người có uy tín trong Hội Thánh.

Tranh luận là điều cần, không phải là để biết ai mạnh hay yếu, ai giỏi hay không, nhưng là để làm sáng tỏ vấn đề, sáng tỏ sự thật.

Các ông trao cho phái đoàn bức thư này: “Chúng tôi nghe biết có một số người trong chúng tôi, không được chúng tôi uỷ nhiệm, mà lại đi nói những điều gây xáo trộn nơi anh em, làm anh em hoang mang. Vì thế, chúng tôi đã đồng tâm nhất trí quyết định chọn một số đại biểu, và phái họ đến với anh em, cùng với những người anh em thân mến của chúng tôi là ông Banaba và ông Phaolô, những người đã cống hiến cuộc đời vì danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vậy chúng tôi cử ông Giuđa và ông Xila đến trình bày trực tiếp những điều viết sau đây: Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi. Chúc anh em an mạnh”.

Ngoại tại chứng tỏ nội tại. Cách ăn mặc có thể biểu lộ tâm tính. Ánh mắt có thể biểu lộ tâm hồn. Có đầy mới tràn! Vì thế, đừng coi thường bề ngoài, nhưng cũng chớ chú trọng bề ngoài. Thái quá thì bất cập. Đàng nào cũng khả dĩ nguy hại. Trung dung mới là khôn ngoan. Nên tự xét xử hơn là để Chúa phải xét xử (1 Cr 11:31-32).

Luật là nguyên tắc đúng được công nhận, và luật khả dĩ thể hiện Thánh Ý Chúa. Cầu nguyện là một cách giữ luật của con người, đặc biệt là các Kitô hữu: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài” (Tv 67:2-3). Cầu xin cho mọi người “biết đường lối Chúa” là biết luật Chúa, và nhờ đó mà “biết ơn cứu độ của Ngài”. Kỳ lạ quá!

Luật là biện pháp cai trị, nhưng luật Chúa cai trị bằng luật yêu thương, luật thương xót. Cảm nhận sâu sắc nên tác giả Thánh Vịnh phải lên tiếng: “Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài” (Tv 67:5-6).

Ước mơ không chỉ cho riêng mình, mà còn phải ước mơ cho mọi người. Đó mới là đi đúng định luật thương xót của Thiên Chúa: “Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!” (Tv 67:8). Mình vui mà người khác đau khổ thì niềm vui của chúng ta chưa trọn vẹn, và đó là ước mơ vị kỷ. Thiên Chúa cấm sống ích kỷ. Sống thương xót là sống bao dung. Bao dung là “buông dao”, chứ không là “bung dao”. Rất đơn giản!

Tha thứ để được thứ tha, yêu thương để được thương yêu, xót thương để được thưng xót. Hệ lụy tất yếu theo luật Chúa. Có vậy mới khả dĩ gặp Chúa. Tác giả Thánh Vịnh đặt vấn đề: “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người?” (Tv 24:3). Chắc chắn chỉ có những người “tay sạch, lòng thanh, chẳng mê ngẫu tượng, không thề gian, nói dối” (Tv 24:4). Ai biết thương xót là nhân từ như Chúa (Lc 6:36) và là người diễm phúc (Mt 5:7).

Thị nhân Gioan tường thuật thị kiến: “Đang khi tôi xuất thần thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh, là Giêrusalem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê. Thành có tường rộng và cao, với mười hai cửa do mười hai thiên thần canh giữ, và trên các cửa có ghi tên mười hai chi tộc con cái Ít-ra-en. Phía đông có ba cửa, phía bắc ba cửa, phía nam ba cửa và phía tây ba cửa. Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” (Kh 21:10-14). Quang cảnh vô cùng kỳ lạ, chúng ta không thể hiểu hết bằng trí óc phàm nhân. Tuy nhiên, chúng ta có thể cảm thấy sung sướng và hy vọng tràn trề về Quốc Gia Siêu Nhiên là Nước Trời, là Thiên Đàng.

Thị nhân Gioan cho tiết lộ thêm: “Trong thành, tôi không thấy có Đền Thờ, vì Đức Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng, và Con Chiên là Đền Thờ của thành. Thành chẳng cần mặt trời, mặt trăng chiếu sáng, vì đã có vinh quang Thiên Chúa toả rạng, và Con Chiên là ngọn đèn chiếu soi” (Kh 21:22-23). Chúa Giêsu là Ánh Sáng Siêu Nhiên, là Thái Dương Công Chính, là Vinh Quang Đời Đời, mọi thứ ánh sáng khác đều bắt nguồn từ đó. Tuyệt vời!

Trình thuật Ga 14:23-29 là một phần trong trong “những lời cáo biệt” của Đức Giêsu, như những lời trăn trối của Ngài, trước khi Ngài đón nhận chén cay đắng nhất.

Ngài nói với các môn đệ: “Ai YÊU MẾN Thầy thì sẽ GIỮ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai KHÔNG YÊU MẾN Thầy thì KHÔNG GIỮ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy. Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. Với nhân tính, Ngài cũng cảm thấy lưu luyến và buồn khi phải chia tay người thân, và chắc hẳn lúc đó các môn đệ cũng buồn lắm. Nhưng Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần đến để an ủi và nâng đỡ họ trong mọi hoàn cảnh.

Ai theo Chúa Giêsu và giữ lệnh truyền của Ngài thì sẽ an tâm vui sống, vì chính Ngài là nguồn bình an, là nền hòa bình đích thực. Thật vậy, chính Ngài đã xác định: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em KHÔNG theo kiểu thế gian. Anh em ĐỪNG XAO XUYẾN cũng ĐỪNG SỢ HÃI. Anh em đã nghe Thầy bảo: ‘Thầy ra đi và đến cùng anh em’. NẾU anh em yêu mến Thầy thì hẳn anh em ĐÃ VUI MỪNG vì Thầy ĐI VỀ cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha CAO TRỌNG hơn Thầy. Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin”.

Phàm nhân yếu đuối và hèn mọn, nhưng lại thật hạnh phúc khi được Thiên Chúa củng cố niềm tin. Chúa Giêsu minh định: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy (Ga 14:6). Ngài còn là Ánh Sáng soi cho thế gian biết đường đi nước bước: “Tôi là ánh sáng đến thế gian” (Ga 8:12; Ga 12:46). Ánh sáng đối nghịch với bóng tối. Ánh sáng luôn cần thiết để chúng ta khả dĩ nhận biết mọi thứ.

Nhưng làm sao phân biệt? Chuyện kể rằng… Người thầy hỏi các học trò: “Làm sao biết lúc nào là thời điểm tách biệt ngày và đêm?”. Một trò trả lời: “Thưa thầy, nếu nhìn từ xa mà chúng ta có thể phân biệt được con trâu và con bò”. Thầy lắc đầu. Một trò khác cho biết: “Thưa thầy, nếu nhìn từ xa mà chúng ta có thể phân biệt được cây xoài và cây táo”. Thầy vẫn lắc đầu. Lại một trò khác trả lời: “Thưa thầy, nếu nhìn từ xa mà chúng ta có thể phân biệt được con gà và con vị”. Cứ thế, mỗi trò có một nhận xét khác nhau, nhưng thầy vẫn bảo là không đúng.

Cuối cùng, thầy nói: “Đó là lúc người ta có thể nhận ra nhau bằng tình đồng loại, lòng yêu thương, lòng thương xót. Có ánh sáng tình yêu thì người ta có thể nhận biết mọi thứ”. Cách phân biệt thật tuyệt vời!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết sống trong Ánh Sáng Tình Yêu của Ngài bằng cách thực thi lòng thương xót đối với tha nhân, nhất là đối với những người hèn mọn. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Trầm Thiên Thu

Comments are closed.