Lễ Bổn Mạng Tỉnh Dòng 2016

0

LỄ BỔN MẠNG TỈNH DÒNG 2016

31

Chúng ta mừng lễ “Nữ Vương các thánh tử đạo” bổn mạng tỉnh dòng, trong bối cảnh kỷ niệm 50 năm thành lập; nhưng đồng thời, chúng ta cũng đang mừng kỷ niệm 800 xác nhận dòng Anh em Giảng thuyết. Vì thế tôi xin chọn đề tài “đời sống tu trì với việc tử đạo theo thánh Tôma”, bởi vì thích hợp cho các phần tử của tỉnh dòng cũng như cho tất cả anh em dòng Đaminh.

Trước khi vào đề, thiết tưởng nên có đôi lời dẫn nhập lịch sử. Tỉnh dòng Đaminh Việt Nam mang thánh hiệu là “Nữ Vương các thánh tử đạo” (không có “thánh” trong nguyên bản: Regina martyrum). Tục lệ nhận một tước hiệu làm bổn mạng tương đối mới mẻ, từ thế kỷ XVI. Trước đây, các tỉnh dòng mang tên địa danh của mình, thí dụ: Hispania, Pháp, Toulouse, Lombardia, Ba lan, vv. Tại Tây ban nha, trước đây có ba tỉnh dòng: Hispania, Aragon, Betica. Tỉnh dòng truyền giáo Viễn Đông của các anh em Tây ban nha mang tước hiệu: “Rất thánh Mân côi Phi-luật-tân”. Nếu tỉnh dòng Mẹ đã mang tước hiệu kính Đức Mẹ, thì đến lượt tỉnh dòng Con nhận Đức Mẹ làm bổn mạng cũng là chuyện thường tình. Chúng ta đã biết là trước đây, lễ bổn mạng được mừng vào ngày thứ Sáu liền trước Lễ Lá, và bây giờ chuyển sang ngày 15/9. Trong cả hai trường hợp, lịch phụng vụ ghi tên ngày lễ là “Lễ Đức Mẹ Sầu bi” (hoặc “Đức Mẹ bảy sự”, “Bảy sự thương khó Đức Mẹ”: Addolorata, dolorosa, compassio, septem dolorum). Dòng Đức Mẹ Đồng công cũng chọn ngày này làm bổn mạng. Tước hiệu “Nữ vương các vị tử đạo” không được phổ thông lắm.

Tại sao, tỉnh dòng Việt Nam chọn danh hiệu “Nữ vương các vị tử đạo”? Trong bản kỷ yếu xuất bản vào dịp thành lập (1967), ban biên tập nêu lên ba lý do: “Nhớ nguồn – Định hướng đi – Cầu xin sức mạnh”. Đó là những lý do nổi; còn lý do chìm, theo chỗ tôi biết, là vì khi vào Dòng, cha Nguyễn Văn Liêm (giám tỉnh tiên khởi) đã chọn tên là “Regina martyrum”, và ngài muốn cho tỉnh dòng cũng mang tên ấy. Tại sao ngài thích tên ấy? Tôi không rõ. Chỉ biết rằng “Nữ vương các vị tử đạo” cũng là tước hiệu của ngôi thánh đường tại Khoái đồng, được cất gần pháp trường nơi nhiều tín hữu đã tuẫn đạo. Nếu tôi không lầm, vào thời ấy tại Bắc Việt chỉ có hai nhà thờ mang tước hiệu Nữ Vương các thánh tử đạo: nhà thờ Khoái đồng khởi công năm 1934 và thánh lễ được cử hành năm 1941; và nhà thờ ở Cửa Bắc Hà Nội, được xây cất năm 1925. Thực ra vào lúc đầu người ta muốn dâng kính các tử đạo Việt Nam, nhưng vì hồi đó các ngài mới chỉ là chân phúc, cho nên Tòa Thánh bảo phải dâng hiến cho Nữ Vương các thánh tử đạo (chứ không thể dâng hiến các chân phúc tử đạo).

Tỉnh dòng Đaminh Việt Nam đã được xây dựng bởi máu các tử đạo. Trong số 117 thánh Tử đạo Việt Nam, người ta đếm được 6 giám mục và 16 linh mục Dòng Nhất, 1 linh mục và 12 giáo dân Dòng Ba Đaminh. Dưới một phương diện khác, trong hai thế kỷ XVIII-XIX, đã có 35 (trên tổng số 134, tức là hơn 26%) anh em Đa Minh Việt Nam tuẫn giáo, mặc dù chỉ có 11 vị được tôn kính trên bàn thờ. Dù sao, điều không nên bỏ qua là ơn phúc tử đạo không chỉ được ban cho tỉnh dòng Việt Nam mà còn do toàn Dòng. Ngay từ thế hệ đầu tiên, đã có 3 chân phúc tử đạo tại Toulouse năm 1242 (Guillaume Arnaud, Bernard Rochefort, Garcia d’Aure); chân phúc Sadoc và 48 anh em tỉnh dòng Balan chịu tử đạo ở Sandomierz (Balan) khi đang hát kinh Salve Regina năm1260; nổi tiếng hơn cả là thánh Phêrô Verona bị giết năm 1252 và được phong thánh năm 1253; ngài là vị thánh thứ hai của Dòng sau đấng sáng lập. Trong sổ thống kê năm 2015, gia đình Đaminh có 77 thánh (trong đó 57 vị tử đạo), 285 chân phúc (trong đó 198 tử đạo): một tỉ lệ khá cao. Nhưng thế nào là tử đạo? Chúng ta hãy tìm hiểu thần học về việc tử đạo, dựa theo thánh Tôma. Ngày mai, chúng ta sẽ tìm hiểu mối liên hệ giữa ơn gọi tu sĩ và ơn gọi tử đạo. Chúng ta sẽ theo dõi vấn đề theo lối văn “hỏi thưa”.

H. Tử đạo là gì? Có phải là « con đường chết » không ?Hay là « đạo chết » ?

T. Tử đạo không phải là con đường chết. Con đường chết được gọi là « tử lộ » thì đúng hơn. Để tránh hiểu lầm, có lẽ nên viết đầy đủ « tử vì đạo », nghĩa là chết vì đạo.

H. Đạo nào cũng có người dám hy sinh mạng sống để bảo vệ chân lý. Họ có phải là tử vì đạo không ?

T. Dĩ nhiên, đối với đạo của họ, thì họ đáng được suy tôn như là « tử vì đạo ». Thậm chí, các cơ quan ngôn luận của nhà nước cũng dịch « các liệt sĩ » là martyrs.

H. « Martyrs » tiếng Anh và tiếng Pháp chỉ là chuyển âm của danh từ « martyres » tiếng Latinh, hay nói chính xác hơn nữa, gốc Hy-lạp. Trong tiếng Hy-lạp, martys có nghĩa là « chứng nhân ». Có gì khác biệt giữa « chứng nhân » và « tử đạo » ?

T. Tất cả các tín hữu đều được mời gọi làm chứng cho Tin mừng; việc làm chứng này kèm theo nhiều gian truân và kể cả cái chết (Lc 21,12-13). Tuy nhiên, ngay từ thời các giáo phụ, người ta đã dùng từ martyr theo một nghĩa chặt chẽ. Thật vậy, theo một nghĩa rộng, tất cả các tín hữu đều có nghĩa vụ làm chứng nhân; nhưng vào thời bách hại tôn giáo, nghĩa vụ này trở nên cấp bách và nguy hiểm hơn. Từ đó, người ta phân biệt bốn cấp độ làm chứng. Thứ nhất, làm chứng trong cuộc đời. Thứ hai, làm chứng khi bị điệu ra trước tòa án. Thứ ba, những người bị đánh đập, giam tù, nhưng sau đó được tha về. Thứ bốn, những người bị giết. Theo nghĩa chuyên môn, danh từ martyr chỉ được dành cho cấp thứ bốn này.

H. Trong tiếng Việt, “tử đạo” thường đi đôi với “anh hùng”, có phải vì muốn đề cao lòng dũng cảm của các ngài không?

T. Thánh Tôma đề cập đến việc tử đạo trong khảo luận về nhân đức hùng mạnh (fortitudo: can đảm, anh hùng, mạnh bạo, dũng cảm). Việc tử vì đạo là một hành vi của đức hùng mạnh (ST I-II, q.124). Đặc trưng của đức hùng mạnh là gắn bó với điều thiện đứng trước những hiểm nguy, đặc biệt là hiểm nguy đến mạng sống. Khi chịu chết vì đạo, con người thực hành nhân đức hùng mạnh cách trổi vượt, bởi vì họ không từ bỏ đức tin và công lý đứng trước nguy cơ phải chết; ra như họ phải chiến đấu chống lại những người bách hại mình.

H. Có gì khác biệt giữa một anh hùng hy sinh vì tổ quốc với một anh hùng tử đạo ?

T. Tuy rằng sự tử đạo được coi như một hành động của đức hùng mạnh, nhưng không phải chỉ có thế mà thôi. Còn nhiều nhân đức khác không kém quan trọng đi kèm theo việc tử đạo, đặc biệt là đức tin và đức mến. Người tử đạo chết vì đức tin. Giáo hội khâm phục những nhà cách mạng chết vì lòng yêu nước hoặc các người tử đạo vì niềm tin tôn giáo của họ, nhưng sẽ không phong thánh cho họ. Giáo hội chỉ phong thánh cho những người chết vì chân lý đức tin Kitô giáo. Một nhân đức khác không thể thiếu là đức ái. Thánh Phaolô quả quyết rằng: “giả như tôi phân phát hết tài sản, hoặc để thân thể bị thiêu đốt mà thiếu đức ái, thì cũng chẳng được lợi ích gì” (1Cr 13,3). Quả vậy, đối với Kitô giáo, chỉ được gọi tử đạo đúng nghĩa khi nó được thực hiện vì “yêu mến” Chúa Kitô hoặc là vì Nước Trời, như chính Chúa đã nói: các con sẽ chịu bách hại “vì Thầy” (Mt 5,11), “vì danh Thầy” (Ga 15,21). Vì thế việc tử đạo là một bằng chứng của đức ái trọn hảo, bởi vì chúng ta chứng tỏ tình yêu đối với ai khi chúng ta dám hy sinh những gì là quý giá nhất của mình, đó là mạng sống của mình, như chính Chúa đã dạy: “không có tình yêu nào cao quý cho bằng hiến mạng sống cho người mình yêu” (Ga 15,13).

H. Theo giáo luật hiện hành, phải có những điều kiện gì để được gọi là “tử đạo”?

T. Dựa theo thần học của thánh Tôma, đức thánh cha Bênêđictô XIV (1734-38) đã quy định ba điều kiện phải cứu xét trong vụ phong thánh tử đạo, đó là: a) bị giết chết; b) hoàn cảnh về phía người gây ra cái chết: vì thù ghét đức tin hay Giáo hội; c) động lực về phía người chịu chết: làm chứng cho đức tin vì lòng yêu mến.

          1/  Điều kiện thứ nhất là bị giết chết. Nếu ai chỉ bị bắt bớ, tra tấn tù đày, rồi được thả về thì không được kể là tử đạo (cho dù sau đó họ phải chết vì những thương tích gây ra bởi sự tra tấn).

          2/ Điều kiện thứ hai xét về phía người giết: đó là vì họ ghét đạo (ex odio fidei), chứ không phải tư thù cá nhân, hoặc vì lý do nào khác (chẳng hạn vì lý do chính trị).

          3/ Điều kiện thứ ba xét về phía nạn nhân: họ chấp nhận chết vì lòng mến Chúa Giêsu, với tinh thần tha thứ yêu thương, chứ không nguyền rủa thù hận. Họ chết  để biểu lộ lòng trung thành với đức tin. Tuy nhiên, đức tin không chỉ gồm những chân lý phải tin nhận trong lòng, nhưng còn phải diễn ra cuộc sống nữa. Vì thế tất cả những hành vi nhân đức quy hướng về Thiên Chúa đều có thể coi như là sự biểu lộ đức tin và trở thành duyên cớ cho sự tử đạo,  chẳng hạn như thánh Maria Goretti chết về bảo vệ đức trinh khiết.

          Vào thời nay, ba điều kiện kể trên không lúc nào cũng dễ áp dụng và chứng minh. Có những trường hợp những tín hữu bị bắt cóc và thủ tiêu mà không để lại một vết tích gì. Có những tín hữu bị giết nhưng bị chụp mũ là vì tội phản quốc. Trong lịch sử Dòng Đaminh Việt Nam hậu bán thế kỷ XX, có nhiều anh em qua đời ở những trại tập trung, nhưng không ai biết họ bị giết lúc nào, vì lý do gì. Rồi còn phải nói gì đến những người hy sinh mạng sống của mình để phục vụ các bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm: có phải là tử đạo không?

          Dù sao, chúng ta đừng quên rằng: tử đạo là một ân huệ Chúa ban. Giáo hội không khuyến khích chúng ta đi nộp mình cho đối phương để được tử đạo, lại càng không cổ động ai ôm bom tự sát. Nhưng chúng ta có thể nuôi dưỡng lòng ước áo tử đạo qua đời sống tu trì.

Giuse Phan Tấn Thành O.P.

Comments are closed.