Thung lũng nước mắt – Suy niệm CN XXIII TN, năm C

0

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN, NĂM C

67

LỜI CHÚA: Lc 14, 25 – 33

Hồi nhỏ bố tôi biết tôi thích đi tu nên ngài bắt đầu dạy tôi những bài học về Thập giá, những bài học đó rất khô khan và khó nuốt đối với tuổi của tôi. Mỗi buổi tối trước khi lên giường để mơ tiên, bố tôi đến đầu giường tôi và bắt đầu những bài học của Ngài. Ngày nào cũng như ngày nào vẫn một điệp khúc quen thuộc đó, ngài không chán cũng không mệt vì Ngài sợ tôi đứt gánh giữa đường, sợ tôi rơi vào trường hợp Chúa nói hôm nay: người xây tháp không toan tính trước nên bỏ cuộc. Một ông vua sắp giao chiến mà không bàn tính xem mình có thể đối đầu với đối phương thì sẽ thất bại.

Còn tôi thì rất buồn ngủ để nghe những bài học đắng đót đó, đắng đót vì tiếng ồn ào phá sự bình yên của giờ thần tiên, đắng đó vì chỉ có giây phút này mới đưa tôi vào giấc mộng đẹp mà bố tôi cứ quấy rầy nó.

Nằm học với tâm trạng chán ngán nên tôi luôn để ngoài tai. Bố tôi đánh thức rồi đến sát bên giường tôi Ngài nói bằng cả con tim yêu thương: muốn đi tu thì phải vâng lời. Bề trên sẽ thử thách con về đức vâng lời, thí dụ bề trên bảo con mở nước vào bể nước đầy hay trồng cây chuối ngược, con cũng phải vâng lời. Một tu đức đơn sơ chất phát, có thể chúng ta đánh giá là người không có trí phán đoán, thiếu suy nghĩ. Nhưng trong tình mến theo Đức Kito vô điều kiện thì sự vâng lời như xác chết kia, sự từ bỏ mình hoàn toàn kia lại có giá trị gột rửa cái tôi, đẽo gọt ý riêng để có thể vượt qua những thử thách trong tương lai. Bố tôi sợ tôi hồ hởi theo hứng ban đầu mà quên đi sự chết cho chính mình trong đời tu và sự dứt bỏ quyết liệt những tương quan chân chính, ngay cả những gì rất cần cho cuộc sống nữa vì Nước Trời, để không rơi vào tình trạng nửa chừng xuân là điều bố tôi rất kỵ.

Bài học khó hiểu này theo tôi vào dòng và theo đuổi tôi suốt đời khiến tôi thường thất bại khi thập gía đời thường đến. Khi học lớp 7( đệ lục ngày xưa), chị giáo đã áp dụng bài học này cho tôi. Tôi đang phấn khởi học như chị em thì chị giáo, người được uốn nắn mài giũa trong đau khổ và ngài đã trưởng thành trong đường khổ giá, ngài đã lấy chính cái kinh nghiệm của mình để giáo dục chúng tôi, Ngài đưa chúng tôi đi vào đường thập giá ngay đầu đời tu, ngài bảo hai chị em chúng tôi ở lại lớp. Tôi choáng váng vì tôi là cô bé ham học nên không dễ chấp nhận điều này. Tôi thưa với chị giáo: Thưa chị, tại sao chúng em phải ở lại lớp ạ?

Chị trả lời: Hai em còn nhỏ chưa đủ tuổi vào nhà thử.
Tôi cũng vẫn lý luận theo kiểu cây chuối ngược: Học giỏi sao phải ở lại lớp? Nếu chưa đủ tuổi thì học tiếp.
Lập luận như thế nên tôi nhất định không đi vào đường khổ giá. Chúng tôi ngồi lì ở lớp đệ ngũ đúng một tuần. Các chị giáo động viên khuyến khích nhưng vô ích vì tôi không hiểu được sự thử thách này. Con đường Thập giá kia vẫn mù mờ đối với tôi, mờ đến nỗi tôi rất thích tu nhưng cũng không sợ phải về dẫu có phải gọt đầu bôi vôi.

Chúa thương chúng tôi non dại và khờ khạo trước màu nhiệm cao quí của Thập giá nên Ngài vẫn kiên nhẫn chờ đợi chúng tôi.

Dần dần bài học của bố tôi lại hiện lên trong đầu tôi, cái bài học khó hiểu này. Bể nước đầy và cây chuối ngược cứ theo tôi để mài dũa cái tôi của tôi. Cái tôi của tôi quá lớn để kết án sự vô lý, dại khờ và u mê của Thập giá. Nhưng trong tiến trình huấn luyện chị giáo luôn luôn uốn nắn chúng tôi vào con đường hẹp của Tin Mừng và chị khao khát chúng tôi quen dần với con đường chông gai này. Còn chúng tôi rất khó chịu và chói chang khi phải đối diện với thập giá. Một hôm trong lúc chúng tôi đang im lặng dùi mài bút nghiên thì cuối lớp một tiếng hô lớn phá tan bầu không khí thinh lặng: Đời như bãi cứt bò khô! Chúng tôi cười rộ nhìn xuống chỗ tiếng kêu thấy một chị em cùng tuổi như tôi đang rươm rướm nước mắt. Tôi hiểu và khép ngay nụ cười lại. Tội nghiệp cho tôi và cho chị bạn còn quá non dại với con đường Thập giá. Chúng tôi chưa lớn lên được vì con đường thập giá còn quá mù mịt với chúng tôi. Chúng tôi chưa cảm được vị ngọt sau vị đắng.

Sau này khi là một nông dân như mọi người tôi đã cảm được điều lý thú này để suy về cái khổ giá cuộc đời. Chị em chúng tôi thời khó khăn sống kiếp nghèo của dân tộc, chúng tôi phải đi kiếm mọi thứ rau thiên nhiên để dỗ dành bao tử, trong đó có rau đắng đồng nội được chị em chúng tôi rất dễ khiếm vì nó mọc tràn lan nơi các ruộng đồng. Rau này rất khó nuốt vì nó có vị đắng đậm. Để có thể dễ đưa qua cổ họng, chị em chúng tôi bỏ đường vào canh. Nhưng sáng kiến của chúng tôi làm cho nồi canh mất hương vị của nó và còn tệ hơn trước: nó ngang, nó dở, nó khó nuốt hơn khi chúng tôi để nó là nó. Cái vị đắng khó nuốt kia một khi đã qua cửa họng rồi thì để lại một hương vị mát ngọt ở cổ. Cái vị ngon ngót này làm cho nhiều người nghiện đến khó quên.

Ý nghĩa của thập giá cũng giống như cái đắng của rau đắng. Thập giá mà tôi vừa chạm phải cũng giống như cái đắng của rau đắng nhưng khi nuốt xong, một sự bình an, dịu ngọt tuôn đổ trên tôi. Cái đắng của thập giá vẫn thế nhưng tình yêu sẽ cho người mang cảm được vị êm ái, Chúa nói: “ Ach Ta êm ái, gánh Ta nhẹ nhàng”.
Nói thế không phải là tôi thuộc trường phái thích đau khổ hay là người thích làm cho người khác đau khổ. Đau khổ vẫn là đau khổ và tự bản chất nó đã làm cho nhiều người sợ hãi.Và từ ngàn xưa người ta vẫn thắc mắc tại sao Thiên Chúa tình yêu muốn cho con người hạnh phúc mà sao đau khổ vẫn tồn tại?

Triết gia Epicure đã lý luận như sau: “ Thiên Chúa muốn khai trừ sự dữ và Ngài không thể, thì Ngài không quyền năng. Hay Thiên Chúa không muốn và Ngài cũng không có thể, như thế Ngài không phải là Thiên Chúa. Hay Ngài có thể hủy diệt nó nhưng Ngài không muốn, thế thì Ngài là kẻ gian ác. Hay Ngài có thể và Ngài muốn, thế thì Thiên Chúa đó ở đâu và sự dữ từ đâu đến?

Con người có đức tin trả lời: “ Đau khổ là do tội lỗi con người gây ra như chiến tranh, khủng bố, ô nhiễm v.v…” Nhưng còn biết bao đau khổ thiên tai, hạn hán v.v… không do con người gây ra thì sao?

Cha Rey Mermet nói: “ Chúa Kito, người công chính , Ngài không đến để chiến đấu chống lại nó. Ngài đến để hủy diệt nó. Ngài chiến thắng nó. Sự nổi loạn của con ngươi cũng chính là sự nổi loạn của Ngài. Ngài chữa bệnh, phục sinh kẻ chết, tha tội là nguồn gốc mọi đau khổ”. Nhưng Ngài nhìn đau khổ dưới khía cạnh tích cực và Ngài đi vào đau khổ như một con đường cần thiết để cứu độ nhân loại và đi vào vinh quang: “ Thật, Ta nói cho các con biết: Nếu hạt lúa miến không rơi xuống đất và không chết đi, nó sẽ trơ trụi một mình, nhưng nếu nó chết đi nó sẽ mang nhiều bông hạt khác”(Jn 12, 24).

Như thế con đường Thập giá mà Chúa Giesu mời gọi chúng ta bước theo Ngài không phải là ngõ cụt nhưng là cửa bước vào vinh quang. Chúa muốn những người theo Chúa phải lựa chọn rõ ràng và dứt khoát. Phải mang thập giá và đi vào con đường của Ngài. Ngài không muốn chúng ta ảo tưởng vì chúng ta không thể hơn Thày mình được. Con đường tước bỏ mà Chúa Giesu đòi hỏi không phải để làm chúng ta đau khổ hay nghèo nàn nhưng để cho chúng ta được giầu có, sự giầu có của Nước Trời.

Thập giá và vinh quang là hai mặt của một thực tại. Thập giá là con đường duy nhất để đến vinh quang.
Thế nên đau khổ không phải là một hình phạt, là một sự kết án, nhưng nó là một sự chuyển hóa, một luật chung… Con sâu róm phải lột cái ghê gớm của mình để biến thành con bướm đẹp. Quả trứng phải vỡ ra để cho gà con xuất hiện. Thánh Phaolo nói: “Chúng tôi luôn luôn mang trong mình cuộc thương khó của Chúa Giêsu, để sự sống của Chúa Giesu được biểu lộ trong thân xác hay chết của chúng tôi”. ( Cor 4, 10-11)

Thiên Chúa không làm khổ chúng ta nhưng không còn con đường nào khác để đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Ngài biết tất cả những nghiệt ngã của con đường này nên đã phải đi trước để làm gương và dẫn bước chúng ta vượt qua những đường hầm tăm tối mà tự sức chúng ta không nuốt nổi.

Xin Đấng đã tự nguyện đi vào con đường thập giá cách hiên ngang và can đảm giúp chúng ta đi trọn đường Thập giá mà Chúa luôn mời gọi chúng ta bước theo với lòng tin yêu và phó thác để cây đắng kia trở nên nguồn cứu độ cho chính chúng ta và cho toàn thế giới.

Nt. Faustina Lý Thị Báu.

Comments are closed.