Hai loại người cầu nguyện – Suy niệm CN XXX TN, năm C

0

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN, NĂM C
HAI LOẠI NGƯỜI CẦU NGUYỆN

138

LỜI CHÚA: Lc 18,9-14

Tôi xin mược tư tưởng của tác giả Flor Mc Carthy để phĩng tc về việc tự mãn của sáu người đđ đạt được những thành công trong cuộc sống khi cám ơn Chúa.

Người thứ nhất nói: con cám ơn Chúa đã ban cho con có bát ăn bát để. Sở dĩ con được như ngày hôm  nay là do công lao của bàn tay con, do những giọt mồ hôi con đổ xuống để có được mảnh đất màu mỡ này. Còn người hàng xóm con nghèo nàn vì lười biếng, chơi bời, nhậu nhoẹt tối ngày.Thật đáng kiếp cho kẻ phá hoại không biết đề phòng tương lai. Con cái họ sẽ phải lãnh đủ hậu quả do tội lỗi của họ: “ đời cha ăn mặn thì đời con khát nước” quả không sai.

Người thứ hai cầu nguyện: Lạy Chúa con cám ơn Chúa vì chúng con có những người con ngoan, chăm học,chúng không lêu lổng như những trẻ bụi đời. Được như thế là do con đã đầu tư biết bao thời giờ để giáo dục chúng và ngày nay con mới hái được thành quả như thế. Thật tội nghiệp cho những cha mẹ không biết giáo dục con để giờ đây chúng lâm vào đầu trộm đuôi cướp, sì ke ma túy để lại gnh nặng cho xã hội.

Người thứ ba: Lạy Chúa con cám ơn Chúa, đám cưới của con được diễn ra cách rất tốt đẹp và chúng con luôn được hạnh phúc, vì trước khi quyết định đi đến hôn nhân chúng con đã cầu nguyện và tìm hiểu rất kỹ. Hơn nữa, thường xuyên chúng con có những kỳ nghỉ để hâm nóng tình yêu. Còn đôi bạn của con đã bị gẫy đổ ngay giây phút đầu vì bồng bột, nhẹ dạ, khơng tìm hiểu, khơng cầu nguyện nn tình yu chợt đến rồi lại vội bay. Thật tội nghiệp!

Người thứ tư: Lạy Chúa con cám ơn Chúa, con không say sưa như những người khác. Khi dự những tiệc vui con biết dừng đúng lúc, con biết làm chủ bản thân mình nên không rơi vào tình trạng say mèng làm cho vợ con khổ. Còn bạn con, thằng say bí tỉ, nghiện ngập be bét lại thêm cái nỗi cờ bạc thâu canh , một gánh nặng khôn lường cho gia đình. Nó thật khốn khiếp!

 Người thứ năm: Lạy Chúa, con cám ơn Chúa, gia đình con đạo đức, con đến nhà thờ thường xuyên. Con và con cái con siêng năng đi lễ, con đã tập thói quen tốt lành này từ nhỏ. Còn gia đình bên cạnh con bỏ lễ Chúa nhật thường xuyên, đạo nghĩa chẳng ra gì, chỉ lo cắm cúi làm ăn. Sau này chết mới mở mắt ra là tiền của không mua được Nước trời.

Người thứ sáu: Anh không đi vào trong nhà thờ nhưng anh cầu nguyện: Lạy Chúa con cám ơn Chúa, con không giống đám đông này, họ đi lễ mọi chúa nhật để thờ lạy Chúa. Họ gặp gỡ nhau vui vẻ và chào nhau bằng cái chào bình an, nhưng con biết một sự thật nơi họ là một số người trong họ còn ghen ghét nhau, không nói chuyện với nhau. Còn con, con biết con không thánh nhưng con cũng kha khá, ít ra con cũng là kẻ lương thiện.

Người Pharisieu trong câu truyện hôm nay không phải là tên lưu manh. Sự thật, ông là người lương thiện, là người tin và là một người giữ luật cẩn thận, ông làm hơn những gì luật dạy. Ông ăn chay một tuần hai lần, ông  bố thí và làm nhiều điều tốt lành khác nữa. Ông đã làm rất nhiều cho Chúa và ông nghĩ Chúa mắc nợ ông. Ông khinh bỉ những người khác. Ông là kẻ kiêu ngạo vì ông dựa vào sức mình. Ông không cầu nguyện với Thiên Chúa nhưng là cầu nguyện với chính mình. Lời cầu nguyện rất ngắn ngủi nhưng ông đã qui vào ông đến sáu lần. Thiên Chúa không có chỗ đứng trong con người và trong lời cầu nguyện của ông.

Người Pharisieu không biết tội mình, ông nghĩ ông không có tội, ông nghĩ ông không phải là tội nhân như những người khác. Nên thay vì xét lương tâm mình để xưng thú tội mình thì ông xét lương tâm người khác và xưng thú tội của họ: tham lam, bất chính, ngoại tình, trộm cắp…

Cái tội lớn nhất của người pharisieu là tội kiêu ngạo, cái tội đã làm cho các thần sáng láng trong tí tách phải xuống hỏa ngục. Cái tội làm cho người công chính trở thành kẻ tội lỗi. Tôi còn nhớ mãi câu truyện đọc từ bé: một thày dòng được người ta nhận là rất thánh thiện, khi thày gần chết, một gái làng chơi lẫn trong giáo dân đến cầu nguyện cho thày. Thấy thày dòng nằm trên giường giữa những ảnh tượng, nước phép, nến phép và đang lịm dần giữa tiếng cầu kinh của các anh em đứng bên cạnh. Người kỵ nữ buột miệng kêu lên: Ước chi tôi được cái chết thánh thiện như thế này. Nàng vừa dứt lời, thì một tiếng thì thào nơi giường người sắp chết đáp lại: Đúng thế! Nghe thế, nàng chạy bán sống bán chết với những giọt nước mắt chảy dài theo dấu chân chạy của chị và chị vấp ngã. Cái vấp ngã đã đưa chị về thế giới bên kia. Vài phút sau thày dòng kia cũng chết. Tác giả dừng lại đó và không bàn gì thêm, nhưng người đọc chắc cũng hiểu được cái kết của câu truyện.

Như người Pharisieu, chúng ta rất ý thức về tội của người khác nhưng không nhận ra lỗi lầm của mình. Rất dễ để xưng tội của người khác và rất khó nhìn vào mình.

Người Pharisieu cảm tạ Chúa là kể công những gì ông đã làm cho Người chứ không phải những gì Người đã làm cho ông, đó không phải là hành vi tạ ơn. Hơn nữa, lòng biết ơn của ông cũng sai lầm vì nó phản lại đức ái: “ Tôi không như những người khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình và như người Pupicano kia…” Ông đã nhốt mình vào chính mình, ông đã dựng lên một bức tường ngăn cách chung quanh mình.

Trái lại, người Pupicano trong một thái độ chân thành và khiêm tốn, anh đứng đằng xa, không dám ngước mắt lên trời, anh đấm ngực và nói: “ Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Anh đã thấm sâu tội lỗi của anh và trước nhan Chúa anh cảm thấy mình không xứng đáng để nhìn Chúa và anh em. Tội lỗi của anh lớn lao và con người anh đang trĩu nặng một bồ tội với Thiên Chúa và anh em. Anh đứng ở một góc tối xa nhan Chúa và van xin lòng thương xót của Chúa. Anh không dám cầu nguyện nữa vì thấy mình bất xứng, anh chỉ thốt ra những lời xưng thú rất khiêm tốn để xin Chúa rủ thương. Anh đấm chính ngực mình và cũng không dám nhìn người công chính ở trước mặt mình vì anh là kẻ tội lỗi. Anh rất cần sự tha thứ của Chúa trong khi người Biệt Phái kia không cần sự tha thứ vì ông có tội gì đâu. Ông tự tin về sự công chính của mình. Điều nghịch lý là khi ông hãnh diện không cần ơn công chính hóa thì khi trở về ông lại bị “ bất chính hóa”. Còn kẻ coi mình là người có tội chẳng có công lênh gì thì khi trở về lại được công chính hóa.

Người Biệt phái không xin gì vì ông hoàn toàn thỏa mãn với cái ông có , còn người thu thuế anh thiếu mọi sự nên anh phải mở lòng ra để Thiên Chúa đổ hồng ân của Ngài vào lũng sâu tăm tối của hồn anh.

Khi đi thăm những anh em rối, những người bỏ đạo lâu năm, nhiều khi tôi cũng rơi vào trường hợp của người Pharisieu này. Tôi cầu nguyện với Chúa: Chúa ơi sao họ cứng lòng quá, con van xin, mời gọi, mà họ vẫn mần ngơ. Tôi tưởng lời cầu nguyện của tôi có thể xoay vần được núi đồi trong chốc lát. Và nhiều khi tôi cũng tự mãn là lời cầu của tôi có kết qủa, tôi mừng vui vì đã thuyết phục được người này tin Chúa, người kia bỏ được đường tội lỗi. Tôi có biết đâu rằng những kết quả tôi gặt hái được là do những hy sinh và lời nguyện âm thầm của những người vô danh tiểu tốt, của người bệnh tật, đau khổ, già yếu, cô đơn cô độc, của những người bé nhỏ về mọi phương diện và thậm chí của cả những người tội lỗi nhưng họ khiêm tốn mở ra van xin lòng thương xót của Chúa để cầu nguyện cho tôi đó không?

Xin Chúa cho tôi được khiêm tốn đủ để không nhận ơn Chúa là của mình nhưng biết nhận mình là tội lỗi, thân phận khốn cùng, sức lực yếu đuối, thân xác mỏng manh. Tôi cần lòng xót thương của Chúa. Tôi không thể thoát ra khỏi con người bất toàn của mình, Tôi ngã đi ngã lại. Biết bao quyết tâm, ơn Chúa, lời cầu nguyện nhưng nó vẫn làm tôi nhức nhối. Tôi thâm tín tâm hồn xứng hợp là khiêm nhường, khiêm nhường là nhận mình là kẻ tội lỗi: “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

Nữ tu Faustina Lý Thị Báu

Comments are closed.