Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Phaolô VI Cho Ngày Khánh Nhật Truyền Giáo, 1965

0

Thứ bảy, 23 tháng 10, 1965

 Các Hiền Huynh đáng kính và các con thân mến,

Với tất cả tấm lòng, chúng tôi muốn đích thân mời gọi anh em hướng tới “Ngày Thế giới Truyền giáo”, vừa nhằm liên kết sự cộng tác nhiệt tình của chúng tôi trong việc diễn tả đặc tính truyền giáo, bản chất của Hội Thánh thánh thiện của Chúa Kitô, và được công bố với kết quả tuyệt đối trong những ngày diễn ra tại Công Đồng Chung, vừa để đáp lại hai tiếng gọi cùng một lúc mà chúng tôi cảm thấy có bổn phận phải đón nhận: một tiếng gọi đến từ trời cao và một tiếng gọi đến từ trái đất.

Vang ra từ trời – và chúng ta nhận thức rõ tiếng đó mỗi ngày – một tiếng nói trang nghiêm, khuyên nhủ của Chúa: “cứ lấy hết gân cổ mà kêu lên, đừng kìm hãm, kêu lớn tiếng lên như tù và” (Is 58,1), như ngôn sứ Isaia đã được sai đi, không phải để khiển trách, nhưng là để mở rộng, để công bố, để làm cho niềm vui được rạng rỡ hơn, niềm vui tin mừng mà Đấng Cứu độ là Đức Giêsu đã đem đến cho trần gian, và trao cho Giáo Hội của Ngài, đặc biệt cho chúng tôi, Ngài được đặt trên ngai Chân lý : “tự mạc khải mình là Chúa”, Thiên Chúa làm cho mình được biết đến! Thiên Chúa tỏ mình như người Cha của hết thảy mọi người, mặc dù còn rất nhiều người trong số họ chưa được nhận biết Chúa. Người yêu họ, quan tâm đến họ, và muốn họ nên một với Người trong hạnh phúc vĩnh cửu của Người.

Sứ điệp này là sứ điệp của tình yêu và hòa bình, niềm tin cứu rỗi này, chúng tôi muốn công bố lớn tiếng và mong muốn rằng tất cả chúng ta cũng liên kết với mọi con cái của chúng ta, những người đã lãnh nhận hồng ân nhận biết Chúa Cha, Đấng ngự trên trời.

Tuy nhiên, một tiếng nói khác dường như khiến chúng tôi phải đón nhận và làm chúng tôi cảm thấy bối rối. Nó thúc đẩy chúng tôi nhìn lại sự thiếu sót của mình và điều đó khiến chúng tôi ước ao cho toàn thể Hội Thánh Chúa nên một với chúng tôi một cách ý thức để đưa ra câu trả lời đầy đủ, thích hợp và hiệu quả : đó là sự lo lắng và van xin đến từ mặt đất; các dân tộc mong muốn một cuộc chiến thắng về tình bác ái huynh đệ, về hòa bình và trong việc nhận người Cha chung là chính Thiên Chúa. “Thưa thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha” (Ga 14, 8).    

Chúng tôi đã nghe tiếng nói  này thật mạnh mẽ, hùng hồn, nài nỉ ngay cả khi nó không diễn tả bằng lời trong các cuộc hành trình sứ vụ tông đồ của chúng tôi tại Palestin, tại Ấn Độ đến các Tổ chức Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi đã nghe tiếng nói đó và chúng tôi đã được nhắc nhở : chỉ mình Đức Giêsu Kitô là “Vua hoà bình”. Chúng tôi đã nghe tiếng nói đó và chúng tôi được nhắc nhở về sự van xin mà anh em dân ngoại từng nói với tông đồ Philiphê : “Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu” (Ga 12, 21).

Vì vậy chúng tôi phải nhanh chóng đưa ra câu trả lời khẩn cầu cùng Chúa là Chúa tể trời đất, được mạc khải trong Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, vì chỉ một mình Người là ánh sáng thật chiếu soi mọi người. Và ai thấy Người là thấy Chúa Cha! Nhưng dường như không có khoảnh khắc hạnh phúc và hứa hẹn nào hơn cho sự phát triển sứ vụ lớn lao của Giáo Hội : sự mong chờ của các dân tộc là mối bận tâm hơn bao giờ hết; sự thất vọng của mọi thời đại và các mối đe dọa về hòa bình cho thấy thời của Thiên Chúa đã đến gần.

Sự đáp trả cụ thể, sống động,  mở ra cho sự mong chờ của các dân tộc chính là câu trả lời của vị tông đồ truyền giáo như đã nói. Suy nghĩ của chúng tôi, sự ngưỡng mộ của chúng tôi, lòng biết ơn của chúng tôi hướng tới anh chị em, hỡi các nhà truyền giáo quí mến, các linh mục, các tu sĩ, các nữ tu và anh chị em giáo dân, những tông đồ Nước Trời, đã đáp trả lời mời gọi cao cả, từ bỏ gia đình, nhà cửa, quê hương xứ sở, để trở thành những người loan báo tình phụ tử của Thiên Chúa, về thần tính của Đức Kitô, về mầu nhiệm cứu độ trong Chúa Thánh Thần, đấng đang hoạt động trong Hội Thánh. Chúng tôi muốn thể hiện tấm gương của anh chị em với toàn thế giới, là  tán dương sứ mạng cao cả nhất của anh chị em, được thúc đẩy bởi tình yêu, được thêu dệt bằng hy sinh, được nuôi dưỡng bởi đức tin cho tới khi chịu hiến tế, để tất cả các kitô hữu hiệp thông với anh chị em trong lời cầu nguyện và cộng tác.

Tuy nhiên, ánh sáng của đức tin và chân lý được mạc khải sẽ không chiếu sáng trên mặt đất cũng như các dân tộc không thể nhận biết và đón nhận tình phụ tử của Thiên Chúa, nếu như tất cả các kitô hữu, thân thể sống động và không tách rời của Chúa Kitô, không tham gia vào công việc trực tiếp và khẩn cấp của các sứ giả Tin Mừng, ít ỏi, hạn chế và thiếu thốn, không cân xứng với những đòi hỏi của Nước Thiên Chúa, không ủng hộ, đoàn kết trong hiểu biết và thỏa thuận trong hoạt động. Thật vậy, các thợ làm vườn nho – những cánh tay đắc lực của Nước Thiên Chúa – có thể làm gì, nếu đàng sau họ, thân thể của Giáo Hội đang bị trì trệ và thờ ơ?

Vì vậy, lời mời gọi của chúng tôi tới toàn thể anh chị em kitô hữu càng mãnh liệt hơn, cấp bách hơn, thuyết phục hơn, bởi mọi con cái của Thiên Chúa, những người đang ở trong nhà của Cha hãy nhớ đến những anh em còn đang ở ngoài, và liên kết họ với chúng ta bằng lời cầu nguyện và bằng các việc thực hành đức ái đoàn kết huynh đệ.

Trước hết, bằng lời cầu nguyện, bởi vì chính Chúa Giêsu đã truyền dạy chúng ta : “anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa trong ruộng mình” (Mt 9, 38) và “không có thầy anh em không thể làm gì được” (Ga 15,5). Loan báo Tin Mừng được thực hiện nhờ ân sủng thực hiện nhờ ân sủng và ân sủng có được là nhờ lời cầu nguyện khiêm nhường.

Còn trong các công tác bác ái. Hiển nhiên trước những chiều kích rộng lớn của vấn đề truyền giáo, nhân loại càng rộng lớn bao nhiêu, thì càng phức tạp bấy nhiêu, vừa gia tăng số người ngoài kitô giáo, vừa có những cản trở của chủ nghĩa các dân tộc, của tình trạng dửng dưng tôn giáo và của thuyết tương đối, hoặc càng khan hiếm các thợ gặt và các phương tiện tông đồ, càng trở nên nghiêm trọng và cấp bách hơn bổn phận hiện diện trực tiếp, đồng thời có ảnh hưởng của Giáo Hội trên toàn thế giới.

Nhưng điều đó cũng thật rõ ràng khi sự hiện diện cứu độ của Giáo Hội, để đạt được hiệu quả cao và nhanh chóng, buộc phải có sự hợp nhất trong sự cộng tác của tất cả các thành viên, nghĩa là của tất cả các tín hữu, chung quanh vị mục tử duy nhất mà Thiên Chúa đã đặt làm đầu của Giáo Hội, để qua cái nhìn đồng nhất về tất cả các nhu cầu của một Giáo hội truyền giáo, Ngài có thể đáp ứng cách kịp thời sự hỗ trợ cần thiết cho mọi miền trên toàn thế giới.

Được biết rằng Giáo hội thường xuyên thông truyền ánh sáng chân lý bằng ngọn lửa tình yêu, và những công việc bác ái là những con đường dễ dàng nhất để biểu lộ Thiên Chúa là tình yêu. Vì lý do này, bất cứ nơi nào được mở ra, thì Giáo hội công giáo hiện diện với những công tác bác ái thuộc vật chất và tinh thần; trường học, nhà trẻ, bệnh viện; và ngay cả ngày nay, người ta còn đốt cháy ngọn lửa tình yêu đối với Thiên Chúa bằng cách tôn vinh hình ảnh của Người, có thể thấy trong mỗi tạo vật, qua các công trình của lòng thương xót.

Vì vậy, nếu Giáo Hội ngày nay, với sự cộng tác của tất cả các tín hữu Kitô giáo, hợp nhất với Đức Thánh Cha trong việc hỗ trợ các Hội Giáo Hoàng truyền giáo, có thể nhân rộng một cách đáng kể về các công tác bác ái truyền giáo, và việc truyền bá đức tin trong thế giới cũng sẽ tăng lên không thể so sánh được.

Do đó, trong khi chúng tôi ca ngợi và chúc lành cho mọi sáng kiến ủng hộ hợp tác truyền giáo, chúng tôi không thể không bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến tất cả các con, những người đã thấu hiểu tầm quan trọng của sự hợp nhất của tất cả những trợ giúp được hợp lưu trong tay của vị cha chung, đặc biệt là những người hỗ trợ cho các công cuộc truyền giáo của chúng tôi mà chính chúng tôi đã giới thiệu và có nhắc tới trong sứ điệp gửi cho “Ngày Thế Giới Truyền Giáo thế giới” năm 1963.

Với những món quà được dâng tặng cho Tòa Thánh, có thể thực hiện một văn phòng thường trú «praeses caritatis» (do một trong những người thuộc tổ chức từ thiện phụ trách), mà thánh Inhã thành Antiochia đã thiết lập từ đầu thế kỷ thứ nhất Kitô giáo, như dấu chỉ đặc trưng của Tòa thánh Phêrô, nền tảng và là thủ lãnh của tất cả các Giáo Hội.

Do đó, một lần nữa, chúng tôi đề nghị các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo cũng như những người thực hiện sự hợp nhất cộng tác giữa các tín hữu với Đức Thánh Cha. Các Ngài là những thợ gặt của Giáo Hội và là các anh em đáng kính của chúng tôi trong hàng Giám Mục, cùng chia sẻ trách nhiệm với chúng tôi trong việc cứu rỗi các linh hồn, các Ngài cũng mong  đó như là công việc riêng và tổ chức việc đó cách hiệu quả trong giáo phận của các Ngài, thông qua Hiệp Hội Giáo Hoàng Truyền giáo của các Giáo sĩ, cũng là linh hồn của các Ngài.

Với lòng biết ơn tới những người lắng nghe lời kêu gọi của chúng tôi, chúng tôi ưu ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho anh chị em, những anh em đáng kính của chúng tôi và cho đoàn chiên mà anh em đã được trao phó, cho từng thành viên giáo sĩ bản địa quí mến, cho các nhà truyền giáo, các dòng tu và các ân nhân, nhất là cho những ai yêu mến và trợ giúp với lòng hảo tâm tuỳ khả năng cho các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo quí mến của chúng tôi.

Chuyển dịch: Nt. Maria Phạm Thị Hoa, OP

Comments are closed.