Tuyên khấn để thi hành sứ vụ – Phần 3

0

Fr. Timothy Radcliffe, OP
Cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh

Trong Mùa Thánh Hiến năm nay của Hội dòng Đa Minh Tam Hiệp, Ban Truyền thông xin trích đăng lại một bức thư rất hay của cha Cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh – Timothy Radcliffe, OP đã được đăng trong tập sách “Hát lên bài ca mới” – Chân Lý 2000. Những ý tưởng của cha sâu sắc và giọng văn dịch thuật nhẹ nhàng, dễ đọc, dễ hiểu giúp cho độc giả có thêm chất liệu để hiểu về đời sống thánh hiến, lời khấn và sứ vụ của một người sống trong Ơn gọi của Dòng Thuyết Giáo.

Trong bài này, xin mời quý độc giả xem phần cuối của bức thư, đề cập đến lời khấn cuối cùng trong Ba Lời Khấn Dòng: KHIẾT TỊNH.

*****************************

ĐỨC KHIẾT TỊNH: TÌNH BẰNG HỮU CỦA THIÊN CHÚA

Chúng ta có một nhu cầu cấp bách là phải cũng nhau suy nghĩ về ý nghĩa của lời khấn khiết tịnh. Lời khấn này liên hệ đến những vấn đề chủ yếu của con người chúng ta: phái tính, thân thể, nhu cầu diễn tả và đón nhận tình cảm, thế nhưng chúng ta thường sợ phải nói đến. Vậy mà nhiều khi đó lại là lãnh vực mà  chúng ta phải chiến đấu một mình, chúng ta sợ bị phê phán hoặc không thông cảm.

Dĩ nhiên, cũng như các lời khấn khác, khiết tịnh là một phương tiện. Lời khấn này mang lại cho chúng ta sự tự do để đi giảng thuyết, tính di động để có thể đáp ứng những nhu cầu của Dòng. Nhưng đối với lời khấn này, có lẽ điều đặc biệt quan trọng là không được giữ lời khấn chỉ như một sự cần thiết khắc nghiệt. Nếu chúng ta không tìm hiểu cặn kẽ, thì sau khi đã tích cực sống lời khấn này qua một thời gian dài và qua nhiều đau khổ, nó có thể phá hoại cuộc đời chúng ta. Chúng ta có thể học hỏi về lời khấn này, bởi vì cũng như các lời khấn khác, lời khấn khiết tịnh hướng tới caritas, tình yêu, tức là chính sự sống của Thiên Chúa. Đó là một cách thế đặc biệt để yêu thương. Nếu không, khiết tịnh sẽ đưa chúng ta đến chỗ thất vọng và cằn cỗi.

Tội đầu tiên ngược lại đức khiết tịnh là không biết yêu thương. Người ta vẫn thường nói về thánh Đa Minh rằng, “vì thánh nhân yêu mến hết mọi người nên được mọi người mến yêu”. Một lần nữa, chúng ta lại đụng chạm đến vấn đề uy tín của lời chúng ta giảng. Chúng ta có thể nói Thiên Chúa là tình yêu thế nào được nếu tình yêu không phải là một mầu nhiệm mà chúng ta đang sống? Nếu quả chúng ta đang sống mầu nhiệm tình yêu, thì tình yêu sẽ đòi hỏi chúng ta chết và Phục sinh. Chúng ta bị cám dỗ để đào tẩu. Con đường thông thương là hoạt động thật nhiều, chìm ngập trong trăm công nghìn việc, thậm chí là việc tốt, việc quan trọng, để trốn tránh khỏi nỗi cô đơn. Chúng ta có thể bị cám dỗ trốn tránh thực tại là phái tính, là thân thể của chúng ta. Ấy thế mà Dòng lại ra đời đúng vào lúc có cuộc đấu tranh chống lại chủ thuyết nhị nguyên như thế. Thánh Đa Minh là người đã giảng thuyết chống lại sự phân rẽ thân thể với linh hồn, tinh thần với vật chất. Sự phân rẽ ấy vẫn còn là một cơn cám dỗ của thời đại. Một phần Iớn văn hóa hiện đại bị nhiễm thuyết nhị nguyên một cách sâu sắc. Phim khiêu dâm dường như là một cách để thỏa mãn tính dục, kỳ thực lại là trốn chạy, là từ chối bị tổn thương mà mối tương quan nhân loại đòi phải có. Người xem phải tránh né, có thể bị xấu hổ, phải cảnh giác, sự hãi.

Chính thân thể chúng ta đã được chúc lành và được thánh hóa trong mầu nhiệm Nhập thể. Nếu chúng ta phải là những người giảng thuyết về một Lời đã thành xác phàm, thì chúng ta không thể chối từ hoặc quên đi chúng ta là gì. Chúng ta có lo lắng cho thân thể anh em chúng ta, có bảo đảm rằng thân thể đó được đủ lương thực cần dùng, có săn sóc anh em khi anh em đau ốm, có ân cần khi anh em đã về già không? Để khích lệ một tu sĩ trẻ dòng Biển Đức đang phải chịu những đau khổ đầu tiên của tình bạn, anh Bede Jarrett OP viết:

Tôi sung sướng vì nghĩ rằng cơn cám dỗ của bạn cũng đã là cơn cám dỗ cửa Thanh giáo, cơn cám dỗ của một thái độ hẹp hòi, một thứ phi nhân nào đó. Bạn đi đến chỗ gần như từ chối rằng vật chất cũng đã được thánh hóa. Bạn yêu mến Thiên Chúa, nhưng thật ra không yêu mến mầu nhiệm Nhập thể. Quả thực bạn sợ hãi.[1]

Nền tảng đức khiết tịnh của chúng ta không bao giờ có thể ỉà sự sợ hãi, sợ phái tính, sợ thân thể của chúng ta, sợ những người khác phái. Sợ hãi không bao giờ có thể là nền tảng tốt lành cho đời tu được. Vì Thiên Chúa, Đấng đến với chúng ta, đã dám trở thành thịt và máu, cho dù điều đó đưa Người đến chỗ bị đóng đinh Thập giá. Cuới cùng lời khấn này đòi hỏi chúng ta phải đi tới nơi mà Thiên Chúa đã đi trước. Thiên Chúa chúng ta đã làm người, Người cũng mời gọi chúng ta như thế.

Thánh Thomas quả quyết một cách đáng ngạc nhiên rằng mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa là mối tương quan bằng hữu, amicitia. Tin mừng chúng ta rao giảng, đó là chúng ta tham dự vào mầu nhiệm vô biên của tình bằng hữu giữa Chúa Cha và Chúa Con, tức là Thánh Thần. Thực vậy, thánh Thomas cắt nghĩa rằng “các lời khuyên Tin mừng” là những lời khuyên do Chúa Kitô cống hiến cho tình bằng hữu. Lời khấn khiết tịnh là một cách để sống tình bằng hữu này. Để giúp chúng ta suy tư về những gì lời khấn này đòi hỏi, chúng ta hãy suy nghĩ vắn tắt về hai khía cạnh trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi: đó là một tình yêu tuyệt đối quảng đại, không chiếm hữu, và đó là một tình yêu giữa các ngôi vị bình đẳng.

MỘT TÌNH YÊU KHÔNG CHIẾM HỮU

Tình yêu trong Thiên Chúa Ba Ngôi là một tình yêu tuyệt đối quảng đại và không có tính cách chiếm hữu. Qua tình yêu đó, Chúa Cha trao cho Chúa Con tất cả những gì Người là, cả thần tính nữa; không phải là một tình cảm hoặc cảm xúc, nhưng là tình yêu làm cho Chúa Con hiện hữu. Bất kỳ tình yêu nào của con người, của những người đã lập gia đình hay của các tu sĩ, đều phải tìm cách sống và chia sẻ mầu nhiệm tình yêu ấy, chia sẻ sự quảng đại không nhằm chiếm giữ ấy. Là những người đã khấn giữ khiết tịnh, chúng ta hoàn toàn không được mơ hồ về những gì tình yêu này đòi hỏi chúng ta. Khiết tịnh không chỉ có nghĩa là không cưới vợ lấy chồng, nhưng còn có nghĩa là từ khước mọi hoạt động tính dục. Phải có thái độ từ khước rõ ràng và thực sự, một thứ khổ chế. Ngược lại, nếu chúng ta giả vờ và tự ý chấp nhận những thỏa hiệp, lúc ấy chúng ta đi vào con đường cùng, không còn chịu đựng nổi nữa, rồi gây ra những bất hạnh khủng khiếp cho chính mình cũng như cho nhiều người khác.

Điều thứ nhất phải làm, là tin rằng lời khấn khiết tịnh thực sự có thể là một cách thế yêu thương. Dù chúng ta có phải trải qua những lúc thất vọng và chán nản, khiết tịnh vẫn là con đường có thể làm cho chúng ta trở nên những hữu thể giàu tình cảm và hoàn toàn nhân bản. Những ngươi lớn tuổi trong cộng đoàn thường là những dấu chỉ đem lại cho chứng ta niềm hy vọng. Chúng ta gặp gỡ những người nam nữ đã vượt qua những thử thách về đức khiết tịnh và đã đạt tới sự tự do của những người có thể yêu thương trong tự do. Họ có thể là những dấu chỉ cho chúng ta thấy rằng không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được.

Để đi vào trong tình yêu tự do và không chiếm hữu, đòi hỏi phải có thời gian. Chúng ta có thể gặp những thất bại và nản lòng trên hành trình, Bây giờ nhiều người vào Dòng khi tuổi đã lớn, đã có những kinh nghiệm về phái tính, nên chúng ta đừng tưởng đức khiết tịnh như là sự thanh sạch mà chúng ta đã đánh mất, nhưng là một trái tim toàn vẹn trong đó chúng ta có thể lớn lên. Theo sự quan phòng của Thiên Chúa, chúng ta có thể vấp ngã, nhưng điều đó là cần thiết để chúng ta trưởng thành. Bởi vì “chúng ta biết rằng, nơi mọi sự Thiên Chúa đều đang hoạt động vì lợi ích của những ai mến yêu Người” (Rm 8:28),

Cộng đoàn phải là nơi chúng ta đem lại cho nhau sự can đảm khi trái tim người anh em chao đảo, đem lại sự tha thứ khi một người vấp ngã, và đem lại chân lý cho những ai tự lừa dối mình. Chúng ta phải tin vào sự tốt lành của anh chị em khi chính họ không tin. Không có gì độc địa hơn là khinh dể chính mình. Trong lá thư về “Đời sống cộng đoàn”, anh Damian Byrne [2] viết: Đang khi đền thờ sâu thẳm nhất trong con tim chúng ta được hiến dâng cho Thiên Chúa, ta lại có cảm nghiệm về những nhu cầu khác. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta để một phần quan trọng trong cuộc đời chúng ta có thể đón nhận người khác và cần thiết cho họ. Mỗi người chúng ta cần cảm nghiệm được mối quan tâm thực sự của các thành viên khác trong cộng đoàn, cảm tình, lòng quý mến và tình bạn của họ… sống chung có nghĩa là chia sẻ với nhau lương thực của lý trí và trái tim. Khi người tu sĩ không tìm được những thứ đó nơi cộng đoàn, họ sẽ đi tìm ở nơi khác. [3]

Đôi khi, để đi tới sự tự do đích thực và sự vẹn toàn của trái tim, chúng ta buộc phải đi qua thung lũng chết, nơi hình như chúng ta chỉ gặp sự cằn cỗi và thất vọng. Phải chăng chúng ta có thể tiến bước trên hành trình này mà không cần đến cầu nguyện? Trước hết, có lời cầu nguyện chúng ta chia sẻ với cộng đoàn, lời cầu nguyện hàng ngày, nền tảng của đời sống. Nhưng cũng còn có lời cầu nguyện riêng tư âm thầm, đưa chúng ta đối diện với Thiên Chúa, những khoảnh khắc trực diện với chân lý và lòng thương xót kỳ diệu của Người. Chính nơi đó chúng ta có thể học biết thế nào là hy vọng. Ngay cả cha Đa Minh, lúc đi đường, thỉnh thoảng vẫn xin anh em đi lên trước một chút để Người có thể cầu nguyên một mình, và trong bản văn Hiến pháp thời sơ khai, Người còn yêu cầu các Giám sư phải dạy cho Tập sinh biết cầu nguyện trong thinh lặng. Chị em đan sĩ có nhiều điều để chia sẻ cho anh em về giá trị của lời cầu nguyện trong thinh lặng.

TÌNH YÊU ĐEM LẠI SỰ BÌNH ĐẲNG

Sau cùng, tình yêu nơi Thiên Chúa là tình yêu tuyệt đối phong phú. Tình yêu ấy sinh ra, tạo nên tất cả những gì hiện hữu. Điều chúng ta muốn chiến đấu để giành được khi thực thi đức khiết tịnh không phải chỉ là nhu cầu tình cảm, nhưng là khát vọng hạ sinh. Thái độ quan tâm đối với nhau chắc chắn phải bao hàm sự chú ý đến khả năng sáng tạo của mỗi người, khả năng sáng tạo mà cuộc sống Đa Minh phải giải phóng vì Tin mừng. Đó có thể là óc sáng tạo của một anh em hay chị em muốn đưa cộng đoàn trở thành một giáo xứ, hoặc là lao động trí thức của một nhà thần học, hoặc như các Tiền tập sinh ở Salvador đang hoạt động sân khấu một cách ngẫu hứng. Đức khiết tịnh cửa chúng ta không bao giờ có tính chất khô cằn.

Tình yêu, tức là Thiên Chúa, rất phong phú để tạo nên sự bình đẳng. Trong Thiên Chúa Ba Ngôi không có sự thống trị hay lèo lái. Cũng không có gì là tính gia trưởng hay chiếu cố. Đây chính là tình yêu mà lời khấn khiết tịnh mời gọi chúng ta sống và rao giảng. Theo thánh Thomas, tình bằng hữu tìm kiếm và tạo nên sự bình đẳng. 

Tình huynh đệ trong truyền thống Đa Minh, hình thức quản trị dân chủ mà chúng ta yêu chuộng, không chỉ diễn tả cách tổ chức đời sống và đưa ra những quyết định, nhưng còn muốn nói lên một điều gì đó về mầu nhiệm đời sống của Thiên Chúa. Việc các anh em được nhìn nhận như là một Dòng Anh Em Thuyết giáo diễn tả điều chúng ta rao giảng, đó là mầu nhiệm tình yêu bình đẳng hoàn hảo, là Thiên Chúa Ba Ngôi.

Điều đó phải là đặc điểm mọi môi tường quan của chúng ta. Khi nhìn nhận phẩm giá của mỗi người cũng như sự bình đẳng của mọi thành phần, Gia đình Đa Minh đòi hòi chúng ta sống và thể hiện lời khấn này một cách tôt đẹp. Môi tương quan giữa các chị em với các anh em, giữa các tu sĩ vơi giáo dân, cũng là “một lời rao giảng thánh thiện”. Ngay nỗ lực của chúng ta muốn lìm kiếm một thế giđi công bằng hơn, trong đó phẩm giá của mỗi ngươi được tôn trọng, cũng chẳng phải là một đòi hòi thuần luân lý, nhưng nỗ lực ấy nói lên mầu nhiệm tình yêu, tức là sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta được mời gọi thể hiện.

KẾT LUẬN

Khi đi ngang qua các làng mạc có những người theo giáo phái Albigense đe dọa sự sống của mình, thánh Đa Minh quen hát lớn tiếng để ai nấy biết ngài đang có mặt. Các lời khấn chỉ có giá trị nếu các lời khấn giải thoát chúng ta để chúng ta phục vụ sứ mạng của Dòng với lòng can đảm và niềm vui của thánh Đa Minh. Các lời khấn không được trở nên một gánh nặng đè bẹp chúng ta, nhưng đem lại cho chúng ta sự tự do để chúng ta tiến bước thanh thản nhẹ nhàng khi đi đến những địa điểm mới, để làm những công việc mới. Những gì tôi viết trong lá thư này chỉ là một cách diễn tã khập khiễng so với bản chất vấn đề. Tôi hy vọng chúng ta có thể cùng nhau xây dựng một quan điểm chung về đời sống Đa Minh, những người đã tuyên khấn đế thi hành sứ vụ, quan điểm ấy có thể giúp chúng ta thêm mạnh mẽ trong cuộc hành trình, và làm cho chúng ta được tự do mà hát ca.

 _________________

[1] The Letters of Bede Jarrett op, ed. Bede Bailey, Aidan Bellenger and Simon Tugwell, Bath, 1989, tr, 180.

[2] Bề trên Tổng quyền 1983-1992; qua đời tháng 2-1996.

[3] A Pilgrimage of Faith, Dublin, 1991, tr. 44-45.

Comments are closed.

phone-icon