Canh tân Sứ vụ Tông đồ qua việc Bác ái – Xã hội

0

Lời mở

Sau khi nguyên tổ phản nghịch cùng Thiên Chúa, tội lỗi tràn vào nhân loại. Bao đặc ân Thiên Chúa ban, Người đã rút lại hết. Mất ân sủng, lý trí con người ra lu mờ, ý chí yếu đuối, linh hồn không thể điều khiển được thân xác. Nhân loại mỗi lúc mỗi tha hóa. Con người rơi vào tình trạng ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ. Họ phải đối diện với một cuộc chiến cam go, đòi hỏi phải hết sức gắn bó với sự thiện và ân sủng của Chúa họ mới đạt được sự thống nhất nội tâm. Đau khổ và sự chết đến từ tội lỗi của chúng ta mỗi lúc mỗi ngập tràn. Muôn thương đau, khổ lụy, tất cả đến từ đây (x. GLHTCG 399,400,401,405, 409).

Xã hội chúng ta hôm nay cũng chính là bản photocopy của nguyên bản xã hội con người xưa ấy. Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác định: “Con người thời nay phạm những tội quái ác”. Vâng, trước mắt, hậu quả là thảm kịch thương đau mỗi lúc mỗi đan dầy, giăng xéo ngang dọc, rối rắm tư bề đè nặng trên nhân loại. Tất cả anh chị em chúng ta đang ngập chìm trong biển khổ từ tinh thần đến thể xác, vây kín khắp nẻo đường cuộc sống, không lối thoát nhỏ. Nỗi đau đến từ nghèo đói, từ bệnh hoạn, cô đơn, băng lạnh tình người,… Tất cả nỗi niềm ấy khởi từ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa hưởng thụ đã khiến con người hụt hẫng niềm tin, và cùng tận là xa lìa Thiên Chúa. Quả vậy, các thứ chủ nghĩa ấy, đã và đang lừa dối con người tới mức coi thường, khinh chê mọi giá trị luân lý, đạo đức. Nó đẩy con người lao mình đi tìm tiền của, thú vui và hư danh trần thế bằng mọi giá, bất chấp lương tri và đạo đức. Nó đã tạo nên thảm kịch đau lòng, là khiến con người rơi vào sự cô đơn khủng khiếp và dẫn tới tuyêt vọng. Rồi lao vào hủy hoại thân xác bằng muôn hình thức tôn thờ chủ nghĩa xác thịt. Cuối cùng, đời sống tôn giáo trở nên hững hờ xa lạ, ngay các giờ kinh gia đình là nét đẹp đạo đức, truyền thống nay cũng đã bị quên lãng. Tình trạng này có thể đang lan tràn quanh ta, ngay trong gia đình, nơi khu xóm và chính nơi làm việc của chúng ta.

Yếu tố nền tảng quan tâm ở đây chính là các gia đình, nơi đích thực đem đến sự sống, là điểm tựa chân chính của con người, là tế bào cơ bản của xã hội. Nhưng tế bào này đã và đang vụn vỡ. Đứng trước vấn đề nóng bỏng của xã hội con người hôm nay, tôi cảm thấy vô vàn trăn trở, ắp đầy ưu tư trước hướng đi nhiều băn khoăn của Hội dòng: Canh tân thế nào về sứ vụ tông đồ qua việc bác ái cho xã hội đây? Một sứ mạng đầy thách đố!

  1. Con đường Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ đã đi

Tiên tri Isaia đã mặc khải về Đức Giêsu, Đấng Cứu độ: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, tuyên cáo việc ân xá cho người bị giam giữ, phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa” (Is 61,1-2a).

Đức Giêsu, với sứ mạng Đấng Cứu độ, Người đã thi hành trung thực sứ mạng mà tiên tri Isaia đã tiên báo về Người. Quả vậy, Người luôn chạnh lòng thương những phận người khổ đau của nhân loại. Người mang sứ mạng đích thực của Đấng Cứu độ: “Luôn từ bi và nhân hậu, chậm giận và giầu tình thương” (Tv 103,8). Vâng, Người đã xả thân vào xã hội con người, gần gũi, yêu thương, chăm sóc những anh chị em đau khổ phần xác với bịnh hoạn tật nguyền. Người đích thực “mang lấy những bệnh tật và gánh chịu những đau khổ của con người”    (Tv 53,4). Người yêu thương đến độ không phân biệt đối xử mà hóa thân nên như con người, nhằm cứu độ mà thôi: “chính Người chịu mang thương tích để chúng ta được chữa lành” (Tv 53,5). Người đã đặt tay trên người phong hủi, thân thương với người tâm thần, quỷ ám, để tất cả họ được chữa lành. Chúa chạnh lòng thương những cảnh huống bi thương, đã cho một số người chết sống lại. Người đồng cảm sâu sắc, chứa chan ân tình với những anh chị em tội lỗi, như chị gái điếm bị lôi đến trước mặt Người ngay lúc bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình, nhưng Đức Giêsu thâm hiểu phận hèn yếu đuối của con người khởi từ bụi tro, “Người vẫn nhớ chúng ta là cát bụi”, nên “chẳng trách cứ luôn luôn”      (Tv 103,9.16), “tội ta có phạm, nhưng tình thương khiến Người ném nó thật xa ta” (x.Tv 103,12). Người đã giữ nhân phẩm cho chị khi nói với những người đang kết án tử cho chị: “Ai trong các ông không phạm tội thì ném đá chị ấy trước đi”. Người yêu thương Giakêu, tổng đốc thu thuế nhưng đã bị người Do thái, dân tộc ông loại trừ. Người đón nhận cõi lòng khát vọng chân lý của ông, khi ông khao khát tìm cách gặp Người. Ông đã bất chấp vai trò xã hội của ông, ông leo lên cây mà nhìn xem Chúa, vị ngôn sứ mà ông đang ngưỡng mộ, vì nghe biết Người đầy lòng nhân ái. Tin Mừng kể rằng: “Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, Người nhìn lên và nói với ông: Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” (Lc 19,1-10). Chúa Giêsu thực sự đã chạm, một cú chạm rất mạnh vào trái tim Giakêu. Ông đã biến đổi ngay! Còn với Matthêu, cũng là người thu thuế, lớp người bị người Do thái loại trừ. Được Chúa gọi, ông đã theo Chúa ngay và thiết đãi Chúa một bữa tiệc tại nhà ông. Những người Pharisêu và kinh sư đã khó chịu nói với các môn đệ Chúa: “Tại sao các ông lại ngồi ăn với bọn thu thuế, quân tội lỗi như vậy?” Chúa khẳng định sứ mạng của Người: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,27-32). Với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, chị mặc cảm: “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi nước uống ư?” Nhưng Chúa đã phá đi bức tường truyền thống ngăn cách tình người, giữa Do thái với người Samari, mà người Do thái coi là những kẻ tội lỗi. Người đã trò truyện thân tình với chị. Người đã đi được vào đời tư của chị và cuối cùng đã đưa chị đến với chân lý, đón nhận một Thiên Chúa tình thương (Lc 4,1-42). Người cảm thương mọi bệnh nhân đến nỗi đồng hóa với họ: “Ta đau yếu các ngươi đã thăm nom” (Mt 25,36). Cái nghèo, cái đói của con người đã từng khiến Chúa trăn trở, lo toan. Người đã hóa bánh ra nhiều, hai lần: lần đầu, cho năm ngàn người ăn không kể đàn bà con trẻ; lần sau là bốn ngàn người cũng không kể đàn bà con trẻ (Mt 14,13-21; 16,32-39). Trái tim Chúa thực sự mở toang.

Và Chúa đã gạn lọc thời gian ăn ngủ để đi khắp nơi dậy dỗ con người. Dân chúng đói khát chân lý đã tuốn đi theo, nghe Người giảng dậy. Họ thực sự đói khát Lời Chúa khi họ kinh ngạc thốt lên: “Thế có nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dậy lại đầy uy quyền” (Mc 1,27). Người đã chịu tất cả vì yêu thương chúng ta đến cùng: “Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, chịu nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm” (Tv 53,5).

Người đồng cảm sâu sắc với một xã hội đầy thương đau, bầm giập khốn cùng. Không chỉ là cái nghèo vật chất, mà là muôn nỗi thống khổ vây hãm tư bề. Từ đó, Người đã chăm sóc, đồng hành bên con người một cách trìu mến, sít sao. “Mọi nẻo đường con đi Chúa quen thuộc cả”,“Chúa biết con và Người thấy rõ, thấy cả khi con đứng con ngồi, đi lại hay nghỉ ngơi Chúa đều xem xét” (Tv 139,1-3). Sự hiện diện ắp đầy yêu thương ấy của Chúa đã xoa dịu bao nỗi thương đau, ủi an bao khổ sầu do hất hủi, loại trừ của từng con người khốn khổ trong nhân loại, vì “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8). Tình yêu đã khiến Người chạm đến tận trái tim của từng con người, không trừ một ai. Đích điểm của tình yêu chăm sóc này là đem đến niềm hạnh phúc bất tận cho con người đã từng được Thiên Chúa yêu thương. Vâng, “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 33,19).

  1. Tầm nhìn của Giáo Hội

Con đường mẫu mực của Đức Giêsu đã đem lại cho anh chị em đau khổ một niềm an ủi, bình an, tin tưởng và hạnh phúc, và là động lực vươn lên. Sự đồng cảm sâu sắc dẫn tới hành vi đồng hành thiết thực, phải được khởi đi từ trái tim. Vâng, và nó đã được xuất phát từ lời dạy toát lên từ trái tim Thầy Chí Thánh: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Trước hiện trạng của xã hội hôm nay, qua bài phát biểu tại Đại hội Caritas, Hà Nội, Đức cha Thomas Vũ Đình Hiệu đã nhận định: Thế giới ngày nay đang thay đổi một cách nhanh chóng. Nền kinh tế toàn cầu vẫn đang tăng trưởng bấp bênh, tình trạng khủng hoảng việc làm, giá lương thực tăng cao khiến cho số người lâm vào cảnh khốn khó cũng gia tăng, cản trở sự tăng trưởng kinh tế, kéo theo tình trạng thất nghiệp, bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn, tỉ lệ nghèo đói ngày càng cao. Hiện tại vẫn còn biết bao nhiêu người bị tàn phế vì chiến tranh, vì thiên tai, bị đàn áp bất công, bị bệnh tật hành hạ, bị bỏ rơi và phải sống trong cô đơn… và còn biết bao hoàn cảnh đau thương khác nữa quanh chúng ta. Đứng trước những vấn đề nóng bỏng này, ngài xác định: “Bác ái phải là trung tâm hoạt động của truyền giáo và đức tin” (Bài phát biểu ngày Đại hội Caritas tại TGP. Hà Nội ngày 24/8/2017). Tất cả những bối cảnh này đang đè nặng trên các gia đình. Đối với Hội thánh, bác ái xã hội không chỉ là một hoạt động trợ giúp xã hội, nhưng cũng là trung tâm hoạt động của truyền giáo, vì bác ái thuộc về bản tính của Hội thánh (Deus Caritas Est, 25a).

Vâng, trong nỗi niềm của trái tim người cha trước thực trạng con cái đang phải gánh chịu, Đức Thánh Cha Phanxicô, trong các Thượng Hội đồng Giám mục về Gia đình năm 2014 và 2015 vừa qua, khi nói về việc đồng hành với các gia đình gặp khó khăn đã có nhận xét về sự khiếm khuyết này trong thực hành của Giáo hội hiện nay: “Những phúc đáp của cuộc tham vấn đã thực hiện cho thấy rằng trong các hoàn cảnh khó khăn hoặc nguy kịch, phần đông người ta không nhờ đến các trợ giúp của mục vụ đồng hành, vì họ không cảm thấy được sự thông cảm, gần gũi, hay không thực tế, cụ thể. Bởi vậy, giờ đây chúng ta nên tìm cách tiếp cận với các cuộc khủng hoảng hôn nhân bằng một cái nhìn nhạy cảm hơn với những gánh nặng của đau đớn và thống khổ họ phải chịu” (Amoris laetitia, 234). Trong thực tế các gia đình gặp những lúc khó khăn, khốn khổ, chênh vênh không cảm thấy được Hội thánh quan tâm, giúp đỡ, họ cảm thấy cô đơn, và càng ngày càng rời xa Giáo hội.

Hướng tới một viễn tượng mục vụ đồng hành có nghĩa là bắt đầu một cuộc hoán cải mục vụ, phải đích thực chạm tới đời sống của người anh chị em. Đức Thánh cha Phanxicô xác định đồng hành là tiêu chuẩn trọng tâm của mục vụ gia đình”.

  1. Đường hướng mục vụ của Giáo hội Việt Nam

Đón nhận sự khiếm khuyết về phía Giáo Hội mà Đức Thánh cha chân nhận, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nhìn lại sứ mạng của mình trước thực tại của Dân Chúa. Các ngài đã đề ra đường hướng mục vụ thật sâu sát, nhắm tới các gia đình, một nhân tố quan trọng. Và năm nay, 2019, giữa những mối quan tâm mục vụ, sẽ quan tâm cách đặc biệt đến việc “Đồng hành với các gia đình gặp khó khăn”. Các Đức Giám mục nêu ra ba loại đối tượng phạm trù: các gia đình di dân, các gia đình của các cặp hôn phối khác tôn giáo / tín ngưỡng, và các “gia đình” ly thân, ly dị tái hôn một cách cụ thể (x. Gợi ý Mục vụ 2019 – UBMVGĐ).

Trong Giáo hội, bác ái không phải là một thứ hoạt động trợ giúp xã hội mà ta có thể để lại cho người khác làm, nhưng thuộc về bản tính của Giáo hội, một lối diễn tả không thể thiếu của bản chất Giáo hội (Thông điệp TCLTY số 25). Giáo hội không bao giờ được miễn trừ khỏi việc thực thi bác ái như một hoạt động có tổ chức của các tín hữu, và mặt khác, sẽ không có một hoàn cảnh nào mà bác ái của mỗi cá nhân Kitô hữu là không cần thiết, bởi vì ngoài sự công bằng, con người cần đến và sẽ luôn cần đến tình yêu (số 29). Vì ơn gọi nền tảng và bẩm sinh của con người là tình yêu, vì con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (St 1,27) là Tình yêu (x. 1Ga 4,8.16). Các đối tượng là điểm nóng hôm nay mà Hội đồng Giám mục Việt Nam họp ngày 27/9/2018 đã nhắm tới:

  • Trước hết là các gia đình di dân: ngày nay vì hoàn cảnh kinh tế, rất nhiều gia đình phải rời bỏ làng quê để tìm kế sinh nhai trong những thành phố lớn. Chỉ một số ít thành công, còn đa số gặp nhiều khó khăn trong việc làm ăn, sinh hoạt gia đình, giáo dục con cái. Về mặt đức tin, họ cũng gặp khó khăn trong việc hội nhập cộng đoàn giáo xứ mới. Vì thế, chúng ta phải mở rộng vòng tay đón tiếp, để các gia đình di dân cảm nhận cộng đoàn giáo xứ là nhà của họ, nơi đó đức tin được nuôi dưỡng, lòng mến được vun trồng, và hy vọng được triển nở giữa những khó khăn thử thách.
  • Kế đến là những cặp hôn nhân khác đạo: trong những gia đình này, có những khó khăn riêng do việc vợ chồng không cùng niềm tin tôn giáo, ảnh hưởng đến việc giữ đạo của người Công giáo cũng như việc giáo dục con cái trong gia đình. Vì thế, chúng ta cần đồng hành và nâng đỡ họ, nhất là giúp người phối ngẫu Công giáo trong đời sống đức tin, để họ có thể làm chứng cho Tin Mừng và giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người trong gia đình, gia tộc và lối xóm.
  • Cuối cùng là những gia đình bị đổ vỡ: dựa vào giáo huấn của Chúa, Hội thánh luôn mong muốn các đôi vợ chồng chung thủy với nhau đến trọn đời. Tuy vậy, trong thực tế, nhiều cặp hôn nhân rơi vào tình trạng mâu thuẫn không thể hòa giải và dẫn tới đổ vỡ. Một số người Công giáo rơi vào tình trạng này vì hoàn cảnh chứ không hoàn toàn do lỗi riêng của họ. Vì thế, thay vì lên án và loại trừ, chúng ta cần cảm thông và giúp đỡ họ nơi cộng đoàn đức tin cũng như trong đời sống hằng ngày. Đối với những người đã li dị và tái hôn, họ vẫn được Hội thánh yêu thương và quan tâm chăm sóc với tình mẫu tử (HĐGM họp kỳ II 27/9/2018).

“Hội thánh muốn đến với các gia đình trong sự cảm thông khiêm tốn, và ước muốn của Hội thánh là ‘đồng hành với mỗi gia đình và mọi gia đình để họ có thể khám phá ra cách tốt nhất để vượt qua những khó khăn mà họ gặp phải trên hành trình của họ’. Không phải chỉ đưa vào các kế hoạch mục vụ lớn lao với mối bận tâm chung chung đối với gia đình là đủ. Để các gia đình có thể mỗi lúc một trở nên là chủ thể tích cực của mục vụ gia đình hơn nữa, đòi hỏi ta phải có ‘một nỗ lực loan báo Tin Mừng và huấn giáo hướng vào trong chính gia đình’ và theo định hướng này” (AL 200).

Mẹ Têrêsa Calcutta xác định: Kitô hữu làm việc bác ái không phải là những nhân viên công tác xã hội, nhưng là những chứng nhân tình yêu Thiên Chúa, những người đem tình yêu Thiên Chúa đến cho người anh em và đem người anh em về với Thiên Chúa. Có nghĩa là trọng tâm của sứ vụ bác ái là việc trở nên “sự hiện diện, tình yêu thương, lòng thương xót của Chúa” cho anh em. Tinh thần bác ái xã hội đòi hỏi bản thân mỗi người phải có một quả tim yêu thương bao la, một tinh thần hy sinh xả kỷ thiết thực, đồng cảm để đồng hành với anh chị em nghèo khổ, bất hạnh trong cuộc sống này. Có như vậy giá trị của Tin Mừng mới thật sự làm cho thế giới đang thiếu vắng tình Chúa và tình người được khỏa lấp bằng NGUỒN TÌNH YÊU khởi từ Thiên Chúa!

Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, trong thông điệp đầu tay của ngài đã viết: “Hành động thực tiễn sẽ luôn là không đủ, trừ phi nó diễn tả một cách trông thấy được tình yêu dành cho một người, tình yêu được nuôi dưỡng bằng một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô” (TCLTY, số 34). Trong thư gửi giáo đoàn Galata, thánh Phaolô viết: “…Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến mạng sống để cứu chuộc tôi”     (Gl 2,20).

  1. Chúng ta phải canh tân việc bác ái xã hội

Canh tân chính là trở lại nguồn. Khởi từ trái tim đầy xót thương của Thầy Giêsu, từ những định hướng nền tảng của Giáo hội, đòi hỏi mỗi tu sĩ, những người bước theo Đức Kitô, bám sát bước chân Thầy, thuộc về Thầy. Và như các tông đồ, chúng ta phải đến và ở lại với Thầy, sống với Thầy, để như Thầy, biết dấn bước trên đường sứ vụ cứu độ anh chị em. Như Đức Giêsu, chúng ta hãy đồng cảm sâu sát để tiến tới sự đồng hành gần gũi, thân thương. Người đã đến với nhân loại bằng cả trái tim nhân hậu, đầy xót thương. Lời nói là nhịp cầu tương quan của Người đã đem đến cho con người sự sống.

Mục vụ đồng hành phải là con đường chúng ta thực sự đi vào. Chúng ta phải đích thực chạm tới đời sống của người anh chị em. Đức Thánh Cha Phanxicô xác định Đồng hành là tiêu chuẩn trọng tâm của Mục vụ gia đình”.

Và qua những yếu tố nền tảng mà Hội thánh đã xác định đường hướng mục vụ hôm nay, thì mỗi tu sĩ chúng ta phải mang sứ vụ của mục tử nhân lành trước khát vọng của con người. Tất cả đòi hỏi phải xuất phát từ lời dạy của Chúa Giêsu:“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

a/ Phải biết rõ chiên, nghe được tiếng chiên và chiên nghe được tiếng người chăn.

Như người mục tử nhân lành, người chăn chiên phải biết rõ chiên. Người gác cổng chuồng chiên mở cửa cho anh vào. Chiên nghe tiếng anh và đi theo anh. Anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chiên sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ (Ga 10,3-5).

Với trái tim và hình ảnh gần gũi, đầy trách nhiệm của người mục tử nhân lành nêu trên, mà chính Đức Giêsu đã xác nhận: Người là vị mục tử ấy – thiết nghĩ, trước những khó khăn của anh chị em di dân, những cặp hôn nhân khác đạo, các gia đình đổ vỡ, việc trước hết và trên hết đòi người tông đồ cần một đời sống gắn bó sâu sắc với Thiên Chúa. Từ đó, chúng ta đến với anh chị em bằng trái tim của Chúa, trái tim đầy lòng xót thương, vì nhu cầu hàng đầu mà họ cần là một sự đồng cảm và đồng hành.

Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ: Đồng hành là việc Hội thánh khởi đầu đến với con cái mình để thiết lập một mối quan hệ bền vững và ngày càng tiến triển. Đồng hành không nhằm giải quyết tức thời các vấn đề cuộc sống, ngược lại, Hội thánh ý thức cần có thời gian và kiên nhẫn giúp anh chị em, cách riêng những người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn hoặc “trái qui tắc”, được lớn lên đến mức trưởng thành trong tình yêu đích thật (x. Đức Thánh Cha Phanxicô).

Vâng, chúng ta từng bước xây dựng được một sự tín nhiệm sâu sắc nơi anh chị em trong mọi hoàn cảnh khó khăn, dẫu là nỗi ngặt nghèo của anh chị em di dân, dẫu là nỗi khổ cô đơn của những gia đình anh chị không cùng tôn giáo, hoặc nỗi niềm thất vọng nơi các gia đình đổ vỡ. Một khi đã có sự tín nhiệm sâu xa, thì tương quan giữa chúng ta với họ mỗi lúc mỗi vững bền và chúng ta có thể đi vào những khó khăn riêng tư của anh chị em. Và từ đây, chúng ta sẽ giúp họ từng bước lớn nhanh trong đức tin, một niềm tin vững vàng, tuyệt đối vào tình thương của Chúa, họ bình tâm bước đi trong niềm phó thác, mến yêu Chúa nồng nàn. Từ mức độ trưởng thành trong đức tin này, họ sẽ tự đứng vững trên đôi chân của họ.

Đồng hành là cùng đi với họ trên mọi nẻo đường khó khăn của họ, những nẻo đường mà họ tưởng chừng đi vào ngõ cụt cuộc đời.

b/ Đi tìm chiên

Đức Giêsu kể dụ ngôn: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (Lc 15,4-7).

Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô, là tình yêu đến cùng tình yêu mang lấy hình hài Đức Kitô chịu đóng đinh. Đó là hình ảnh của người mục tử nhân ái, kiên trì đi tìm chiên. Khi tìm được, hình ảnh đẹp của tình yêu, là “ông vác chiên lên vai”.

Gặp những hoàn cảnh khó khăn khi người anh chị em bỏ xa Chúa vì nhiều lý do, ta hãy kiên trì đi tìm với trái tim khắc khoải của Thiên Chúa. Trong yêu thương, lầm lũi kiếm tìm họ về với gia đình Hội thánh. Song song hãy giúp họ những trợ lực cần thiết về vật chất khi cần.

Hãy đồng hành cùng họ và mở rộng vòng tay đón tiếp trong sự trân trọng, yêu thương, dìu dắt, để tất cả họ cảm nhận được chúng ta là người thân của họ, cộng đoàn giáo xứ là nhà của họ, nơi đó đức tin được nuôi dưỡng, lòng mến được vun trồng, và hy vọng được triển nở giữa những khó khăn thử thách.

Các gia đình di dân cảm nhận được đỡ nâng, được chăm sóc, yêu thương, gần gũi; những cặp hôn nhân khác đạo, có những khó khăn riêng do việc vợ chồng không cùng niềm tin tôn giáo, ảnh hưởng đến việc giữ đạo của người Công giáo cũng như việc giáo dục con cái trong gia đình, được chúng ta đồng hành và nâng đỡ, nhất là giúp người phối ngẫu Công giáo trong đời sống đức tin, để họ có thể làm chứng cho Tin Mừng và giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người trong gia đình, gia tộc và lối xóm; với những gia đình bị đổ vỡ, đã đi đến thất vọng, đau thương, rơi vào tình trạng mâu thuẫn không thể hòa giải và dẫn tới đoạn tuyệt. Chúng ta không lên án, không loại trừ, trái lại, rất cần sự cảm thông sâu sắc và giúp đỡ họ nơi cộng đoàn đức tin cũng như trong đời sống hằng ngày. Đối với những người đã li dị và tái hôn, họ vẫn được Hội thánh yêu thương và quan tâm chăm sóc với tình mẫu tử (x.HĐGM họp kỳ II 27.9.2018), chúng ta cần trân trọng, gần gũi sẻ chia để xóa đi mặc cảm nơi họ.

 c/ Hiến thân vì chiên

Đức Giêsu xác định: “Tôi là mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, Tôi đến để chiên tôi được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10-11). Người chăn thuê khi sói đến anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho đoàn chiên tan tác.

Vâng, chúng ta phải sống chết với sứ vụ cứu giúp họ. Hãy kiên nhẫn đến với anh chị em trong các gia đình khó khăn này bằng cả tấm lòng. Để đi đến thành công, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định: Đồng hành không nhằm giải quyết tức thời các vấn đề cuộc sống, ngược lại, Hội thánh ý thức cần có thời gian và kiên nhẫn giúp anh chị em. Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu” (x.Ga 15,13), đó là mẫu mực Chúa đã định hướng cho chúng ta.

Hội dòng cần những kế hoạch dài hạn và kiên trì cho sứ vụ tông đồ này, và tập trung vào từng địa bàn. Rất cần có những chị em dấn thân trong những lãnh vực cam go này.

Những hỗ trợ vật chất cũng rất cần thiết, nhưng sẽ đi sau sứ vụ đồng hành. Như Mẹ Têrêsa Calcutta xác định: Vẫn dồn sức lực để cho ‘kẻ đói ăn, cho người khát uống’ nhưng vẫn phải đặt trọng tâm của sứ vụ bác ái vào việc trở nên “sự hiện diện, tình yêu thương, lòng thương xót của Chúa” cho anh chị em.

  • Kết luận

Xin mượn lời Đức Thánh Cha Phanxicô để làm trọng tâm cho lời kết của bài viết này:

Không để các gia đình khó khăn rơi vào cô đơn lạc lõng, dưới ánh sáng Lời Chúa, Hội thánh giúp phân định mục vụ để nhận ra sự thật của con người trong hoàn cảnh thực tế hiện tại còn xa với sự thật của tình yêu như Chúa muốn. Mục vụ đồng hành cần giúp nhìn sâu vào hoàn cảnh thực tế, cả trong những trường hợp rất chông chênh, hoặc đã đổ vỡ, và ý thức luật tiệm tiến là tiêu chuẩn căn bản của sự phân định và sẽ không thực hành được nếu không có sự đồng hành. “Vấn đề là một lộ trình đồng hành và phân định nhằm hướng dẫn các tín hữu này đi đến ý thức về tình trạng của họ trước mặt Thiên Chúa” (AL 300). Chìa khóa của sự phân định này là sự thật của dây hôn phối, như là diễn tả đầu tiên của Lòng Thương Xót, được Tông huấn Amoris laetitia xem như là tiêu chuẩn căn bản (AL 211). Sau cùng, Hội thánh giúp các cá nhân tín hữu và gia đình họ hội nhập cách hài hòa trọn vẹn vào Thân Mình Đức Kitô toàn thể, tức là Gia đình Hội thánh. Hội nhập hoàn toàn, vào mối hiệp thông Hội thánh, là mục đích sau cùng của đồng hành. Hội nhập dựa trên cơ sở của Bí tích Rửa tội như ơn huệ khởi đầu chung và hiệp thông Thánh Thể như là mục đích sau cùng của toàn thể tiến trình đồng hành.

Nt. Theresa Nguyễn Thị Mừng, O.P.

Comments are closed.