THÁNH IMELDA – Vị Thiên Thần Nhỏ (Chương I)

0

Nguyên tác: Mary Fabyan Windeatt

Chuyển ngữ: Sr. Teresa Thơm Nguyễn, OP.

                          

    THÁNH IMELDA

 Được Đức Lêô XII phong chân phước ngày 20/12/1826

 Được Đức Piô X đặt làm bổn mạng các em thiếu nhi Rước lễ lần đầu

LỜI NGỎ

Một buổi sáng của tháng sáu năm 1327, khi con gái nhỏ của Thống đốc ngồi chơi trong một góc vườn ngập tràn ánh nắng, xung quanh có các dây cờ màu sặc sỡ được giăng lên, phất phới bay trên các tháp lâu đài, để nhớ biến cố vĩ đại ngày sinh nhật lần thứ 5 của cô bé. Trong cảnh thanh bình ấy, một tư tưởng tuyệt vời hiện trong tâm trí, Imelda quỳ gối xuống, chắp nhẹ đôi tay bé nhỏ và nhắm mắt cách thành kính. Trong bộ áo lụa trắng nõn nà, với những búp tóc vàng quăn rũ xuỗng hai bờ vai, cô bé giống như một bức tượng nhỏ đẹp biết chừng nào. Chỉ vài phút sau, cảnh tượng đẹp đẽ này bị dẹp đi, khi Beatrice bước vào trong khu vườn. Thực thế, người giúp việc bật kêu lên hoảng hốt : “Cô Imelda ! Cô đang làm gì thế ? Tại sao lại quỳ gối trên mặt đất ẩm thấp như vậy ?” Bức tượng nhỏ dần dần như sống lại, cô bé nhìn lên : “Cháu đang tưởng nghĩ tới một điều rất hay, cháu đang nghĩ cháu là ngôi nhà Tạm. Vâng, bởi vì Chúa ngự trong cháu kể từ ngày cháu được lãnh bí tích Rửa tội”…

Rồi một ngày khác, câu chuyện của cô bé được rước Mình Thánh Chúa cách phi thường đã làm cảm động đến rơi lệ, nó diễn tả tình yêu chân thành, sâu thẳm đến khát cháy của cô bé Imelda đối với Chúa và tình yêu vĩ đại Chúa dành cho cô bé, đó là phép lạ Chúa bay xuống với cô bé để bé được rước Ngài vào lòng.

Cô bé Imelda ấy có nhiều bạn nhỏ thiếu nhi rất thân. Cô bé muốn kể cho các bạn nghe câu chuyện rất dễ thương giữa Imelda và Giêsu Thánh Thể. Chắc các bạn thích nghe lắm… Này nhé, nếu bạn đọc kỹ tập sách này, bạn sẽ có được một kỷ niệm đẹp trong đời bạn, như “Imelda, Thiên thần bé nhỏ của Thánh Thể”. Rất tuyệt vời và ấn tượng.

Chương một: MỘT HÀI NHI CHÀO ĐỜI
Ông già mù loà sống nghề đan giỏ này luôn nhận ra bất cứ người khách lạ nào đứng trước cửa nhà ông. Không một âm thanh nào vang lên từ các ngả đường mà không lọt vào tai ông. Đôi khi người ta có cảm tưởng rằng thị giác của ông cũng bén nhậy như thính giác của ông. Còn trí nhớ của ông thì thật là tuyệt vời. Vì thế, thật khó có thể tin được rằng những chiếc giỏ sặc sỡ này là sản phẩm bởi đôi bàn tay của một người mù loà. Ông vui vẻ kêu lớn tiếng : “Ồ ! Người làm bánh đã đến. Tại sao ông không bước vào trong nhà, ông bạn Gioan ?”. Tiếp theo là giọng cười ồm ồm vang lên như phát ra trong cổ họng của người đàn ông cao lớn, béo phệ đang bước vào. Đó chính là người làm bánh, ông ta phải cúi khòm lưng xuống và luồn lách đi vào trong nhà qua lối đi rất chật hẹp. Ông nói : “Một ngày nào đó tôi đến đây rất im lặng, và lúc đó ông không thể đoán được tôi đâu, ông Phêrô ạ ! Nhưng không phải là hôm nay. Thực vậy hôm nay tôi không thể giữ im lặng được”.

Người mù ngước lên với vẻ tò mò. Những ngón tay xương xẩu của ông ngừng đan : “Nghe như ông bạn có tin vui phải không ? Tin gì thế ?”, người làm bánh đặt hai ổ bánh mì trên chiếc bàn kế cận, vỗ nhẹ vào lưng ông già mù : “Ông Phêrô ạ, con trai tôi đã trở về nhà ngày hôm qua, ông nghĩ sao về tin này ?” Ông già mù vặn : “Philip đã trở về rồi hả ?” – “Đúng vậy. Trong năm năm trôi qua, chúng ta đều nghĩ rằng nó đã chết. Nhưng nó chưa chết, ông Phêrô ạ. Nó vẫn sống và đã tạo dựng được một gia tài kha khá do nghề buôn bán ở Algeria. Ước gì ông bạn hiểu được tâm trạng ucả tôi về việc nó trở về nhà”. Ông già mù mỉm cười. Thực ra ông hiểu người bạn cố tri này đã chịu đau khổ biết chừng nào rồi. Cậu Philip – đứa con trai duy nhất quí yêu của ông đã bồng bột bỏ nhà ra đi năm năm trước đây và ông không có tin tức gì về cậu ta cả. Mọi người ở thành phố Bologna này đều nghĩ rằng cậu đã chết, nếu không thì cũng đã trở thành người hư hỏng, xấu xa.

Ông mù Phêrô trả lời giản dị : “Tôi chia vui với ông bạn, tôi không có gia đình nhưng tôi hiểu ông yêu quí Philip đến chừng nào, và tôi chắc chắn rằng…”. Người làm bánh vạn hỏi : “Ông chắc chắn điều gì ?” Ông già mù nhấn mạnh : “Việc Philip trở về là kết quả của lời cầu nguyện”. Khuôn mặt của người làm bánh trở nên sững sờ, ông vội vàng làm dấu Thánh giá với vẻ mặt đầy thành tín và khẽ nói : “Xin Chúa tha thứ cho con vì con đã quên không cám ơn Người”. Rồi ông tiếp : “Đúng thế, ông Phêrô ơi, không gì làm cho nó nghĩ đến việc trở về nhà, chỉ có lời cầu nguyện, lời cầu nguyện của ông và tôi. Cũng có thể do lời cầu nguyện của những người khác nữa, vì họ đã nghĩ tôi và thương đến số phận tôi”. Ông già mù gật đầu : “Nhiều người khác cũng cầu cho ông nữa, đặc biệt những người đã được ông cho bánh sẽ cầu nguyện cho ông. Đúng là như thế”.

Người làm bánh không đứng yên, ông ngước nhìn lên tượng Thánh giá treo trên tường thẳng ngay đầu ông già mù và nói cách ngượng ngùng : “Tôi… tôi sẽ đi nhà thờ một lát đây, tôi phải dâng lời tạ ơn ở trước nhà Tạm mới đúng”. Ông già mù mỉm cười vì sự lưu tâm đến Chúa một cách đột ngột của ông bạn làm bánh. Ông hỏi : “Có phải ông sợ Chúa sẽ cho cậu bé bỏ nhà đi lần nữa vì ông không cám ơn Người không ?

Hai người đàn ông cùng đi cạnh nhau xuống con đường dưới phố, một người to lớn khoẻ mạnh, lòng rộn rã phấn khởi, người kia đã cao tuổi và lưng bị còng, nhưng bộ mặt lộ vẻ an bình siêu thoát. Họ cùng đến nhà thờ Thánh Đa Minh cách đó vài dây phố, nơi đây vị sáng lập Dòng Thuyết giáo được chôn cất đã hơn trăm năm rồi. Khi họ bước chân lên những bậc đá dẫn tới cánh cửa mở, người làm bánh khe khẽ nói : “Tôi không thể ở lại nhà thờ lâu vì không có ai coi cửa tiệm cả. Nhưng tôi muốn mời ông bạn tới ăn cơm tối với chúng tôi nhé. Tôi đang chuẩn bị bữa tiệc nhỏ mừng Philip. Ông cố gắng tới nhé”. Ông Phêrô mỉm cười : “Tôi sẽ đến với ông. Thực đã lâu rồi tôi không tới nhà ông kể từ khi tôi gặp cậu bé”.

Thời gian lặng lẽ trôi qua. Ở lối đi gần bàn thờ chính, ông già Phêrô đứng lên và cất chuỗi tràng hạt. Ông có trực giác rằng chỉ còn mình ông trong nhà thờ. Ông thầm hỏi sao mình không ở lại lâu chút nữa trong nhà thờ. Vì nếu bỏ Vua Trời một mình không người thờ lạy có phải là bất kính không ? Nhưng ngay lúc ấy, tiếng sột soạt của chiếc áo vải lụa cho ông biết rằng có người đàn bà đạo đức nào đó đã tới thay thế ông, và bà ta đang bước đi chậm chạp ở lối đi dẫn tới bàn thờ.

Ông Phêrô nắm chiếc gậy và dò dẫm đi ra cửa. Ánh nắng ban trưa chiếu nóng vào mặt ông. Khi ông bước ra ngoài, ông mỉm cười, cảm thấy thoải mái với khí hậu ấm áp của tháng sáu, thời gian có thời tiết điều hoà nhất, giúp người nghèo phải sống ở các góc đường phố nghèo nàn cảm thấy thoải mái dễ chịu. Khí hậu này không làm cho các ngón tay họ bị sưng đau vì giá lạnh nữa. Một chút ngần ngừ, người mù bước xuống bậc thang đá và quẹo vào con đường bên phải, tâm trí ông bận rộn với những tư tưởng tốt lành liên quan tới lòng thương xót của Chúa Cha, Ngài đã phải bùi ngùi khi phải sửa phạt con cái chỉ vì lòng thương xót chúng. Ông thầm nghĩ đau khổ chính là phương tiện hữu hiệu nhất để làm các linh hồn nhận ra rằng trái đất này không phải là quê hương thật. Đau khổ, nếu chịu đựng cách dũng cảm, thì chính là chìa khoá đạt được hạnh phúc kỳ diệu trên Thiên đàng. Ông nghĩ : “Trên Thiên đàng, ông bạn Gioan tốt lành của mình sẽ được sung sướng hơn vì có người con trai ở cạnh mình. Còn chính bản thân ông, một người mù loà sẽ được nhìn xem mọi sự tốt lành”.

Ông già chậm rãi bước dưới ánh nắng tháng sáu, đặt cây gậy xuống đất nhẹ nhàng theo nhịp điệu trên những viên đá cuội. Thỉnh thoảng có những tiếng chào quen thuộc vang lên, rồi ông ngừng lại nói chuyện với một ông bạn già. Ông không nhận lời mời ngừng chân lại nghỉ ngơi, hay ghé lại ở đâu để ăn uống. Lúc này, ông chỉ muốn một điều là đi tới lâu đài của Thống đốc miền Bologna : ông Egano Lambertini là một người giàu có và có thế lực trong guồng máy chính quyền, nhưng ông lại là người rất khiêm tốn. Ông luôn dành thời giờ tiếp đãi các người nghèo. Tính ông Thống đốc y như vợ ông, bà Donna Castora. Cả hai đều là những Kitô hữu đúng nghĩa.

Vừa khi ông già mù bước vào đại lộ rộng rãi để đi tới lâu đài của Lambertini thì ông nghe có những tiếng chuông reo vang inh ỏi. Những âm thanh vui nhộn làm ông Phêrô phải lắng nghe cách tò mò. Không phải là tiếng chuông ở các tháp nhà thờ, nhưng tiếng chuông phát ra từ lâu đài. Dường như ông thấy được quả chuông đang lắc lư rung động ở trên cây tháp đá màu xám tro.

Một giọng nói thích thú vang lên ở một cửa tiệm : “Có chuyện gì thế ?” Câu hỏi này được trả lời ngay tức khắc bởi các người bán hàng, trẻ em, các kẻ ăn xin, các bà vợ đang bận rộn trong bếp. Vì lập tức, đường phố tràn đầy người như một đàn ong vỡ tổ, họ tuôn ra đường nhìn lên lâu đài màu xám nằm trên ngọn đồi, ở đó từng đàn chim câu đang bay lượn trong không trung. Ai đó kêu lên vui mừng : “Dấu hiệu của một tin vui. Có lẽ phu nhân Donna Castora đã sinh con trai”. Rồi một giọng nói khác lại vang lên : “Một cậu trai của Thống đốc. Chúc tụng Chúa”. Từng loạt chuông báo hiệu đã phát ra, từng đoàn người đàn ông đàn bà bắt đầu tràn ra đường. Nếu thực sự Thống đốc Egano Lambertini có con trai, ông ta sẽ trở nên rộng lượng hơn nữa trong việc làm phúc bố thí. Có lẽ mọi người sẽ được một bình rượu nếu họ đến chúc mừng đứa nhỏ ? Hay là một ổ bánh mì bằng bột lúa mì trắng tinh.

Một người nào đó la lối : “Tránh đường ra, ông già mù, tôi muốn đi tới lâu đài trước hết”. Để khỏi bị xô ngã, ông Phêrô vội vàng rẽ sang một góc vắng trên đường. Nhiều người nhìn ông già đan giỏ mù loà, nghĩ rằng ông sẽ tỏ ra nét mặt rầu rĩ vì bị lãng quên và khinh thị. Nhưng ông Phêrô vượt qua những cảm giác buồn sầu. Ông nghĩ : “Egano Lambertini, Thống đốc của Bologna, nhà ngoại giao của nước cộng hoà Venice đã có con trai, đồng thời em bé cũng là người thừa kế”. Ông già thầm nghĩ : “Thống đốc rất xứng đáng được số may tốt đẹp này, vì ông và vợ ông luôn tử tế với mọi người”.

Tiếng chuông vẫn tiếp tục reo, Người đan giỏ mù loà vừa rẽ vào con đường dẫn tới cửa hậu lâu đài, thì nghe như cả đoàn người đang đi tới. Họ rất hồ hởi và không thể đoán sai rằng họ đang đem về những thức ăn ngon từ bữa tiệc. Giọng một ngươi đàn ông nói dõng dạc, dường như không để ý gì đến sự có mặt của ông già Phêrô. “Ai đã khởi sự câu chuyện là Thống đốc có con trai nhỉ ? Thật xấu hổ”. Người đồng hành lên tiếng : “Chẳng ai quan tâm đến chuyện đó đâu ? Theo tôi, có con gái cũng tốt như có con trai vậy, vì nhờ cô bé mà chúng ta có thức ăn ngon như thế này”. Ông già mù bối rối đứng tránh lùi lại phía sau để đám đông ồn ào đi qua. Ông nghĩ : “A, thì ra một em bé gái đã chào đời đem ân phúc đến cho gia đình Lambertini thay vì một cậu trai ! Thế nhưng sao tiếng chuông mừng lại kéo dài và vang lớn đến thế nhỉ ? Đấy chỉ là thông lệ dành cho các quý tử đầu lòng của các gia đình giàu có quyền thế mà thôi”. Ông Phêrô tự bảo mình : “Tôi đi tới xem sao”. Khi ông hối hả bước lên đường, thì cái gậy của ông cũng tìm được chỗ bằng phẳng của đường phố. Ông không đồng ý với người khách vừa mới nói và đã đi qua rồi. Dù con trai hay con gái, con của phu nhân Donna Castora cũng có một linh hồn mà qua Bí Tích Rửa Tội sẽ trở nên tinh tuyền xinh đẹp vô ngần. Linh hồn này không bao giờ chết, nhưng sẽ sống muôn đời. Ông nói cách sốt sắng : “Xin Cha trên trời chúc lành cho em bé”.

Chẳng bao lâu ông đã tới lâu đài, khuôn viên dành cho người nghèo của Bologna đã chật ních. Tại đây các dãy bàn dài được xếp đặt nhanh chóng. Các người giúp việc vội vã mang thức ăn thức uống ra. Ở một góc công viên, có vài nhạc sĩ trong y phục ngày lễ hội màu đỏ và vàng đang chỉnh lại các dây đàn. Giọng một người giúp việc vang lên rất lịch thiệp : “Đây, đi lối này ông bạn ạ. Nếu không đi lẹ lên ông bạn sẽ không còn chỗ nữa. Ông Phêrô gật đầu và để bà cầm tay dắt ông đi tới. Khi đã ngồi vào bàn, những tràng pháo tay vang dội của đám đông, cả nhóm người hô vang dội “Vạn tuế Thống đốc”. Rồi đám đông tiếp tục hô : “Vạn tuế phu nhân và hài nhi mới sinh”.

Ông già mù ngẩng bộ mặt thiếu thị giác về phía trước sân lâu đài. Thống đốc Egano Lambertini đã tới để chào đón thực khách và chúc họ vui vẻ, ăn uống thoải mái. Có lẽ ông tới để thông báo ngày rửa tội cho em bé, ngày đó sẽ có bữa tiệc mừng dành cho người nghèo của Bologna. Ông Phêrô cảm thấy sung sướng được nghe, được biết tên của em bé và hứa sẽ cầu nguyện cho cô bé được sức khoẻ và hạnh phúc.

Comments are closed.