NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC CÁC TÔN GIÁO LỚN
FRANÇOIS VARILLON UN CHRÉTIEN DEVANT LES GRANDES RELIGIONS
DO CHARLES EHLINGER DÀN DỰNG VÀ TRÌNH BÀY
CHƯƠNG I: CÓ THỂ NÓI RẰNG MỌI TÔN GIÁO ĐỀU CÓ GIÁ TRỊ NHƯ NHAU?
CÁM DỖ HIỆN NAY: THUYẾT TƯƠNG ĐỐI VỀ TÔN GIÁO
Để bắt đầu cuộc nói chuyện cho năm nay đã được cống hiến cho việc nghiên cứu về các tôn giáo lớn trong mối tương quan với Kitô giáo, trước hết chúng ta sẽ cố gắng trả lời câu hỏi: Có thể nói rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau?
Quả thật, có nhiều người đương thời đã bị cám dỗ nghĩ rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau. Một số ngjười còn nói, phải có ác ý lắm mới nghi ngờ điều đó. Bởi Thiên Chúa muốn mọi người đều được Cứu rỗi. Và họ dựa vào những câu nói của các Tổ phụ Hội Thánh để xác tín điều đó. Bởi các Tổ phụ đã nói rằng Mặt Trời thánh thiêng của sự công chính chiếu soi trên mọi người và cho mọi người. Thánh Gioan Kim Khẩu đã không ngần ngại xác định rằng: “Ơn của Thiên Chúa thì lan tràn khắp nơi và không trừ một linh hồn nào khi họ kêu lên Ngài”. Và thánh Augustinô: “Các người ngoại giáo cũng có các thánh ẩn kín của họ và các tiên tri của họ nữa”.
Còn về tiền đề (axiome) truyền thống thì không ngừng được lặp lại từ những thế kỷ đầu tiên cho đến ngày nay, “ngoài Giáo Hội không có ơn Cứu rỗi”, cũng phải nhìn nhận rằng nếu, vì phiêu lưu, người ta còn có thể nói ra được điều đó mà không giải thích gì cả, thì tức khắc sẽ nổi lên, ở những người này là những phản kháng hung bạo, và ở những người kia lại là một nụ cười đượm vẻ hoài nghi. Làm thế nào để tin được rằng có hàng triệu triệu con người đang không biết gì về Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô đã bị truất phế khỏi ơn Cứu chuộc. Một người theo đạo Hồi, đạo Hinđu, hay đạo Phật, nếu họ thành thật trong niềm tin của mình, họ sẽ không được Cứu rỗi sao? Và cũng chẳng phải là kiêu ngạo đối với một người Kitô hữu khi họ xác quyết rằng đạo Kitô giáo là một đạo thật duy nhất sao? Sau cùng, nếu tôi là người theo đạo Hồi hay đạo Phật thì chắc chắn tôi sẽ tin rằng đạo Phật hay đạo Hồi là đạo thật duy nhất. Vậy thì phải kết luận rằng chúng ta phải biết khoan dung và phải loại bỏ khỏi đầu óc mình sự tự phụ không khoan nhượng và không thể khoan nhượng – tự phụ không thể khoan nhượng vì tự phụ không khoan nhượng – rằng mình là người sở hữu sự thật tuyệt đối.
Ngoài ra, không có một cái vốn chung cho mọi tôn giáo lớn? Phải ngu dốt lắm mới nghi ngờ về điều đó. Vậy mọi tôn giáo lớn đều kết hợp nhau lại trên cái vốn chung đó có phải tốt hơn không? Chắc chắn những khác biệt vẫn sẽ tồn tại, nhưng có sau đâu, vì đó chỉ là những phụ thuộc. Nhiều người đang nói như thế ngày hôm nay.
Ước mơ lớn cho một tôn giáo toàn cầu.[7]
Bạn có biết bài ngụ ngôn về con voi?
Những người Hinđu (Ấn giáo) đưa ra một con voi trong một căn phòng tối. Nhiều người đã họp lại để xem con voi. Nhưng vì căn phòng quá tối, người ta không nhìn thấy gì cả, các khán giả đều sờ vào con vật để xem con voi như thế nào. Người này thì sờ vào cái vòi con voi và tuyên bố rằng con voi giống như một cái ống. Người khác thì sờ vào cái tai con voi và cho là con voi giống như một cái quạt. Người thứ ba sờ vào một cái chân của con voi lại quả quyết rằng con voi giống như một cái cột. Sau cùng một người khác nữa sờ vào cái mình của con voi và cho là con voi như một cái ngai vàng rộng lớn.
Kết luận người ta rút ra từ bài ngụ ngôn này cũng chẳng khác gì những người muốn cắt nghĩa Thiên Chúa. Họ chỉ biết được có một góc cạnh. Những góc cạnh về Thiên Chúa thì thực sự nhiều vô vàn vô số mà không một lời nào có thể bao trùm được tất cả. Người ta có thể đặt cho Thiên Chúa những tên khác nhau, người ta có thể đưa ra những đường lối khác xa nhau để học biết Thiên Chúa và kết hiệp với Ngài, nhưng Thiên Chúa vẫn chỉ là Thiên Chúa. Và đây mới là điều quan trọng.
Đối với nhà viết sử người Anh, tên là Toynbee, thì nhân loại đáng lẽ ra phải hướng về một tôn giáo vốn sẽ là sự liên hợp của Kitô giáo và Ấn giáo. Nhưng, một số người, nhất là người Ấn giáo lại cho rằng vật cản lớn nhất của sự tiến hóa nhân loại hướng về một tôn giáo tổng hợp, đó là việc Châu Âu, khi thừa nhận đạo Kitô giáo, mặc dù họ có một nền nhân văn rất cao, họ đã mắc phải một sự bất khoan nhượng thậm tệ vốn là hậu quả của một niềm tin vào một sự thật truyền thống, đã được Mạc khải một lần cho mọi người.
Ông Radhâkrisnan,[8] khi đó là phó tổng thống nước Ấn độ, và vào khoảng năm 1950, ông đã đi thuyết trình nhiều nơi tại Pháp và gần như khắp Âu Châu, ông đã viết rằng những người Hồi giáo, đáng lẽ ra phải tìm ở trong kinh Vệ đà (Vedas), nhưng người Nhật thì ở trong Đức Phật, những người Âu Châu thì ở trong Đức Kitô, những người Ả rập thì ở trong kinh Cô ran và những người Phi châu thì ở trong những bùa hộ mệnh – họ lẽ ra phải tìm trong đó cùng một động cơ như nhau để gắn vào niềm tin đặc thù của họ. Ông khẳng định rằng con đường của Ấn giáo là một con đường dân chủ. Ông tán thành việc Tolstoi, vốn là một trong những nguồn cảm hứng của Ganhdi, đã viết rằng: “Tôi không có một ưu đãi riêng nào cho đạo Kitô giáo”. Sau cùng thì ông đã chấp nhận quan niệm mà theo nó thì: “Sự thật cuối cùng, cho dù nó là gì”- chúng ta nên nhớ lấy câu này – “nó cũng làm nên cuốn Tân ước cho mọi tôn giáo đang hiện hành”. Để kết luận ông ca ngợi niềm hy vọng là toàn thể nhân loại một ngày nào đó sẽ trở nên một dân tộc duy nhất, ở đó những người Hồi giáo, Kitô giáo, Phật giáo và Ấn giáo đều liên kết với nhau bằng một sự sùng kính chung, nhất định không phải cho một quá khứ đã qua, mà cho một thực tại tương lai, cho một ước mơ lớn lao về một cộng đồng thế giới được trang bị bằng một tôn giáo hoàn vũ mà những tuyên xưng niềm tin của lịch sử sẽ chỉ là những cành nhánh của một cây.
Rõ ràng là giữa những người Tây Phương – những người Pháp chẳng hạn – ngày nay đang nghiên cứu về tôn giáo, nhiều người đã bị cám dỗ mạnh để công nhận những lời trên đây. Nhưng cũng nên biết rằng cuốn sách của Radhâkrishnan đã bị phê bình nghiêm trọng ngay tại Ấn độ, nhất là do một người Hin đu, rất uyên bác, ông Ananda K. Coomarasvamy, ông đã nói: “Trong những lời lên án của một người đang giữ chức vụ đại sứ tinh thần của nước Ấn độ, điều làm người ta ngỡ ngàng nhất là não trạng của ông này, do bởi được huấn luyện hay do bởi tính khí, hoặc do cả hai, lại có tính chất Ân hơn là Ấn. Ông này chấp nhận một cách không e ngại khái niệm hiện hành thuộc viện hàn lâm về “sự tiến bộ” nhân văn và những hệ luận không tránh khỏi của nó: “Sự tiến triển” của “những hệ thống” “triết lý tôn giáo”, nhưng ông lại không nhận ra điều mà Ấn độ đã thấy rõ, như việc nhận ra rằng có những vấn đề mà phương pháp lịch sử không thể áp dụng vào được, tuy nó chỉ có ích để sắp xếp những sự việc chứ không phải để làm sáng tỏ những nguyên tắc”.
Nó không thể áp dụng khi đó là vấn đề tôn giáo. Và tác giả thêm những câu rất ý nghĩa sau đây: “Sự khoan dung thời đại là triệu chứng lớn, hoặc do sự dửng dưng đối với sự thật hay sự lầm lạc về vấn đề thiêng liêng, hoặc do xác tín rằng sự thật không bao giờ có thể thấu đáo được. Đây là những câu nói có ký tên một người Hinđu, những câu này chúng ta nên nhớ lấy.
Vậy thì chúng ta thấy đó, ước mơ lớn về một tôn giáo hoàn cầu, vốn có thể như là một bông hoa tổng hợp của một thuyết tiến hóa có khoan nhượng, thì nó lại gợi lên những ý kiến bác bẻ ngay giữa lòng của Phương Đông. Như Jacques – Albert Cuttat, tác giả cuốn sách tuyệt vời La rencontre des religions (Sự gặp gỡ của các tôn giáo) đã nói: “Sự khát vọng nhân văn chủ nghĩa tới một sự hòa tan dần dần của những kinh tin kính hiện hành, đang chạm phải sự nhạy bén thiêng liêng của hai bán cầu. Và nếu sự khát vọng đó không thể viện ra được một sách thánh nào của Phương Đông hay Phương Tây, thì đó là nó đang tính toán mà không có Thiên Chúa”.
Cái độc đáo của kinh nghiệm về tôn giáo
Người ta có thể tự hỏi việc quyết định đối mặt với nhiều tôn giáo, phải chăng là một tham vọng không thể chấp nhận và cũng mâu thuẫn. Quả thật, người ta chỉ có thể so sánh hai đối tượng khi đứng ở bên ngoài hoặc ở ngay bên trên chúng. Như thế, người ta nhất định sẽ phải tìm một điểm đứng quan sát để đánh giá các tôn giáo từ bên ngoài chúng. Vậy thì có phải chúng ta đã dựng nên một cuộc thi thực sự về thẩm mỹ hoàn toàn hão huyền? Người ta sẽ tìm xem đâu là tôn giáo hữu hiệu nhất, cao cả nhất. Nhưng tôn giáo – và tôi hiểu tôn giáo ở đây không phải với cái nghĩa mà, hiện nay, người ta thường đem so sánh nó với niềm tin, nhưng với cái nghĩa về kinh nghiệm của sự tương giao giữa tạo vật với Thiên Chúa của nó – đây chính là điều người ta không thể phán đoán từ bên ngoài. Cũng đúng như vậy đối với tình yêu nhân loại; bản tính đích thực của tình yêu sẽ thoát khỏi chúng ta, nếu chúng ta tự làm khám giả để cân nhắc nó. Điều đó càng đúng hơn nữa đúng với tôn giáo. Cái đặc thù của một tôn giáo chính là người ta phải sống tôn giáo đó như một thực tại mà nguồn gốc của nó là thần thiêng, do đó, nó là siêu lý tính, do đó, người ta chỉ đến được với nó từ nội tâm mình. Ở đây chúng ta nên nhớ lại câu nói nổi tiếng của Pascal: “Bạn sẽ không đi tìm tôi, nếu trước đó bạn đã không thấy được tôi”. Và sẽ đúng hơn nữa theo lối viết sau đây: “Bạn sẽ không đi tìm tôi, nếu trước đó Tôi đã không tìm ra bạn”.
Người tín đồ đích thực của một tôn giáo – tôi muốn nói: người tín đồ đích thực, vì không ít những người ersatz (dỏm) -, ngay cả khi họ trở lại đạo đã trễ, cảm thấy mình đã không lựa chọn tôn giáo này giữa các tôn giáo khác. Nhưng ngược lại, họ thấy mình luôn khám phá được nhiều hơn khi chính họ đã được Thiên Chúa chọn trước rồi. Vì nếu không, thì Thiên Chúa mà họ nói đó sẽ không phải là Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa, Ngài chỉ có thể là tác giả của sự tìm kiếm kia. Bởi Thiên Chúa đã có mặt ở nguồn gốc của sự kiếm tìm, nếu không thì không phải là Thiên Chúa mà chính là đối tượng của một sự hiểu biết nào đó, một đối tượng giữa các đối tượng khác, ngay cả khi người ta bảo nó là siêu việt. Nếu Thiên Chúa thật sự là Thiên Chúa, Ngài đã có mặt ở nguồn gốc cái mà tôi tìm kiếm, Ngài là Đấng nhờ vào Ngài mà tôi tìm kiếm. Chính nhờ Ngài mà tôi là linh thiêng. Nếu không tôi chỉ đạt tới một đối tượng của sự hiểu biết, đó là chính sự phủ định của tính siêu việt.
Phải nhấn mạnh vào điểm này, đây mới là điều chủ yếu: Con người khi đi tìm Thiên Chúa, đôi khi có cảm giác mình đang lần theo một động tác phát ra từ chính mình để đi tới Chân lý tuyệt đối; sự thực thì chính Thiên Chúa đang đi tìm kiếm họ – hoặc không phải là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đang tìm kiếm họ và làm cho con người có khả năng đi tìm Ngài. Khi con người nhận biết rằng sự tìm kiếm này của họ là một lời đáp trả trở nên khả dĩ nhờ vào sáng kiến của Thiên Chúa đối với họ, và lúc đó con người tự khám phá mình đang ở bên trong Sự Thật. Vì thế mà – nhân tiện chúng ta nói qua ở đây – khi một người Kitô hữu cùng đi với một người không Kitô hữu, người kia không thể bước ra khỏi đạo Kitô của mình để đứng trên đài quan sát và tiến hành cái điều mà tôi gọi là một cuộc thi sắc đẹp hay sự thật, giữa các thần học hay giữa các tôn giáo. Đó là điều không thể được. Tất cả những gì một người Kitô hữu có thể làm, đó là giúp cho người không Kitô giáo khám phá ra mình đang ở bên trong SỰ THẬT và giúp họ nhận ra được điều đó. Sự hiểu biết về Thiên Chúa là một sự tái nhận ra Ngài, ở nghĩa kép của từ ngữ: hiểu thật sự (hiểu biết sâu sắc, có suy nghĩ – tái nhận ra), và sự tri ân. Sau cùng thì tôi nhận ra Đấng trước đó đã có mặt ở điểm xuất phát khi tôi tìm kiếm.
Tóm lại, nói rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau, đó là khẳng định rằng chúng là những con đường giống nhau để tiến tới cùng một Sự Thật chính gốc. Chúng ta hay suy nghĩ cho kỹ, đó cũng là nói rằng các tôn giáo đều xuất phát từ sự phân hóa của Sự Thật chính gốc đó. Nhưng bởi qua định nghĩa, Sự Thật chính gốc kia, nó vốn tiềm ẩn bên trong mọi tôn giáo, lại không được biểu lộ ra đúng như bản chất của nó – bởi vì tôi chưa biết có Sự Thật chính gốc nào lại được biểu lộ ra ngoài những tôn giáo lịch sử – vì phải ngang qua một trong những tôn giáo tích cực, vốn là những tôn giáo duy nhất có thể thực hiện được. Quả thật, cái phần ngầm ở bên dưới thì không thể thực hiện được, do bản chất của nó; người ta không thể thực hiện được những gì ngầm ở dưới. Vậy phải chọn một trong hai.
Hoặc nếu tôi quan sát, bằng cách lùi ra sau, đứng cao trên đài quan sát của tôi, để quan sát toàn thể những tôn giáo đang hiện hành để có thể khai thác chúng một cách khoa học cũng chẳng khác gì những hiện tượng, và trong trường hợp này thì tôi thật sự hoàn toàn không có khả năng. Tại sao? Bởi vì cái mà tôi quan sát từ trên đài cao đó, nó không phải là, không thể là, tôn giáo hay niềm tin thuần túy, đó chỉ là những cặn bã của tâm lý, của triết lý, hay của lịch sử, của những gì mà ngày nay giới trẻ gọi là tôn giáo, chính là khi họ cẩn thận phân biệt nó khỏi niềm tin. Vào thời buổi này người ta sự dụng và ngay cả, theo tôi, người ta lạm dụng phần nào sự phân biệt kia giữa tôn giáo và niềm tin, khi tôn giáo chỉ là những hậu quả của thể chế hay của tâm lý, hay của triết lý, hay của lịch sử – tất cả những gì không phải thật sự là chính hành động của niềm tin. Sự phân biệt đó dù là gì đi nữa, cũng chỉ còn lại niềm tin, và tôi sống niềm tin đó; ngoài ra, nếu không sống nó, thì niềm tin chẳng là gì. Tôi chỉ có khả năng nói về tôn giáo khi tôi đi từ một kinh nghiệm sống, tức một sự tương giao thực sự với Thiên Chúa.
Hoặc là tôi có sự hiểu biết cần thiết, nghĩa là kinh nghiệm của sự tương giao với Thiên Chúa. Bởi lẽ, tôi xin nhắc lại, ngoài kinh nghiệm sống của mối tương giao sống động đó với Thiên Chúa, thì không có niềm tin đích thực; mà chỉ có cặn bã và những rơi rớt mà thôi. Do đó, tôi có hiểu biết và cái nhìn của tôi mới thực sự là tôn giáo. Trong trường hợp này, tôi nhất thiết phải tiến tới các tôn giáo khác nhau, bắt đầu từ một trong các tôn giáo đó, và có thể là chính tôn giáo của tôi, vì nếu không phải là tôn giáo đó thì tôi sẽ không có một kinh nghiệm thiêng liêng nào đích thực, không một kinh nghiệm nào của niềm tin.
Người ta có thể tự hỏi không biết khi người ta đặt ra ý nghĩ rằng mọi tgio đều có giá trị như nhau, thì sau cùng điều đó có che giấy một sự dửng dưng trước Sự Thật, một sự bình an giả tạo của lương tâm, một sự dừng bước quyết định của con người tiến tới Sự Thật. Hay hơn nữa, một nhập nhằng giữa cái thành thật và sự thật. Điều hiển nhiên là lòng thành và sự thật không phải là những từ đồng nghĩa với nhau, như chúng ta thường nói mỗi ngày: người ta có thể bị lừa do vì quá thành thật. Nói rằng mọi tôn giáo đều giá trị như nhau, phải chăng đó là muốn lấy đi trí tuệ khỏi cuộc đối thoại của tạo vật với Tạo Hóa của nó? Đối với tôi, đây quả là một cơn cám dỗ rất nguy hiểm, bởi nó đụng đến chính cái cốt thiết của con người.
Học hỏi về các tôn giáo và đem so sánh chúng với nhau, đối mặt với những trào lưu lớn về tôn giáo, là một việc phải làm rất hữu ích, có thể là cần thiết trong bối cảnh của một thế giới mà ở đó sự đối mặt của các dân tộc và các nền văn minh của họ đang đòi hỏi chúng ta phải làm một cách cấp bách như một công việc không thể tránh né. Nhưng tôi xin nói: với điều kiện dứt khoát là sự đối mặt này, đối với mọi người, phải là cơ hội để chúng ta đào sâu niềm tin tôn giáo của chúng ta. Câu hỏi phải được đặt ra cho một sự đối mặt với các tôn giáo là câu sau đây: đạo Kitô giáo đem lại cho tôi cái gì là tuyệt đối duy nhất và không thể thay thế? Thật ra thì, khi người Kitô hữu không có khả năng để trả lời cho câu hỏi đó, người ta có thể tự hỏi không biết họ có thật sự là người Kitô hữu không và tại sao họ lại là người Kitô hữu.
Chữ đào sâu có lẽ đúng hơn là đối mặt. Ngữ vựng ở đây quả là khác bổ ích. Có một sự liên kết giữa những từ biên giới, đối mặt, và đương đầu. Biên giới là một giới hạn phân chia hai quốc gia. Người ta nói về một cánh đồng khi nó đối mặt với một con đường. Và đối mặt, nói theo kiểu thơ đối khẩu, là nói về hai cái đầu nhìn nhau, hay hai vật thể đặt để đối mặt nhau, ở phía sắc bén hay mũi nhọn. Vậy thì, từ đối mặt đến tấn công chỉ còn một bước; đối mặt với ai, là coi người ấy là kẻ thù và tự cho mình là người chiến thắng. Nhưng địa lý của thế giới linh thiêng không phải là địa lý của thế giới vật lý. Trong một thế giới linh thiêng – điều này phải phân biệt cho kỹ – đó là bề mặt và chiều sâu. Bề mặt là nơi chốn của những đối mặt và là những đối mặt về luận chiến. Chiều sâu là nơi chốn của những gặp gỡ.
Vậy thì, chỉ có ở chiều sâu là nơi người ta thôi không nhìn nhau, giữa những người này và người kia, với một ánh mắt đầy thách thức, mà để cùng nhau nhìn về Đấng mà người ta tin và người ta tuyên xưng, phía những người này cũng như những người kia, rằng Người là Tất Cả cho cuộc đời của họ – bởi nếu Thiên Chúa không phải là Tất Cả của cuộc đời thì người ta đừng nói về tôn giáo nữa: mà chỉ còn là những ersatz. Nhưng để đi từ bề mặt xuống chiều sâu thì phải đào xới.
Những ngõ cụt
Chính để giúp nhau đào sâu các việc mà bây giờ tôi muốn bày ra những ngõ cụt, tôi muốn nói là những thái độ giả tạo mà chắc chắn chúng chẳng dẫn đến đâu và người ta phải thấy ngay từ lúc khởi đầu, là chúng không có lối ra, nếu thật sự người ta có suy nghĩ. Những thái độ này là những thái độ sau đây: chủ thuyết giáo điều, độc quyền, chủ thuyết hoài nghi (scepticisme), chủ thuyết thực dụng (pragmatisme) và chủ thuyết hỗn hợp (syncrétisme). Tôi sẽ giải thích từng chữ hơi kỳ quặc trên đây, và những thái độ mà chúng bao gồm. Nếu chúng ta muốn làm trong sạch hóa trí tuệ của chúng ta trước khi đi vào việc nghiên cứu nhưng tôn giáo lớn, đây là một cuộc xét mình cần thiết.
Chủ thuyết giáo điều độc quyền (dogmatisme exclusif)
Chủ thuyết giáo điều độc quyền, đây là thái độ bè phái và không khoan nhượng. Đối với chủ thuyết giáo điều độc quyền, thì một tôn giáo nào đó và chỉ tôn giáo đó thôi, chứa đựng sự thật toàn vẹn. Trong tôn giáo đó có mọi điều tốt, ngoài tôn giáo đó, chỉ thuần túy và đơn giản là sự lầm lạc. Đây chính là một ngõ cụt.
Trước khi đi tiếp, tôi phải báo trước ở đây có thể có một sự lập lờ. Chúng ta hãy để ý vào những chữ chúng ta dùng. Tôi muốn nhắc lại một lần nữa, là có thể phải viết một cuốn sách về những đề tài sau đây: thuyết tín ngưỡng, kẻ thù số một của Đức tin; chủ thuyết truyền thống, kẻ thù số một của truyền thống; chủ thuyết giáo điều, kẻ thù số một của giáo điều; chủ nghĩa đạo đức, kẻ thù số một của đạo đức. Cuốn sách này sẽ đem lại một lợi ích to lớn. Điều mà tôi chỉ định trong lúc này chính là chủ thuyết giáo điều như một kẻ thù số một của Đức tin.
Theo một nghĩa nào đó, đạo Kitô giáo, nhất là Công Giáo, thì rất giáo điều. Trong Giáo Hội, có những lời nói có tính giáo điều, những điều giáo lý: tội tổ tông truyền, xác loài người ngày sau sống lại, bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa Ba Ngôi… nghĩa là tất cả những gì trước đây người ta gọi là giáo lý, “tất cả những sự thật mà Hội Thánh đặt thành lời từ từ theo thời gian hằng thế kỷ để cho ánh sáng của Mạc khải, vốn hoàn toàn ở trong Đức Kitô, được đón nhận cho đúng mà không bị một sự sai lệch nào. Và chuyện này thì khác với chủ thuyết giáo điều độc quyền. Ngoài ra, đó là ý nghĩa sự đơn nhất của chân lý. Và hơn nữa những đòi hỏi của lý trí chúng ta cũng phải được toại nguyện chứ không phải đem bỏ mặc cho những đam mê.
Vậy thì con người giáo điều, thông thường nhất là một con người đam mê; chủ thuyết giáo điều nhất thiết là một chuyện của đam mê. Chính sự đam mê chứ không phải tri thức đang dẫn dắt một con người giáo điều đến sự ngộ nhận những giá trị xác thực vốn hiện hữu trong những quan niệm khác kia, chứ không phải quan niệm của họ.
Về mặt chính trị cũng vậy, hay cả về văn chương cũng có những con người giáo điều độc quyền. Bạn có biết có những con người không thể nào có khả năng chấp nhận những ai không nghĩ như họ mà lại có thể nói được sự thật.
Có một từ ngữ nói rất rõ nguy cơ của thái độ này của họ đó là từ “fanatisme” (cuồng tín). Hay từ “sectarisme” (chủ thuyết bè phái). Trong sự cuồng tín hay trong chủ thuyết bè phái, về tôn giáo, có ngấm ngầm một thứ đạo Ma-nét, đạo thiện ác (Manichéisme): những đạo này thì luôn có chân lý, những đạo khác thì không. Đối với những người giáo điều, họ nói: chúng tôi có chân lý, chúng tôi sở hữu nó như người ta sở hữu một cái gì đó, một sở hữu vật. Nhưng sở hữu một vật linh thiêng là gì, tôi xin hỏi các bạn. Cái tinh túy của sự linh thiêng là cái ngược lại với sở hữu vật; đó là cái nghèo nàn, cái thiếu vắng của sở hữu vật. Không phải chúng ta là người sở hữu Chân lý, chính Chân lý sở hữu chúng ta.
Một dấu hiệu sáng chói của chủ thuyết giáo điều, với cái nghĩa xấu nhất của từ ngữ này, là nó không thể nào tán tụng tôn giáo của bản thân nó mà không hạ thấp những tôn giáo khác. Chúng ta đã sống trong tình trạng đó suốt bao thế kỷ giữa những người Công Giáo và Tin lành. Trong thời thơ ấu của tôi, mỗi lần người ta ca ngợi đạo Công Giáo trước mặt tôi là dứt khoát người ta hạ thấp đạo Tin lành. Một con người giáo điều độc quyền thì không thấy rằng khi họ nhận một tôn giáo nào đó là đích thực, nghĩa là thật sự một kinh nghiệm linh thiêng, thì điều đó bao hàm một đòi hỏi phải nhận ra những chân lý trong các tôn giáo khác vốn phần nào bị chôn vùi trong đó và chưa được hoàn toàn đem ra ánh sáng và chưa được thành toàn. Những người giáo điều chưa bao giờ đọc – hoặc họ không đọc lại và suy gẫm – bài giảng của thánh Phaolô cho giáo hữu thành Athen (Cv 17), một đoạn văn cần được đọc lại. Ông nói với những người ngoại đạo: “Tôi Phaolô đứng giữa tòa án Athen, xin nói: Thưa quí vị người Athen, tôi thấy rằng, vê mọi mặt, quí vị là những người cùng đạo hơn ai hết. Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quí vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: “Kính thần vô danh”. Vậy Đấng quí vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quí vị… Thật vậy, chính ở nơi Người chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quí vị đã nói: “chúng ta cũng thuộc dòng giống của Người”.
Đọc lại đoạn văn này trong sách Công vụ Tông đồ, tôi không thể không nghĩ đến câu nói độc đáo của Paul Claudel, ở cuối một bài nói về cuốn sách của Saint-John Perse, mà ai cũng biết ông này là một người mất nhận thức: “Ông đã bỏ không dùng chữ Thiên Chúa một cách rất sùng bái?!” Và Saint-John Perse đã viết ngay sau đó cho người anh cả của mình: “Anh là người duy nhất đã tìm ra được một chữ sâu sắc và đúng. Thật vậy, việc làm sùng đạo nhất mà tôi có thể làm là không dùng chữ Thiên Chúa bao lâu tôi chưa đạt được tận sâu thẳm trong tôi, sự nối kết của niềm cảm hứng tới cái vô biên với những gì mà tôn giáo dạy tôi”. Đây chính là cái ngược lại của chủ nghĩa giáo điều độc quyền, đó là sự cao cả, sự cao cả đích thực.
Một dấu hiệu khác của chủ nghĩa này là nó muốn áp đặt điều nó tin là sự thật, trong khi người ta chỉ có thể đề nghị với lòng kính trọng và sự tự do của kẻ khác. Nhất là khi đó là một tôn giáo hoàn toàn tập trung vào tình yêu. Tình yêu thì không áp đặt trong bất cứ trường hợp nào. Mà yêu là gì? Yêu là quyết tâm không bao giờ dùng bạo lực và sức mạnh đối với người mình yêu. Ngay cả quyến rũ cũng là một sức mạnh, vậy thì thiếu tôn trọng, thì không để đi đôi với tình yêu. Khi người ta yêu thật sự, người ta sẽ không quyến rũ. Tình yêu không áp đặt trong bất cứ một trường hợp nào. Tôi càng suy nghĩ về Thiên Chúa hiện sống là gì, tôi càng nhận ra rõ ràng là Thiên Chúa không bao giờ dùng sức mạnh làm phương thế đối với thụ tạo của Người. Đó là điều mà tôi gọi là sự khiêm hạ của Thiên Chúa[9].
Trong mọi tôn giáo, đều có những người giáo điều độc quyền. Mahomet ra lệnh chống lại những ai không tin vào Thiên Chúa; đó là nguyên tắc của cuộc thánh chiến. Những người Ấn giáo đã truy nã những người Phật giáo. Giáo Hội Công Giáo, hơi ơi, không thể xóa bỏ khỏi lịch sử của mình, cái Tòa án dị giáo ghê gớm với những cực hình của nó. Và khi người ta nghĩ đến chỉ cái tên Torquemada thôi đã thiêu chết cả 8000 người bị tình nghi là theo tà đạo[10].
Calvin đã kết án nhà bác học Michel Servet trên giàn thiêu. Các tín đồ phái Quây-cơ (quaker) đã bị truy nã, bỏ tù và đánh đòn ở bên Anh và Bên Mỹ.
Chủ nghĩa giáo điều dẫn đến không khoan nhượng và không khoan nhượng dẫn đến trọng tội. Khi sự hận thù và việc tôn thờ sự thật sống ổn thỏa với nhau thì người ta có thể tin chắc rằng sự thật ở đây không được xứng đáng tôn sùng. Giáo Hội vẫn luôn dạy rằng hành động của nìm tin là một hành động của tự do và nếu hành động đó bị ép buộc thì nó không có giá trị. Chủ nghĩa giáo điều luôn có chiều hướng không nhìn nhận lời giảng dạy căn bản kia. Nó tường dễ dàng lẫn lộn tự do lương tâm với tự do của lương tâm. Người ta gọi tự do lương tâm chính là sự dửng dưng trước điều thiện và điều ác, sự từ chối dứt khoát những chuẩn mực khách quan về điều thiện và điều ác, và rõ ràng đây là thái độ đáng lên án. Nhưng tự do của lương tâm lại khác hẳn; đây chính là sự nhận biết của tự do về hành động của niềm tin. Trong thông cáo Mystici corporis (1943) Đức Giáo Hoàng Piô XII đã xác định rõ: “Nếu đôi khi, dù có trái với giáo lý cố định của Hội Thánh các Tông đồ, mà có ai đó bị miễn cưỡng phải chấp nhận theo đạo Công Giáo, thì chúng ta vẫn bắt buộc phải ruồng bỏ ngựời đó vì cái lối xử sự kia của họ”. Nhất định phải đọc lại những đoạn văn như thế.
Ngày nay, một luồng gió mãnh liệt của phong trào chống chủ nghĩa giáo điều quét sạch hầu như cả cánh đồng khỏi cái kinh nghiệm Kitô giáo này. Nó cũng thổi mạnh vào những lãnh vực lớn của kinh nghiệm nhân văn nói chung. Ở đây có một cái gì gọi được là lành mạnh, nhưng với hai điều kiện: một mặt người ta không được thiên vị trong việc tố giác những giáo điều, và mặt khác người ta không được lẫn lộn giáo điều như một não trạng không khoan nhượng với sự cần thiết trong Giáo Hội phải có những giáo điều có chuẩn mực và được thi hành trong các cộng đồng.
Chủ nghĩa hoài nghi (SCEPTICISME)
Chủ nghĩa hoài nghi cũng không hơn gì chủ nghĩa giáo điều. Đây là một chước cám dỗ luôn rình chực chúng ta ngay vừa khi chúng ta nhận thấy trên thực thế có sự khác nhau trong những quan điểm và những tín ngưỡng. Philatô đã hỏi: “Sự thật là gì?”(Ga 18,38). Và người ta tự hỏi: Cũng có một sự thật sao? Mỗi người đều có một sự thật của mình. Hoặc là: Ai nấy đều có sự thật của mình. Và ngay từ lúc đó, người ta tránh không nói ra một sự thật. Người ta rút khỏi trò chơi. Hậu quả của nó là gì? Đó là tư tưởng đang chết. Khi đó người ta trở thành người khán giả nhận thấy điều sai lầm trong tín ngưỡng của kẻ khác.
Khi chủ nghĩa hoài nghi trở nên cố chấp, cứng ngắc, và người ta cố gắng khẳng định nó là như thế, thì nó trở nên mâu thuẫn. Tại sao Aristote đã nói về điều đó: người ta khẳng định rằng không có sự thật tuyệt đối, nhưng người ta lại cố chấp rằng sự khẳng định đó là tuyệt đối. Không có gì là tuyệt đối ngoài sự khẳng định: không gì là tuyệt đối cả. Không có gì là thật, nhưng khẳng định không gì là thật cả, lại là điều thật.
Rất thông thường thì chủ nghĩa hoài nghi lấy làm thích thú cho mình là khán giả của cuộc thao diễn ngựa của các tôn giáo. Người ta nghĩ tới Voltaire. Người theo chủ nghĩa là khôn khéo rút khỏi cảnh khó xử. Họ đóng vai kẻ biết từ bỏ. Và điều đó làm cho họ có vẻ là kẻ cả, đến nỗi người ta dễ dàng nhầm lẫn nó vơi sự tinh tế của trí tuệ và sự hài lòng về tự do.
Nhưng thực ra, chủ nghĩa hoài nghi là một sự thoái thác. Kẻ nào ngừng không nghĩ suy nữa, khi nó chẳng còn gì là tinh túy, là Thiên Chúa, nó sẽ mau chóng đi đến suy nghĩ thụt lùi. Tinh thần của người theo chủ nghĩa hoài nghi không còn được kích thích; nó trở nên suy nhược vì thiếu lương thực bồi bổ. Đây là một trong những điều làm tôi lo ngại khi tôi nghĩ đến một số trong giới trẻ. Platon nói là phải tìm sự thật với tất cả tâm hồn mình. Khi người ta ngừng không tìm kiếm sự thật với tất cả tâm hồn mình, người ta tự kết án mình phải sống hời hợt bề ngoài và trở nên xa lạ với niềm vui, vậy mà niềm vui lại chính là ơn Gọi sâu xa nhất của chúng ta. Chúng ta được dựng nên cho niềm vui. Sự thật chỉ được Mạc khải cho những ai đi tìm nó với tất cả tâm hồn mình và cố gắng biến đổi cái thấp Babel của các quan niệm thành một ngày Hiện xuống thật sự hiệp nhất.
Chủ nghĩa thực dụng (Pragmatisme)
Chủ nghĩa thực dụng cũng là một ngõ cụt khác. Nó nằm hoàn toàn trong câu nói của William James: “Sự thật, đó là sự lợi ích”. Tiêu chí của sự thật sẽ là sự thành đạt, sự hiệu năng. Một số thanh niên và thanh nữ hiện đang đi tìm ở phía Ấn giáo một sự hiệu năng mà chúng không tìm được ở trong cái mà chúng gọi là truyền thống Phương Tây về tôn giáo. Đối với chủ nghĩa này, ý niệm đúng nhất là ý niệm có hiệu lực nhất. Chỉ hành động mới là quan trọng, bởi lẽ hành động thì có hiệu lực; nó chỉ là một dụng cụ phục vụ cho hành động. Vậy thì người ta lại đặt câu hỏi: “Trong các tôn giáo thì tôn giáo nào là hữu hiệu nhất để an ủi con người thoát khỏi những đau khổ của cuộc đời, để làm cho con người thảnh thơi chờ đợi giây phút chót của cuộc hành hương trần thế này của họ? Chính tôn giáo đó mới là tôn giáo thật. Và nó thật, bởi nó hữu hiệu.
Chúng ta cũng lưu ý rằng chủ nghĩa thực dụng cũng có một cái gì đó đúng. Quả thật, nhất thiết sự thật phải là hữu hiệu, nó phải đem đến cho chúng ta những hoa trái cụ thể, nhìn thấy được và sờ được. Phúc âm cũng nói rõ, cứ nhìn quả thì biết cây (Mt 7,26 và 20). Và hơn nữa, khi người ta tìm ra một hiệu quả, người ta phải đánh giá đúng về hiệu quả đó. Vậy thì hoa trái nào, hiệu quả nào? Bạn nói rằng tôn giáo đó có hiệu quả về sự an ủi mà nó đem đến. Nhưng hoa trái của một tôn giáo có phải là sự an ủi chăng? Mà ủi an như thế nào? Bạn tìm gì trong hành động niềm tin của bạn? Bạn có đang ở trên con đường của một tôn giáo ru ngủ, và tại sao không, thuốc phiện cho loài người mà?
William James nói: “Sự thật, là khi nó có ích” và khi người ta đặt câu hỏi: có ích cho ai? Có lợi cho cái gì? Thì ông trả lời: Nó là thật vì nó đem lợi ích đến bất kỳ bằng cách nào. Nếu nó là thế, thì con người sẽ có thể tìm được lợi ích trong cả những tôn giáo chống đối nhau nhất. Người ta sẽ không còn nói về sự thật được nữa. Trong thời gian xảy ra vụ Dreyfus, nhiều người đã nói: “Con người đã có vô tội đi chăng nữa thì cũng có sao đâu; bây giờ ông ta bị kết án rồi thì sự hồi phục danh dự cho ông sẽ có hại cho thanh danh của Quân đội và của phe quốc gia. Vậy thì, mặc kệ, nếu ông Dreyfus đã bị kết án vì niềm tin sai lầm mà ông đã minh chứng. Cha mẹ chúng ta đã nghe nói như thế, cũng may là chính họ đã nói như thế. Ở đây chúng ta có một trong các ví dụ đáng buồn nhất của chủ nghĩa thực dụng tồi tệ nhất. Người ta nói cả đến một con người “yêu nước giả dối”; một sự giả dối được dựng nên để làm cho một kẻ vô tội bị kết án, lại có một giá trị yêu nước!
Khi điều lợi ích là tiêu chuẩn của sự thật thì không còn gì có thể ngăn cản được con người tự phó nộp mình cho sự bạo tàn. Đọc lại những suy nghĩ về sự bạo tàn của Georges Sorel sẽ là một điều rất bổ ích (1908). Sự tàn bạo, quả thật, rất nhiều khi nó lại là cái có hiệu năng hơn hết, ít là cũng trong thời gian ngắn. Nó có hiệu lực để đem thắng lợi đến cho một hệ thống tư tưởng. Tòa án dị giáo thời đó cũng rất hữu hiệu. Cuộc khủng bố đạo của Long kỵ binh (chống đạo Tin lành, dưới triều Lui XIV) cũng vậy. Nhưng những đòi hỏi sâu xa của tinh thần và con tim thì lại ở một trật tự khác xa với những quyền lực của bản năng.
Tiêu chuẩn của lợi ích dẫn đến sự tuyên truyền, sự tuyên truyền, lại lẫn lộn với công tác mục vụ. Sự tuyên truyền ở đó, người ta sử dụng sự thật nhiều hơn là người ta phục vụ nó. Sự thật không còn được kính trọng như nó đáng kính trọng. Tất cả đều là nhàm chán. Khi người ta không kính trọng nữa, thì người ta áp đặt thay vì đề nghị. Nói cách khác, người ta không đến với tự do của con người mà người ta đến vơi lợi ích của riêng mình. Ở đây phải thật sáng suốt, bởi một vài kiểu vô tư có thể là rất vụ lợi mà người ta không nhận ra; và điều này thì rất thường xuyên. Những người trẻ thường rất sáng suốt khi họ phán đoán những người lớn về vấn đề này, mà không phải luôn luôn là họ có lý.
Thuyết hỗn hợp (Syncrétisme)
Trong việc nghiên cứu các tôn giáo, phải từ chối mọi hính thức theo thuyết hỗn hợp. Thuyết hỗn hợp là thái độ theo đó, các sự thật thuộc phe phái, vốn hiện hữu trong mọi tôn giáo sẽ giúp cho việc rút tỉa ra một tôn giáo mới, nếu người ta đem hiệp nhất chúng lại. Và tôn giáo mới này sẽ nêu cao giá trị những ưu điểm của mỗi tôn giáo và che giấu đi những khuyết điểm của nó. Chỉ cần khám phá ra một điểm nổi bật thì nó sẽ làm tan ra trong cái lò lửa của nó, tất cả những gì là thật trong các tôn giáo khác.
Người ta thường hay lẫn lộn thuyết hỗn hợp (tôn giáo) với chủ thuyết chiết trung (không chuyên thích cái gì). Trong triết học, mọi thức chiết trung đều không đáng lên án, ít là tự bản thân nó. Đây là một phương pháp nhờ sự khám phá ra một cái nhìn cao hơn để dung hòa những luận đề mà trước đây đã được trình bày như là tương phản nhau bởi các tác giả vốn bênh vực chúng. Việc tìm một cái nhìn cao hơn là đúng thôi, vì nó giúp dung hòa những gì là sự thật từng phần trong một vài hệ tư tưởng. Theo nghĩa này thì người ta có thể nói về chủ thuyết chiết trung, chủ thuyết sản sinh ra Platon, Aristote hay Leibniz. Và việc đón nhận mọi tư tưởng lớn đã được khởi xướng, và việc làm cho chúng chảy tan và hòa hợp với nhau trong lò nung của một tư tưởng mới thì đó là một việc làm tốt đẹp. Nhưng lại là một chuyện khác khi đem lắp ráp những mảnh học thuyết như một thứ lắp ghép kính màu về triết học mà không cân nhắc cho kỹ cái sai lầm và sự thật.
Nếu muốn nói cho đúng hơn thì phải nói là chủ thuyết chiết trung đích thực, chủ thuyết mà tự thân nó không đáng bị lên án, nó coi thường nghệ thuật phối hợp, nghệ thuật kết hợp trái với tự nhiên. Vậy, chủ thuyết hỗn hợp tôn giáo chính là điều đó.
Về mặt tôn giáo, người ta bắt buộc phải nói về thuyết hỗn hợp theo cái nghĩa xấu và điều kiện ở đây có một sự cám dỗ nghiêm trọng. Tôi xin hỏi, và có lẽ đây là điểm mấu chốt của điều tôi suy nghĩ: Làm sao người ta có thể kết hợp và làm hòa tan trong cùng một tôn giáo, đạo Hinđu vốn từ chối một Thiên Chúa Tạo Hóa, đạo Do thái vốn không chấp nhận một Thiên Chúa Nhập Thể, đạo Hồi vốn chối bỏ một Thiên Chúa Ba Ngôi và Kitô giáo vốn không là gì cả ngoài niềm tin vào một Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng tạo hóa và Nhập Thể? Thật sự, tôi không hiểu được.
Tôi không tuyệt đối chối bỏ những giá trị rất cao đang hiện hữu trong các tôn giáo khác nhau. Nhưng đâu là cái nhìn cao hơn để người ta có thể nại vào đó mà vượt qua được, từ trên cao, cả ba điểm đều là cốt yếu một cách tuyệt đối cho niềm tin Kitô giáo và chúng liên kết chặt chẽ với nhau trong Thông điệp của Kitô giáo. Thiên Chúa là Chúa Ba Ngôi, và người ta có thể nghĩ rằng ý tưởng về một Thiên Chúa tạo hóa sẽ là mâu thuẫn nếu Thiên Chúa lại không phải là Chúa Ba Ngôi. Ít là đối với tôi, tôi không hiểu được việc tdư sẽ ra sao nếu Thiên Chúa không phải là Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm của việc tạo dựng lúc đó sẽ thật khó khăn khôn lường. Còn về việc Nhập Thể thì dĩ nhiên cũng không thể có, nếu Thiên Chúa không phải là Chúa Ba Ngôi. Chúng ta cũng cần phải hiểu rằng đạo Kitô giáo cũng chẳng còn là gì nữa ngoài niềm tin vào Chúa Ba Ngôi. Nếu Thiên Chúa không phải là Chúa Ba Ngôi, sẽ không có việc Nhập Thể và ơn gọi của loài người sẽ không còn là để trở nên thánh thiêng. Mọi sự đều ở đó.
Vậy thì cái nhìn cao hơn kia sẽ là gì để có thể hòa tan mọi tôn giáo vào trong một tôn giáo duy nhất? Phải chăng là xác tín vào một sự siêu việt? Nhưng xác tín vào mộtg sự siêu việt là việc của triết lý. Cái đặc thù của tôn giáo lại không phải là nói lên rằng có một sự siêu việt mà nó nói với chúng ta đây là cái siêu việt đó. Không chỉ nêu lên rằng: Thiên Chúa có hiện hữu chăng? – đó là việc của triết học. Nhưng: Trái Tim Thiên Chúa đập ra sao, những cái đập của Trái Tim Thiên Chúa do đâu mà có. Quả đây là một nghi vấn tôn giáo và trên nghi vấn này, các tôn giáo không chỉ là khác nhau, chúng thật sự có những đường lối khác nhau mặc dù chúng có những cái đồng nhất với nhau mà chúng ta có thể khám phá ra.
Đó là vì sao tôi nghĩ nếu chúng ta nói rằng mọi tôn giáo đều giá trị như nhau, và sau cùng cũng dạy một sự thật như nhau, thì đó là một khẳng định sai lầm. Thật là một ảo tưởng để cho rằng có thể làm chung sống trong một tri thức nhân loại và trong một con tim loài người, những quan niệm khác nhau đến thế về Thiên Chúa, về con người và về thế giới.
Nhưng chối bỏ thuyết hỗn hợp các tôn giáo nhất định sẽ không ngăn cản để nhìn nhận những giá trị đích thực mà các tôn giáo đang chuyển tải.
Vậy thì, khi chúng ta nghiên cứu cách tỉ mỉ về đạo Phật, chúng ta sẽ nhận ra cái gì đang chiếm cứ tâm can của đạo này, nhất là dưới hình thức của người Nhật Bản, đó là tình người, sự đòi hỏi của lòng bác ái. Và trong lúc này, nên nhìn thật kỹ sự khác nhau giữa lòng bác ái Kitô giáo và lòng bác ái Phật giáo.
Một hôm ông Gandhi đối thoại với một nhà truyền giáo theo đạo Công Giáo. Nhà truyền giáo nói với ông rằng, mình coi ông ấy như một môn đệ đích thực của Đức Giêsu Kitô. Ông Gandhi liền trả lời: “Quả thật, tôi là như vậy, nhưng chắc hẳn trong một tâm thức khác với tâm thức mà bạn hiểu. Bởi tôi cũng là môn đệ của Đức Phật, của Krishna, của Mahomet. Họ tất cả chẳng có cùng một mục đích sao, đó là sự thật, tình người và sự công chính?” Nhà truyền giáo đáp lại: “Tuy nhiên, theo Đức tin của tôi, thì Đức Kitô đã đem đến cho thế giới sự thật tối cao, nghĩa là sự Mạc khải của Thiên Chúa hiện sống – “Vậy thì, trong trường hợp này – ông Gandhi mỉm cười đáp lại: “Nếu tôi có được sự xác tín đó, tôi, tôi sẽ chịu phép rửa ngay tức khắc”.
Người ta có thể đặt nhan đề cho cuộc đối thoại này là “giá trị và giới hạn của chủ thuyết hỗn hợp”.
NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA KINH NGHIỆM KITÔ GIÁO
Chủ thuyết giáo điều, chủ thuyết hoài nghi, chủ thuyết thực dụng, chuyết hỗn hợp, theo ý tôi, đó là những ngõ cụt vốn bị xóa nhòa trong bãi cát của cái tầm thường trí tuệ và tinh thần.
Nếu chúng ta để ra một bên, chủ thuyết giáo điều vốn không khoan nhượng, người ta có thể nói rằng cái đang ẩn giấu trong mọi thái độ này, đó là sự khoan nhượng. Một ngày nào đó, khi Paul Claudel đang bẳn gắt, và người ta lại đem chuyện khoan nhượng ra nói với ông, ắt hẳn ông sẽ càu nhàu mà nói: “Cái thứ khoan nhượng đó… đem mà quẳng nó đi”. Ông muốn nói là, khoan nhượng thì luôn luôn một cách nào đó, là khinh bỉ, là hạ cố. Khoan nhượng, không phải là yêu thương. Người ta không yêu thương cái mà người ta phải khoan nhượng. Người ta yêu thương khi người ta hiểu biết. Đó, vì thế mà trước hết phải hiểu biết.
Trong cái viễn tượng của sự khoan nhượng đơn thuần, bài ngụ ngôn con voi trong phòng tối quả là bất hủ: mỗi người, với sự thật của chính mình. Nhưng người ta có thể thấy rằng những người sờ vào một phần thân thể của con voi, cái vòi, cái tai, hay cái lưng, họ đã không đến gần ở cùng một mức độ “sự thật” về con vật, nếu tôi dám nói như thế. Người sờ vào đầu con voi sẽ khám phá ra một cái gì khác hẳn với những người gọi “voi” là cái lưng hay cái chân. Thân hình của một hữu thể đang sống phải là một tập thể tất cả những gì có trước cả những phần thân thể của nó, một toàn thể có trên dưới mà những yếu tố của nó không thể như nhau, cũng không thể thay thế cho nhau. Huống hồ đối với nhân loại trong những quan hệ của nó với Thiên Chúa. cái dở của bài ngụ ngôn con voi là biến các tôn giáo thành những viễn tượng, thành những quan điểm hoàn toàn chủ quan. Nó giả thiết Thiên Chúa là một “vật tặng” (un donné), gần như một con voi đang ở đó. Nó bỏ qua rằng Thiên Chúa có thể “tự hiến” (se donner).
Nói cách khác, và để đặt bài ngụ ngôn ra một bên, thì người Kitô hữu chỉ được chấp nhận sự thật và những điều cao quí của các tôn giáo khi nó đào sâu chính tôn giáo của mình để khám phá ra điều mà Đức Kitô mang đến là tuyệt đối độc đáo và không thể thay thế. Bao lâu người Kitô hữu chưa nói được vì chưa sống được điều mà Đức Kitô đem đến là tuyệt đối duy nhất, thì đó chưa thể nói gì được về các tôn giáo khác. Vấn đề chủ chốt là ở đó.
Vậy thì, đâu là cái độc đáo duy nhất, tuyệt đối duy nhất của đạo Kitô giáo? Cái độc đáo duy nhất đó được diễn tả một cách hoàn hảo trong câu nói của Chúa Giêsu, trong vài Tin Mừng của Thánh Gioan: “Ai thấy Ta, là Thấy Cha” (Ga 14,9). Tất cả đều nằm trong câu khẳng định này. Jacques-Albert Cuttat và nhiều nhà viết sử về tôn giáo, đều thấy rõ điều đó. Ông viết: câu “Ai thấy Ta, là thấy cha”, đây chính là sắc diện mới, triệt để và duy nhất của đạo Kitô giáo, nghĩa là sự hiện diện khách quan của một hữu thể toàn vẹn nhân loại – Đức Giêsu Kitô – là chìa khóa và là cánh cửa của những gì là toàn vẹn thần thiêng … Đức Kitô là khuôn mặt của Cha. Ngoài đạo Kitô giáo, chúng ta không thấy ở đầu khác liên kết được trong một con người lịch sử, con đường linh thiêng và sự thật thần thiêng. Đức Phật và thầy “guru”, người Hinđu – nghĩa là “thầy dạy tinh thần” – là những người chỉ vẽ con đường đạo giáo; Đức Kitô Ngài, là Đường. Mahomet nhận lãnh và rao truyền sự thật được Mạc khải; Đức Kitô, Ngài, là Sự Thật, Ngài là sự thật trong bản thân mình vừa là người vừa là Thiên Chúa không thể tách biệt. Các tôn giáo Đông Phương ca tụng sự hiểu biết như phương tiện để cứu rỗi. Do thái giáo và Hồi giáo nhấn mạnh hơn về Đức tin. Chỉ trong Kitô giáo, hiểu biết và tin là cùng một hành động tinh thần duy nhất. Hành động này là việc đi sâu vào chính lòng của Thực tại Thiên Chúa nhờ sự môi giới của một thực tại loài người. Thiên Chúa là ai? Người Kitô giáo thưa: “Thiên Chúa là cái mà Đức Kitô chỉ. Một con người, một con người lịch sử là thật sự khuôn mặt của Cha”. Vâng, điều đó là duy nhất. Và, chắc hẳn các bạn sẽ hiểu rõ hơn điều gì là duy nhất trong Đức tin Kitô giáo nếu, sau cùng tôi xác định rõ chữ tin đối với một Kitô hữu có nghĩa là gì, mặc dù tôi có biết đó là điều các bạn đã thừa hiểu. Không có gì dính dấp với nhau cả, giữa niềm tin và tính cả tin (foi et crédulité). Không nên dùng chữ tin (croire) với nghĩa mà người ta thường nói: “Tôi tin (nghĩ) rằng ngay mai trời sẽ mưa”, hay “tôi tin (nghĩ) rằng bạn có lý”, nhưng với nghĩa mà người ta dùng ở chữ tin khi người ta xác định: “tôi tin bạn”. “Tôi tin bạn, có nghĩa là tôi coi những triển vọng của bạn là của tôi, tôi đi vào trong cái nhìn của bạn về con người và sự vật. Niềm tin chính là khả năng nhìn như thế, tôi trở thành một người khác. Niềm tin chính là một sự tin tưởng vốn làm bằng mắt của người kia để nhận ra sự thật đúng như người ấu có thể nhận biết.
Khi người kia đó là chính con người của Đức Giêsu Kitô với bản tính loài người và bản tính Thiên Chúa thì sự hiểu biết kia lại mặc lấy một chiều kích khó hiểu nổi ngoài đạo Kitô giáo. Bởi con người Giêsu là Thiên Chúa, xuyên qua Ngài, tôi nhìn thấy thế giới đúng như Thiên Chúa thấy nó và Thiên Chúa đúng như Ngài tự thấy mình. Điều đó, dĩ nhiên là trong mọi mức độ phù hợp với những giới hạn của tri thức loài người.
Tin, đối với một người Kitô giáo, đó là nhìn bằng mắt của Đức Kitô, đó là chiêm ngắm thế giới và Thiên Chúa với chính Ngài. Cũng như thánh Phaolô nói, đó là “mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27), hoặc là “mang lấy trong mình những tình cảm của chính Đức Giêsu Kitô”(Pl 2,5). Đó là sống bằng trái tim Đức Kitô, như J.A. Cuttat đã nói như thế.
Từ đó người ta có thể – tôi nhấn mạnh điều này – nhận định với sự nghiêm túc triệt để và sự thiện cảm sâu xa nhất, về các tôn giáo không phải là Kitô giáo. Không còn nguy cơ nào nữa để so sánh chúng với nhau, để đối mặt với chúng từ bên ngoài, khi người ta liều bước vào sự lừa dối kia mà trên đây tôi gọi là cuộc thi sắc đẹp hay sự thật.
Khi tôi biết được, nhờ kinh nghiệm sống Đức tin của tôi, về tương giao của một con người với Thiên Chúa của nó, khi tôi biết được cái gì là một cuộc gặp gỡ của một Kitô hữu với Thiên Chúa trong Đức Kitô; khi tôi nhìn thấy được, bởi chính tôi sống điều đó, cái gì đang xảy ra, nhờ ơn Đức Kitô, giữa linh hồn tôi và Thiên Chúa, trong lúc đó tôi có thể tự hỏi cái gì đang xảy ra giữa linh hồn người Phật tử và Thiên Chúa của họ, giữa linh hồn người Hồi giáo, người Do thái giáo và người Ấn giáo và Thiên Chúa của mỗi người đó, khi mà họ đã đạt đến đỉnh cao của mối tương giao hiện hữu của họ với Thiên Chúa hiện sống. Và lúc đó, tôi thấy những mức độ và những đường lối. Tôi thấy những sự thật từng phần và những vẻ đẹp từng phần. Vào chính lúc đó chúng ta đang ở trong cái thật, và quả thật là một sự say đắm. Vào chính lúc đó, không còn vấn đề khoan nhượng nữa.
Nhân đây cũng nên lưu ý rằng, điều đó cũng đặt ra toàn bộ những vấn đề về các mối tương quan của những con người này và một Thiên Chúa không phải là Chúa Ba Ngôi. Khái niệm về Chúa Ba Ngôi là điều rất quan trọng. Nếu xảy ra chuyên là Thiên Chúa Ba Ngôi lại dửng dưng với quan hệ của bạn với Thiên Chúa, thì điều này quả là đáng sợ. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, là mầu nhiệm cao cả của một Thiên Chúa vốn chỉ là Tình yêu. Mối tương giao của một con người với một Thiên Chúa sẽ ra sao nếu Thiên Chúa đó lại là lập pháp? Tôi sẽ không có lỗi gì đối với Thiên Chúa đó. Lỗi duy nhất của tôi, đó là không yêu Đấng đang yêu tôi, không yêu Ngài bằng hành động và bằng sự thật. Tôi sẽ không thể tin vào Thiên Chúa khi Thiên Chúa đó không phải là Tình yêu, bởi lúc đó, tôi sẽ hoàn tàon bị mất trí và giá trị nhân bản của tôi bắt tôi phải là vô thần, đây chính là hệ quả của hằng triệu con người xung quanh ta.
Chúng ta hãy quay về với đề tài của chúng ta. Đi từ kinh nghiệm đích thực của tôi về mối tương giao với Thiên Chúa, tôi có thể mở lòng mình ra cho mọi mối tâm giao của con người thuộc các tôn giáo khác. Không những chỉ để khoan nhượng họ thôi, tôi còn tự đặt câu hỏi về tính Công Giáo, nghĩa là về tính toàn cầu nơi Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô – và quả thật tôi không thể bỏ qua việc này. Phải làm gì và làm thế nào để cho cái tính toàn cầu tất nhiên (de droit) này biến thành một tính toàn cầu trên thực tế (de fait). Phải làm sao để Thông điệp của Đức Kitô, vốn là toàn cầu, đừng nghèo nàn hóa các dân tộc Phi Châu và Á Châu, nhưng nó hội nhập tất cả những gì là phong phú tinh thần được chứa đựng trong các tôn giáo lớn, mà không hề làm tổn thương đến tính đặc thù của những người Châu Á, Châu Phi hay Châu Mỹ? Đây là cả một vấn đề truyền giáo. Trong các chuyến đi sang Châu Phi của tôi, hay mới đây, sang Martinique và các đảo Antilles, tôi đã đau khổ nhìn thấy người ta đã xây dựng ở đó những nhà thờ từ cái kiểu chết tiệt của cái thời kỳ chết tiệt Tây Phương đó. Người ta đã gạt bỏ cái văn hóa đặc thù của các dân tộc này. Và không phải chỉ có kiến trúc mà thôi! Trong thời gian dài, khi các nhà truyền giáo trẩy sang Ấn độ hay Trung hoa, họ đã mang theo trong va-li của họ, không chỉ Phúc âm của Đức Kitô, mà cả Châu Âu của họ, quên rằng nếu Trung hoa hay Ấn độ chờ đợi một cách vô thức, cái viên mãn của Đức Giêsu Kitô, thì họ không chờ đợi chút nào tất cả những gì là liên quan đến văn hóa Tây Phương.
Tất cả các vấn đề truyền giáo nên được xem xét lại, tôi không dám nói là từ đầu đến cuối, nhưng ít là phải thật nghiêm túc. Một người như Cha Jules Monchanim, cựu tuyên úy của dòng Lazariste và cha phó nhà thờ thánh Maurice ở Monplaisir, ngài đã rời Lyon để đến Ấn độ, và ngài nói về việc làm của ngài rằng: Ngài đi đến đó để làm vươn lên sự khát khao Thiên Chúa Ba Ngôi bên trong tư tưởng và niềm tin Ấn giáo của dân tộc này. Sự cố gắng anh dũng của ngài đã dẫn ngài đến cái chết quá sớm. Chính vì thế, tôi đặt loạt bài giảng thuyết này về các tôn giáo lớn dưới sự bảo trợ của vị Linh mục độc đáo này, vừa là triết gia, nghệ sĩ, nhà thần học, nhà thần bí và nhà truyền giáo.
TRÍCH ĐOẠN ĐỐI THOẠI VỚI CÁC THÍNH GIẢ
Có chăng những người dân thành trở lại đạo vì họ đã so sánh hai tôn giáo từ nội tại của chúng?
Điều này thì rất hiếm. Tôi rất tiếc đã quên tên một nhà văn, ông này đã có một kinh nghiệm về Phật giáo sau khi đã trải qua một kinh nghiệm thực sự về Kitô giáo. Ông đã không trải nghiệm để thỏa mãn, để so sánh. Đây quả là một cuộc trở lại đích thực và chân thành, một cuộc trải nghiệm từ cái nội tại của Phật giáo.
Tôi không nói rằng người ta không thể từ đạo Công Giáo để trở sang đạo Phật. Chỉ có điều, nếu người ta đi đến cùng của sự việc, và để dùng một từ ngữ hơi mạnh, tôi sẽ nói là người ta đã trở lại từ một Kitô giáo còn hời hợt sang một Phật giáo sâu sắc. Ở mức độ này, việc trở lại kia có thể là rất chân thành.
Vấn đề này thật quan trọng, bởi lẽ có một số thanh niên và thanh nữ trong lúc này đang ở trong trường hợp trên. Đạo Kitô giáo đúng như họ thấy nó đang được sống bởi một số người thì đối với họ hình như là không thể chấp nhận và không đáp lại lòng ước mong sâu xa của họ. Tôi từng biết những bạn trẻ không thể nào tìm được trong một cộng đồng giáo xứ hay trong một nhóm người Kitô hữu, đạo Kitô mà họ ước mòng. Do đó, người ta quá hiểu rằng họ có thể tìm ra lời giải đáp nhất là trong đạo Phật, bởi đạo Phật là một tôn giáo có giá trị cao nhất sau Kitô giáo – đây là quan điểm của một người như cha de Lubac. Khi chúng ta xét về Do thái giáo, tôi sẽ nói với các bạn về triển vọng tuyệt đẹp của một trong những nhà Do thái học nổi tiếng nhất, André Neher. Làm sao không thể chiêm ngưỡng cái thị kiến tốt đẹp kia! Tuy nhiên, tôi không tin là nó thật sự như vậy; nếu tôi tin nó thật sự như thế, thì tức khắc tôi sẽ đi theo nó ngay.
Điều này chúng ta tìm ra cái thật, và cái thật này dĩ nhiên là về tinh thần. Nghĩa là cái gì có thể đưa dẫn một linh hồn lên tới cái chất lượng hiện hữu cao quí nhất. Nếu tôi cảm thấy không phải là Kitô giáo mà là Phật giáo sẽ dẫn đưa tôi lên tới cái chất lượng hiện hữu cao cả nhất, thì dĩ nhiên là tôi không do dự. Nhưng ở đây tôi nói rằng niềm tin Kitô giáo của tôi là vững chắc, tôi nghĩ như vậy, với ơn nghĩa của Chúa. Đối với tôi, bỏ đạo Kitô giáo là điều không thể tưởng tượng được. Nếu điều đó xảy ra, chính là vì người ta đã sống hời hợt với đạo Kitô và người ta đã không thấy được ý nghĩa của việc mà tôi vừa nên trên đây, đó là điều tuyệt đối duy nhất của một con người, vốn cống hiến cho chúng ta một cách trọn vẹn tất cả những gì là Thiên Chúa. Điều đó các bạn sẽ không tìm được ở một nơi nào khác.
Phải hiểu thế nào về câu ngạn ngữ: “Ngoài Giáo Hội không có sự Cứu rỗi”
Điều đó không có nghĩa một chút nào rằng những ai ở ngoài Giáo Hội thì không được ơn Cứu độ. Điều đó có nghĩa là họ được giải cứu bởi vì có một Giáo Hội. Điều này lại khác hẳn. Chúng ta sẽ không bỏ xuống hỏa ngục tất cả tám trăm triệu người Trung hoa; bởi như thế sẽ khó tin vào một Thiên Chúa vốn chỉ là Tình yêu. Giáo Hội là bí tích của Đức Giêsu Kitô, nghĩa là dấu chỉ hữu hình của Đức Giêsu Kitô, mà sứ mạng của Giáo Hội trải dài trong các thế kỷ là làm cho người ta nhận biết Thông điệp của Đức Giêsu Kitô vốn là Thông điệp Cứu độ. Mà chúng ta hiểu thế nào về việc Cứu độ? Theo ngôn ngữ Kitô giáo, sự Cứu độ là sứ mạng của con người để nên thánh, nghĩa là được chia sẻ chính sự sống của Thiên Chúa, điều mà các Tổ phụ người Hylạp gọi là théiôsis, nghĩa là sự trở nên thần thánh. Đây là sự thật chính yếu của niềm tin Kitô giáo. Sự trở nên thần thánh của con người chỉ khả dĩ khi có Sự Nhập Thể: Thiên Chúa làm người để con người làm Thiên Chúa – một ngạn ngữ tục truyền khác. Đây là điều mà tôi gọi là, trong ngữ vựng của tôi, cái tinh túy của cái tinh túy của niềm tin. Chính vì thế mà mọi sự đều đứng vững. Nếu Thiên Chúa là không phải là Thiên Chúa Ba Ngôi, thì sẽ không thể có Nhập Thể, và nếu Thiên Chúa không Nhập Thể thì sứ mạng của con người không thể được thần thánh hóa, bởi chính lúc đó như có chiếc đũa thần nào đó biến chúng ta được chia phần sự sống của Thiên Chúa, nghĩa là trở nên, nhờ sự thông phần, cái mà Thiên Chúa là, bằng chính bản tính của Ngài. Đây chính là niềm tin Kitô giáo và Giáo Hội là dấu chỉ của sự thật đó.
Tất cả những ai được giải cứu là được giải cứu, bởi vì Giáo Hội đang hiện hữu. Điều đó không có nghĩa là họ không được cứu, nếu không thuộc về Giáo Hội một cách hữu hình. Chúng ta đừng bao giờ nói về Giáo Hội hữu hình và Giáo Hội vô hình, điều đó không có nghĩa là gì cả. Chỉ có một Giáo Hội, và Giáo Hội thì hữu hình. Giáo Hội hữu hình, là một từ thừa (un pléonasme). Chúng ta đừng phân biệt thể xác và linh hồn của Giáo Hội khi nói rằng thể xác của Giáo Hội thì có hạn, còn linh hồn của Giáo Hội thì rộng rãi hơn. Điều đó không nói gì bao nhiêu. Điều đáng nói là nói đến một sự thuộc về cụ thể, hữu hình, hay một sự thuộc về vô hình đối với Giáo Hội.
[7] Phần này trong bài thuyết trình đã soi sáng nhiều cho phần đầu cuốn sách hay của Jacques – Albert CUTTA La rencontre des religions. (Cuộc gặp gỡ của các tôn giáo), Aubier, Paris, 1957, cuốn sách này đã làm khơi dậy trong giới Kitô giáo, những vấn đề được đặt ra về tinh thần trong con người.
[8] Về tư tưởng của Radhâkrisnan, thuyết trình viên tham khảo tài liệu của J-A. CUTTAT, op. cit. tr 17 và tiếp theo
[9] Sự khiêm hạ của Thiên Chúa là nhan đề của cuốn sách mà cha Varillon vừa cho xuất bản ngay vài tháng trước bài thuyết trình này và đó là một tác phẩm đáng giá về những suy luận về Thiên Chúa.
[10] Người quan tòa dị giáo nổi tiếng người Tây Ban Nha Torquemada (1420-1498) là bộ mặt tượng trưng cho sự cuồng tín tôn giáo; lời truyền thuyết đen đã gán cho ông hàng nghìn cuộc hành hình. Thật ra, những con số này không được chính xác lắm. Ngày nay, những nhà viết sử cho là đến 2000 cuộc hành hình đã được thi hành trong thời gian ông này phụ trách Tòa án dị giáo.