Người Kitô hữu trước các tôn giáo lớn. Chương I-II

0

NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC CÁC TÔN GIÁO LỚN

 FRANÇOIS VARILLON UN CHRÉTIEN DEVANT LES GRANDES RELIGIONS

 DO CHARLES EHLINGER DÀN DỰNG VÀ TRÌNH BÀY

CHƯƠNG II: NIỀM TIN ĐỘC THẦN[11]

Có một nền tảng chung cho ba tôn giáo lớn xuất phát từ Abraham: Do thái giáo, Hồi giáo, và Kitô giáo. Ba tôn giáo này đều thờ độc thần, nghĩa là chúng chỉ tin vào một Thiên Chúa duy nhất, Đấng tạo dựng thế giới.

Tính độc nhất của Thiên Chúa, sự ưu việt của Thiên Chúa, sự tạo dựng trời đất bởi Thiên Chúa: chính do đó mà chủ thuyết độc thần khác biệt với những tư biện (spéculation) lớn nhất của Hy-lạp và của Ấn độ, trong những tư biện này thì biên giới của Tuyệt đối và của tương đối, của Một và của nhiều, thì không bao giờ rõ ràng hoàn toàn, đến nỗi không bao giờ người ta biết được có phải thế giới không thẩm thấu được vào trong Thiên Chúa, hay Thiên Chúa không hòa tan được vào trong thế giới.

Đôi khi chúng ta quên đi sự xác định của Kinh Thánh và sự Tạo dựng thế giới bởi một Thiên Chúa duy nhất và ưu việt, nó độc đáo đến thế nào. Nó độc đáo đối với những quan niệm triết lý của Hy-lạp xưa và đối với những quan niệm tôn giáo của Phương Đông. Lời tuyên bố đầu tiên của Kinh Thánh: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” đi ngược lại hoàn toàn với mọi hình thức phiếm thần (panthéisme, đồng hóa tgh với Thiên Chúa) và mọi hình thức biểu lộ (émanatisme). Đây là điều khẳng định của sự phân biệt tận gốc rễ giữa thế giới và Thiên Chúa. Nếu thế giới được phân biệt hoàn toàn với Thiên Chúa, thì thế giới là công trình của một ý muốn tự do. Thiên Chúa của Abraham – nghĩa là của Do thái giáo. Hồi giáo và Kitô giáo – không phải là một căn nguyên phi nhân cách (Principe impersonnel) mà thế giới này sẽ là một sự biểu lộ (émanation) cần thiết, cũng như dòng suối nhất thiết biểu lộ nguồn mạch của nó, cũng như tia sáng nhất thiết biểu lộ lò lửa đang bốc cháy. Theo ngôn ngữ trừu tượng hơn, thế giới không thể được hiểu, theo cách của Spinoza, như là sự biểu lộ của những tính chất mà một khái niệm bao hàm. Nhà triết học người Hy-lạp Anaximandre, giang hai cánh tay ra như thể ôm lấy toàn thể vũ trụ, ông thốt lên: “Tất cả đây, là Thiên Chúa”. Tất nhiên, cũng có những người khác, sẽ tránh không thần hóa Thiên nhiên như nó đang hiện hữu, nhưng họ sẽ chỉ nhìn vào nó như một tia sáng đồng – vĩnh cửu với Đấng là Căn Nguyên Vĩnh Cửu, kết quả ở đây biểu lộ Bản chất chưa được biểu lộ.

Kinh Thánh lại nói hoàn toàn khác: “Thiên Chúa là”; Thiên Chúa là cá thể; Thiên Chúa muốn cho thế giới hiện hữu; thế giới bắt đầu hiện hữu; thế giới là một thực tại khác với Thiên Chúa.

Từ cái tư tưởng Kinh Thánh này, chung cho cả Kitô giáo, Do thái giáo, và Hồi giáo, nhưng hệ quả của nó thì rất quan trọng.

Kinh Thánh xác định rằng Thiên Chúa, khi chiêm ngưỡng công trình của mình thấy rằng nó là tốt lành (St 1,31). Quả thật, sự khác biệt giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo làm chứng rằng vũ trụ không phải là một sự thoái biến của cái thần thánh, nhưng một thực tại đang thăng trưởng hay, một thực tại đang hình thành. Đối với nhiều triết lý và tôn giáo, cái đa số, cái đa số khác nhau này mà chúng ta chìm ngập trong đó, là một mảnh vụn của con số Một, của cái đơn nhất đầu tiên, một thứ rơi rụng, một cái vung xa đối với cái Tuyệt đối, cuối cùng là một sự ác. Platon nói: “Vậy thì, ngay lúc đó, phải trốn thoát khỏi đời này, để bay ngay lên trời”.(Théétète).

Một người bi quan sự thật sẽ bị ảnh hưởng ngay bởi những triết lý và những tôn giáo này. Đối với chúng, thời gian chỉ là ảo tưởng và sự già nua; tiến trình của vũ trụ là tiêu cực, tương lai của thế giới chỉ là một sự trôi dạt, tản mát, để đi tới cái chết. Ngược lại, tư tưởng của Kinh Thánh về sự tạo dựng, nói lên rằng thời gian thì có giá trị, tự thân nó là thành thục, là sản sinh, là sáng tạo, là thăng trưởng; chứ không phải một sự rơi vãi của cái Tuyệt đối đến cái hư vô, nhưng một sự thăng hoa của cái hư vô đến cái Tuyệt đối. Nhưng hình ảnh của Phúc âm về cái cây đang mọc lên, về hạt giống sinh hoa trái, về men làm bột dậy lên, chúng diễn tả tuyệt vời, về mặt tạo dựng cũng như mặt Giao ước, đó là cái tích cực chủ yếu của cái Thực tại. Nói tóm lại, Kinh Thánh bày tỏ rằng thế giới là lịch sử.

 LỊCH SỬ, QUAN NIỆM KITÔ GIÁO VÀ QUAN NIỆM HỒI GIÁO

Hồi giáo, cũng như Do thái giáo và cũng như Kitô giáo đều xác định Thiên Chúa là Duy nhất và là Tạo Hóa. Nhưng lại không xác định rằng lịch sử có một nội dung. Hồi giáo công bố sự ưu việt của Thiên Chúa, nhưng chối từ sự Nhập Thể.

Vậy, ngay lúc đó, về mặt tạo dựng, Thiên Chúa của Kitô giáo khác hẳn với Thiên Chúa của Hồi giáo. Tôi xin nói rõ: về mặt tạo dựng. Người ta sẽ nghĩ rằng: Kitô giáo và Hồi giáo cũng tin vào một Thiên Chúa là Tạo Hóa, nhưng sau đó chúng lại khác nhau, bởi vì Kitô giáo tin vào sự Nhập Thể, còn Hồi giáo lại không tin vào điều đó. Nói khác đi: tin vào sự Nhập Thể hay không tìn vào nó, chẳng thay đổi gì xét về mầu nhiệm tạo dựng. Suy nghĩ như thế sẽ là một lầm lỗi trầm trọng.

Quả thật, đối với Kitô giáo, chính mầu nhiệm Nhập Thể mới soi sáng cho mầu nhiệm tạo dựng. Các bạn biết rằng mầu nhiệm tạo dựng là một điều trở ngại cho mọi triết lý: vậy thì cái thế giới của hư vô kia có thể là gì? Niềm tin Kitô giáo vào mầu nhiệm Nhập Thể thay đổi hoàn toàn đối với ý tưởng người ta có thể có về việc tạo dựng. Đối với người tin vào việc Nhập Thể, thì mầu nhiệm tạo dựng nói với chúng ta cái gì đó về mầu nhiệm của cái nội tại thần thiêng, nghĩa là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. (Sau đây chúng ta sẽ nói việc khẳng định về một Thiên Chúa Ba Ngôi, đối với Hồi giáo, là một sự phạm thượng ghê gớm, một sự phạm thượng lớn nhất). Kitô giáo, vốn khẳng định Thiên Chúa là một sự trao đổi vĩnh hằng về Tình yêu giữa Ba Ngôi, tin rằng đó là một ơn ban cho không của Tình yêu nội tại đó của Thiên Chúa, nó vốn có trước cái ơn ban cho không của việc tạo dựng.

Nói về tạo dựng xuất phát từ một Thiên Chúa được diễn đạt như là tự mình xâm nhập, tự mình hiện diện trong một thứ bất lực thể lý để thoát khỏi mình, còn nói về một Thiên Chúa tạo hóa như một Cõi Vô Biên không Tình yêu, đó là tiến vào và đụng phải những khó khăn đến nỗi hầu như không thể nào tái diễn thuyết biểu lộ kia vào trong ý tưởng của việc tạo dựng mà chính Kinh Thánh đã muốn loại bỏ một cách triệt để. Hồi giáo thì đương nhiên không muốn tái nhập thuyết biểu lộ này, vì Hồi giáo vốn coi thế giới như nó nhất thiết và vĩnh cửu xuất phát từ Thiên Chúa cũng như dòng sông thì đồng thời với nguồn mạch của nó, cũng như tia sáng thì đồng thời với khối lửa rực cháy và nhất thiết cũng như nó. Nhưng Hồi giáo chỉ có thể tránh khỏi thuyết biểu lộ bằng cách chấp nhận các xác định cái tuyệt đối ưu việt của Thiên Chúa. Một sự ưu việt không phải là sự ưu việt của Tình yêu.

Tôi sẽ trở lại vấn đề này, bởi chính đây là cái khác biệt cốt lõi giữa Thiên Chúa của Hồi giáo và Thiên Chúa của Kitô giáo. Và nhân đây cũng xin nói, chính là lý do vì sao tôi nói với các bạn về Hồi giáo trước khi nói về Do thái giáo. Quả thật là hợp lý hơn để bắt đầu với Do thái giáo, nhưng với Hồi giáo người ta thấy rõ hơn rằng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là chìa khóa của mọi sự, rằng tất cả những khiếm khuyết của các tôn giáo không phải là Kitô giáo, sau cùng đều dẫn đến việc phủ nhận hay không nhìn nhận Thiên Chúa Ba Ngôi.

Vào lúc này, tôi chỉ muốn lưu ý rằng chính do bởi cái khác biệt chủ chốt và bởi vì mọi sự đều ràng buộc với nhau, nên không thể đồng hóa Thiên Chúa Đấng tạo dựng của Mahomet với Thiên Chúa Đấng tạo dựng của Đức Giêsu Kitô. đối với người Kitô giáo khi họ đi đến cùng sự việc, thì ơn ban cho không của Đấng tạo hóa chỉ có thể hiểu được nếu người ta chấp nhận ơn ban cho không vĩnh cửu của những trao đổi Tình yêu vốn làm nên đời sống nội tại của Thiên Chúa, nghĩa là Thiên Chúa Ba Ngôi.

Đối với Hồi giáo thì điều chủ yếu của tôn giáo là rao truyền sự ưu việt của Thiên Chúa, và lịch sử thì không có nội dung; lịch sử đúng ra là nơi, chốn của một sự thoái biến vĩnh viễn của đạo độc thần và vai trò của các ngôn sứ là nhắc nhở cho những người Hồi giáo sự trong sáng ban đầu của niềm tin vào một Thiên Chúa ưu việt. Đạo Do thái, lại nghĩ rằng, lịch sử biểu đạt một ý định Tình yêu về phần Thiên Chúa, nhưng nó lại quay lại với viễn tượng mai sau của dấu chỉ Tình yêu kia là Đấng Messia; khi Đấng Messia đến, sẽ chỉ rõ thời sau hết, và thời gian chỉ là một sự đợi chờ. Đối với người Kitô giáo, biến cố chủ yếu, việc Nhập Thể, thì lại nằm ở chính giữa thời gian. Thời gian nối tiếp nhau như một lịch sử vốn bao hàm những thời kỳ kế tiếp và đem lại giá trị và ý nghĩa.

 THIÊN CHÚA LÀ MỘT

Bây giờ chúng ta có thể mở sách Coran

Kinh Tin Kính của sách Coran gồm 7 điều: Tôi tin Đức Chúa Trời, Các thiên thần của Người, các sách của Người, Các tiên tri của Người, Ngày sau hết. Sự tiền định của điều thiện và điều ác xuất phát từ Đấng Tối Cao, Sự sống lại sau khi chết.

Đoạn đầu nói về Thiên Chúa gồm tất cả những gì liên quan đến bản tính Thiên Chúa, đến sự sống thân tình của Người, và đến hành động của Người trong thế giới.

Trước hết, sách Coran phân biệt những chức danh của Thiên Chúa và những thuộc tính hay phẩm chất của Thiên Chúa.

THIÊN CHÚA LÀ MỘT

Thiên Chúa có 99 danh xưng coi là “rất đẹp”. Tên lớn nhất của Thiên Chúa Allah là tên thứ 100 nó tôn vinh cho mọi tên khác; mà tôi kể ra đây một vài tên: Đấng Quyền Năng, Khôn ngoan, Làm cho sống đầu tiên, Tận Cùng, Khoan hồng, Hay xót thương, Thánh, Cứu chuộc, Trung thành, Bảo vệ, Ưu thế, Chiến thắng, Tối cao, Bao la, Đáng sợ v.v…

Trong tất cả nhưng tên của Thiên Chúa, tên quan trọng nhất là tên nói lên sự đơn thuần: Thiên Chúa là một. Đây là giáo điều cơ bản của Kinh Coran, là viên đá góc tường tòa nhà tôn giáo của Hồi giáo, là nét đặc thù của niềm tin Hồi giáo. Để làm cho mọi nơi nhận ra tính đơn nhất của Thiên Chúa, Thiên Chúa duy nhất, Mahomet đã muốn ngưng lại những cuộc chiến tôn giáo của nhân loại. Chính đó, đối với Mahomet, mới là nguyên nhân sự trổi vượt của Kinh Coran trên những bộ luật của các tôn giáo khác. Không có một trang nào của cuốn Kinh Coran mà không có câu bất hủ: “Không có một Thiên Chúa nào khác ngoài Allah”. Sứ mạng ngôn sứ của Mahomet là đem những người Ả-rập và tất cả những người Hồi giáo đến chỗ từ bỏ các thần thánh của cha ông họ và thờ lạy một mình Thiên Chúa.

Tuy nhiên, hình như Mahomet đã không đi tới ngay việc tuyên xưng sự đơn nhất kia của Thiên Chúa. Nhưng trước hết hình như ông đã thờ ba vị thần. Và có lẽ cũng chính vì lý do đó mà sau này, ông đã từ chối một cách không thương tiếc ý tưởng Kitô giáo về một Thiên Chúa Ba Ngôi. Có lẽ đây là những ảnh hưởng Do thái giáo hay Kitô giáo đã thúc đẩy ông sau đó thiết lập tôn giáo của Abraham tin vào một Thiên Chúa duy nhất. Một surate (câu) trong Kinh Coran nói rõ là Abraham không “sáp nhập” những hữu thể khác vào Thiên Chúa và do đó ông đã xứng đáng với danh hiệu là kẻ tin vào Thiên Chúa và là bạn với Người (III, 67-68; cf IV, 125; XVI, 120-123). Mahomet đã cảm thấy một sự ghê tởm không thể kềm chế được đối với ý nghĩ về Thiên Chúa Ba Ngôi, bởi đối với ông, ý nghĩ đó có nghĩa là ba Thiên Chúa.

Cuốn Kinh Coran đưa ra những chứng minh về sự hiện hữu của Thiên Chúa. những chứng minh rất đơn giản và sơ đẳng thôi. Ví dụ như: nếu Thiên Chúa là tạo hóa, người ta không thể liên kết với Ngài, những vị thần mà Ngài đã dựng nên; bởi họ đã được dựng nên, họ không phải là tạo hóa. Hoặc cách khác: sự có nhiều thần dẫn đến bất hòa giữa họ và cấp bậc vị này ở trên vị kia. Mỗi vị thần dành lấy cho mình việc tạo dựng và những vị này ở trên những vị kia.

Nên ghi nhớ rằng không bao giờ Mahomet trình bày điều luật về tính đơn nhất của Thiên Chúa như một Mạc khải mới. Ông nghĩ rằng đã đơn giản loại trừ thuyết đa thần đúng như ông đã nghiêm trị ở người Ả-rập và điều này thì càng dễ dàng hơn khi ý tưởng về một Thiên Chúa duy nhất chưa bao giờ đã hoàn toàn xóa khỏi nước Ả-rập và nó vẫn tồn tại ẩn giấu trong các tín ngưỡng chung.

 NHỮNG QUY HIỆU CỦA THIÊN CHÚA

Những quy hiệu hay những phẩm chất của Thiên Chúa thì khác với những tên của Ngài. Chúng xuất phát từ chính cái tinh túy của Thiên Chúa nhưng không đồng hóa với chúng và không phải là những thực tại tách biệt khỏi Ngài. Người ta có thể phân biệt tám phẩm chất:

Quy hiệu thứ nhất là sự sống.

Người ta có thể nhân lên nhiều đoạn của sách Kinh Coran: “Thiên Chúa thì hiện sống, Ngài không chết. Sự sống của Ngài thì vĩnh cửu, không hề bị lay chuyển. Ngài không phải là đối tượng của sự chết. Mọi sự sẽ tiêu tan trừ khuôn mặt của Thiên Chúa”. Theo lời dạy của Kinh Coran, thì sự sống trong Thiên Chúa đòi hỏi sự độc lập của hữu thể Ngài. Thiên Chúa là nguyên nhân tối cao, mà sự hiện hữu của Ngài không có nguyên nhân cũng không có nguyên lý; Ngài là Đấng làm nên nguyên nhân và không bị nguyên nhân nào chế ngự. Trong sách Kinh Coran, hai chữ Hiện Sống và Vĩnh Hằng thường được kết hợp với nhau như ở trong Kinh Thánh. Trong một thị kiến Kitô giáo, người ta có thể, tôi nghĩ thế, nói về một sự lệ thuộc của Thiên Chúa: bởi vì Ngài là Tình yêu, Ngài lệ thuộc bằng cách nào đó vào thụ tạo của Ngài. Tôi nghĩ một lối suy nghĩ như thế thì hoàn toàn không thể chấp nậhn được đối với Hồi giáo.

Quy hiệu thứ hai của Thiên Chúa là sự thông suốt mọi sự (Omniscience):

Thiên Chúa biết mọi sự, nghe thấy tất cả. Ngài hiểu biết tất cả những gì chúng ta làm. “Không một chiếc lác nào rơi xuống, mà Ngài không biết, Kinh Coran nói thế. Không một hạt bụi nào trong những tối tăm của trái đất, không một ngọn cỏ nào xanh tươi hay khô héo mà không được viết vào trong cuốn sách” (II,59). Sức nặng của một vật li ti trên mặt đất hay trên bầu trời đều không thoát khỏi Chúa Trời. (X, 62; XXXIV,3). Ngài biết những gì lòng dạ những người mẹ đang cưu mang. Ngài đi sâu vào những gì trái tim loài người chứa đựng những gì giấu kín và những gì được bày tỏ. Sự hiểu biết của Ngài bao trùm lên tất cả. (cf. III,5; XXX,38; LXIV,4…)

Quy hiệu thứ ba của Ngài là toàn năng trong trật tự thể lý cũng như trong trật tự đạo lý.(Nhưng ở đây lại không ở trong trật tự toàn năng của Tình yêu).

Quy hiệu thứ tư là thị giác, thứ năm là thính giác. Hai quy hiệu này ăn khớp với sự thông suốt mọi sự: Thiên Chúa biết tất cả, do đó nhìn thấy tất cả, nghe thấy tất cả.

Quy hiệu thứ sáu là lời.

Thiên Chúa đã nói với các ngôn sứ, trước tiên là với Môsê. Ngài cũng nói với loài người nhưng chỉ bằng cảm hứng, đằng sau một tấm màn. Lời của Ngài không đến với những người ngoại đạo, mặc dù họ kêu xin được nghe tiếng Ngài. Lời này chỉ là công bằng và sự thật. Không ai có thể thay đổi lời này, và điều này phải hiểu theo nghĩa đúng từng chữ, nếu đó là lời của Kinh Coran: từng chữ của mỗi từ dù nhỏ nhất trong Kinh Coran đều là lời của Thiên Chúa. Lời này thì không thể cạn kiệt: “Khi mọi cây cối trên mặt đất trở thành những bút viết, khi Thiên Chúa biến bảy biển đại dương thành mực, lời của Thiên Chúa cũng không cạn kiệt”.(XXXI,27). Kinh Coran là Lời của Thiên Chúa không do ai sáng tạo ra cả. Lời khẳng định này là chủ yếu; đối với Hồi giáo, Lời của Thiên Chúa là một cuốn sách, trong khi đó, đối với Kitô giáo, là một biến cố lịch sử, đó là sự Nhập Thể, hay đúng hơn là một Cá thể, cá thể của chính Đức Giêsu Kitô. Trái với công thức thường được sử dụng, Kitô giáo không phải là một Cuốn Sách, còn Hồi giáo thì như thế; sự khác biệt này là chủ chốt. Thật vậy, trong Kitô giáo cũng vậy, có một cuốn sách, cuốn Sách Thánh, và chúng ta tin vào Phúc âm, vào Cựu ước và Tân ước; nhưng Công đồng Vatican II đã chỉ rõ rằng nguồn Mạc khải và chính bản thân Đức Giêsu Kitô, và cả Sách Thánh và sự Truyền Khẩu cũng không phải là nguồn mà chỉ là những chi nhánh của sự Mạc khải mà từ đó bản thân Đức Giêsu lan truyền vào lịch sử, như Bossuet đã nói thế. Trong Kitô giáo, lời của Thiên Chúa không do ai sáng tạo ra, đó không phải là một cuốn sách, mà chính là một Con người, là Đức Kitô.

Quy hiệu thứ bảy của Thiên Chúa là ý muốn.

Thiên Chúa muốn. Ngài muốn rằng con người tôn vinh Ngài về những gì Ngài đang hướng dẫn những kẻ tốt đi trên con đường ngay thẳng. Ngài không muốn sự dữ cho vũ trụ. Ngài muốn giúp đỡ loài người bằng cách giải thích rõ cho họ về những ý muốn của Ngài và làm cho ách của ngài ra nhẹ nhàng. Ý muốn của Ngài thống trị sự chết. Ý muốn của Ngài thì tự do. Ngài ra lệnh cho những gì Ngài thích. Ngài tạo dựng những gì Ngài muốn. Trong Kinh Coran, ý của Thiên Chúa thì thường kết hợp với sự toàn năng của Ngài. Thiên Chúa không cần lời khuyên hay sự cứu giúp của kẻ khác.

Sau cùng, quy hiệu thứ tám của Thiên Chúa là quyền năng tác tạo. Thiên Chúa nói lên tiếng fiat (đồng ý) thì các tạo vật xuất hiện từ cái hư vô.

CÁI ĐƠN GIẢN CỦA GIÁO ĐIỀU HỒI GIÁO

Danh sách nêu trên đây hình như chẳng lý thú chút nào. Chúng ta đang có ở đây một triết lý khá sơ đẳng, hoàn toàn đúng với lý lẽ, tôi có thể nói hầu như hợp với lương tri, chỉ trừ điều liên quan đến cuốn Sách. Tuy nhiên, một vài bản văn mà tôi đã kể ở trên nói rằng triết lý của Kinh Coran gán cho Thiên Chúa một ý tưởng rất cao. Đó là điều sơ đẳng, vâng, nhưng lại cao cả. Không có gì là lầm lỗi đáng tiếc. Ngoài ra, rõ ràng là lời giảng dạy của Mahomet về Thiên Chúa đã phản lại sự ảnh hưởng của Do thái giáo và cả Kitô giáo nữa, tuy nhiên ở mức độ kém hơn. Mahomet dựa vào những hình ảnh và những so sánh giản đơn, rất giản đơn, để diễn đạt những khái niệm đơn giản mà ông không thể tìm được trong thuyết đa thần của người Ả-rập.

Cái đơn giản của giáo điều Hồi giáo, chắc hẳn nói lên sức mạnh lôi cuốn của nó; Hồi giáo hiện đang lan rộng từ Pakistan đến cuối vùng Châu Phi. Những chủ đề lớn về sự đơn nhất triệt để của Thiên Chúa, về sự toàn năng của Ngài và về lòng xót thương hay nhân từ của Ngài đều ở khắp trên các trang sách Kinh Coran.

Hồi giáo cũng tin vào các tiên tri và những người được Allah sai đi, những người này từ đầy đã dẫn đưa loài người – bởi vì Thiên Chúa thì tốt lành và người Hồi giáo thì thật sự có một ý tưởng cao xa về lòng tốt của Thiên Chúa -, và trong các tiên tri này, những người được Thiên Chúa sai đến, đặc biệt có Mahomet. Nhưng sứ mạng của các tiên tri và những người được Thiên Chúa sai đến này, đúng như những người Hồi giáo đã thấy được, thì không phải để làm cho tôn giáo được tiến hóa bằng cách đào sâu nó, bằng cách biểu lộ dần dần, dọc theo lịch sử, nhưng góc độ còn chưa biết đến của mầu nhiệm về Thiên Chúa. Đối với những người Hồi giáo, thì đạo Hồi là đạo từ ngàn xưa, không di chuyển, bởi nó hợp với bản tính loài người đúng như Thiên Chúa đã dựng nên nó, và bản tính đó thì luôn mãi vẫn như vậy, không hề thay đổi. Từ buổi ban đầu của loài người cho đến ngày nay, tất cả những tín hữu đích thực đều đã gắn bó với đạo này. Nếu bản tính loài người là bất di bất dịch, thì tôn giáo cũng bất di bất dịch như vậy. Quả thật, luật pháp tôn giáo có thể đã có một vài đổi thay, nhưng không một điều nào là chính yếu đã được thêm thắt vào giáo luật tiên khởi; không một mầu nhiệm siêu nhiên về thực chất đã được Mạc khải. Tất cả đều ở bình diện một tôn giáo tự nhiên, hợp với bản tính của các sự vật.

 TUÂN PHỤC VÀ THỜ PHƯỢNG

Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng. Do đó, con người phải thờ phượng Thiên Chúa và hoàn toàn tuân phục Thiên Chúa cũng như những ai Người sai đến. Tuân phục: từ Islam có nghĩa là sự tuân phục. Tuân phục trong thờ phượng.

Chúng ta hãy coi chừng đừng biếm họa sự việc, đây là một việc bổn phận về sự trung tín tuyệt đối khi người ta nói về một tôn giáo mà người ta không tuyên xưng nó. Không nên hình dung sự tuân phục của người Hồi giáo như một thứ vâng lời tối mặt, bắt buộc. Nếu từ Islam có nghĩa là tuân phục, nó cũng có nghĩa là giải cứu. Từ này rất gần với từ tiếng phạn salam, nói lên sự giải cứu. Vậy, trong từ này có một ý nghĩa cứu vớt. Islam có nghĩa là tuân phục và giải cứu. Người Hồi giáo có nghĩa là người tuân phục và được cứu. Chúng ta đọc ở trong Kinh Coran: “Slem teslem”, nghĩa là: hãy theo đạo Hồi và bạn sẽ được cứu độ. Đây là sự cứu độ nhờ sự tuân phục Thiên Chúa. Ở đây bao hàm một ý nghĩa tình con phó thác và tin tưởng vào lòng xót thương của Thiên Chúa vốn là sự xót thương của Đấng Toàn Năng.

Quả thật, bổn phận tuân phục là hệ quả bắt buộc của việc xác định cao cả của Kinh Coran: Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng. Việc thờ phượng là bổn phận chính yếu vốn sinh ra sự tuân phục. Toàn thể tôn giáo này được chứa đựng trong hai đồng từ thờ lạy và vâng phục. Do đó, người Hồi giáo hành động khi lệnh hành động đến với họ nhân danh Thiên Chúa, dù đó là sự sống bình thường, dù đó là những giai đoạn khủng hoảng – ví dụ như những cuộc thánh chiến; bởi lẽ khi phát động nó hay tham gia nó, người Hồi giáo đang vâng phục – hoặc chỉ đơn thuần đó là việc phụng tự. Một việc phụng tự làm bằng lời nói hay bằng cử chỉ. Những cử chỉ này thông thường là những cúi mình thật sâu, những phủ phục sát đất, v.v… Ngay cả đôi khi chúng cũng có những nghi lễ rất cụ thể, chúng ta chưa có thể nói ngay là những lời nói và cử chỉ này chỉ thuần túy là bề ngoài và hình thức. Thật ra, nghi lễ cụ thể này, đối với người Hồi giáo là điều kiện của sự vâng phục. Ông Roger Arnaldez giải thích điều này rất rõ: “Thiên Chúa, Ngài nói, đừng áp đặt những bổn phận quá khó, không phải để cho tôn giáo nên hời hợt, mà để con người không phải đưa ra một nỗ lực mà nó có thể cho đó là dâng hiến một phần bản thân nó cho Thiên Chúa, bởi vì như thế sẽ là phá hoại tôn giáo khi người ta tưởng rằng mình đã tặng cho Thiên Chúa một cái gì đó mà chính Ngài lại là Đấng tạo hóa muôn loài. Vì thế, việc phụng tự trong Hồi giáo phải được hiểu cho đúng, có một sự thoát bỏ bản tính loài người, vốn biến con người thành duy nhất một hành động vâng phục.

Người ta có thể gợi lên ở đây hình ảnh một viên sĩ quan người Pháp từ một vùng hẻo lánh trở về, sau khi đã sống ở đó vài năm; ông này hoàn toàn sửng sốt trước thái độ của những người Kitô giáo trong những nhà thờ bên Pháp, và ông nói: “Thật là rõ như ban ngày khi những người Kitô giáo này không biết thờ lạy nghĩa là gì. Còn người đạo Hồi, họ thờ lạy thật sự”. Quả thật, người Hồi giáo có một lương tri sâu sắc về sự ưu việt của Thiên Chúa vốn xứng đáng hơn tất cả sự sùng kính tôn thờ của chúng ta; Thiên Chúa là Thiên Chúa.

Đối với một người Hồi giáo, những gì Thiên Chúa gửi đến cho con người đều là tốt, chỉ nguyên vì chúng do Thiên Chúa mà đến. Có ít là năm kinh nguyện thường ngay, việc ăn chay trong tháng chay ramadam có thể là lâu hoặc mau. Con người chỉ việc vâng lời không cần lý do, hoặc với lý do duy nhất là sự vâng phục, là một việc tôn sùng mà người ta dâng lên cho Đấng Toàn Năng.

Việc tán dương sự Toàn Năng của Thiên Chúa, tuy nhiên không được làm người ta quên rằng Thiên Chúa thì rất gần con người. Một câu surate trong Kinh Coran nói, câu này rất hay: “Chúng ta còn gần Thiên Chúa hơn cả tĩnh mạch cảnh (sa veine jugulaire) của Người”(XI, 15).

Mặt khác, cũng không nên vội khẳng định rằng Hồi giáo là đạo tiền định (fataliste), và đạo này không tin vào sự tự do con người. Nhiều đoạn Kinh Coran giả thuyết một cách rõ ràng sự hiện hữu của tự do; điều này được nêu lên rất rõ nhất là trong các đoạn nói về thánh chiến và trong những lời cổ vũ để hành động tốt. Những đoạn này ngày nay được đem lên hàng đầu bởi những nhà tư tưởng Hồi giáo, vì họ muốn chống lại thuyết tiền định lười biếng mà trước đây nhiều người đồng tôn giáo với họ đã mắc phải. Những người này chỉ chuyên dựa vào những bản văn nhấn mạnh vào sự toàn năng của Thiên Chúa: Thiên Chúa là tất cả, Thiên Chúa biết tất cả. Thiên Chúa làm tất cả; điều đó đã được quyết định từ thuở đời đời và do đó tôi không còn gì phải lo lắng. Đây có thể có một chút tiền định nào đó trong Hồi giáo, nhưng cũng nên biết rằng có nhiều người Kitô giáo không thoát khỏi thứ não trạng tiền định kia ở một mức độ nào đó. Sự thật là người Hồi giáo chấp nhận sự quyết định của Thiên Chúa mà không một lời than vãn, bắt đầu là sự chết. Nếu Thiên Chúa muốn điều đó, chúng tôi xin vâng. Điều này không phải là chuyện tiền định.

Vấn đề của việc dung hòa giữa sự toàn năng của Thiên Chúa với tự do của con người thì không phải là đặc thù của Hồi giáo. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể thấy rằng, Mahomet khi đọc Kinh Thánh thường có xu hướng nhân lên những lời ghi chú về Thiên Chúa, về Thiên Chúa ưu việt và toàn năng, và bỏ qua phần nào những đặc thù của con người. Một bài học so sánh giữa Kinh Thánh và Kinh Coran ở đây sẽ rất hữu ích. Chúng ta thử một vài ví dụ.

Trong Kinh Coran thì chính Thiên Chúa đã dạy cho ông Ađam tên của mọi thụ tạo (II, 29); trong Kinh Thánh, thì chính Ađam là người đặt tên cho các thụ tạo, ông cho mỗi thụ tạo một tên. Bản văn của sách Sáng Thế thật đáng chú ý: “Yahvé nặn ra mọi thú vật và các loài chim trời bằng đất rồi Ngài đưa chúng đến với con người để xem ông này đặt tên chúng ra sao; mỗi con vật phải mang tên mà người đàn ông này sẽ đặt cho nó”(St 2,19). Người ta biết rằng, trong lối viết của Kinh Thánh đặt tên tức là xác định chủ quyền của mình trên vật mình đặt tên; chỉ một Thiên Chúa là không có tên, chỉ một Thiên Chúa là không thể bị đặt tên; người ta không thể gọi tên Ngài bởi người ta không thể làm chủ Hữu thể của Thiên Chúa. Ađam, loài người, xác định chủ quyền của mình trên toàn thể thụ tạo bằng cách đặt tên cho tất cả. Vậy, khác biệt giữa hai bản văn quả là to lớn đối với giá trị được gắn cho con người. Kinh Coran xác định chủ quyền của Thiên Chúa nhưng lại không có một từ nào để xác định chủ quyền của con người; con người là, như người ta nói hôm nay, một hiện tượng bị chập mạch (court-circuité).

Một thí dụ khác: trong Kinh Coran, khi Abraham muốn làm trung gian xin ơn tha thứ cho thành Sôđôma, Thiên Chúa nói với ông là mọi sự đã quyết định, và không còn gì để cầu xin nữa, và Sôđôma đã bị hủy diệt. Và Abraham đành cúi đầu (XI,77 và tiếp theo). Trong Kinh Thánh, ngược lại, có câu chuyện cầu xin thật kỳ diệu của Abraham, thật khiêm tốn, thật cảm động mà Thiên Chúa đã muốn lắng nghe cho đến cùng: “Abraham nói với Thiên Chúa: “Chẳng lẽ Ngài sẽ tiêu diệt người làm một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành đó sao? Đức Chúa đáp: “Nếu ta tìm được trong thành Sôđôma năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho cả thành đó – Và nếu chỉ có bốn mươi lăm người thôi?… hay bốn mươi người thôi?… hay hai mươi người thôi?… hay chỉ có mười người thôi? – Chúa đáp: “Vì mười người đó, Ta sẽ không phá hủy Sôđôma”.

Còn đối với Kinh Coran, điều này quả là quá nhân bản, cho nên, ngược với tính ưu việt của Thiên Chúa. Kinh Coran đã bỏ qua nó. Mahomet đã không cảm nhận ra cái quyền năng thi thơ của bản văn này trong sách Sáng Thế. Cũng nên đem so sánh câu chuyện dài kể những cuộc phiêu lưu của Giuse đúng như trong Kinh Thánh và đúng như trong Kinh Coran. Kinh Coran luôn đặt lên môi các nhân vật những lời cầu nguyện, lời van xin. Còn sách Sáng Thế, lại triển khai tình huống một cách rất người, với một tâm thức kín đáo, nhưng không kém phần mãnh liệt, về sự hiện diện của Thiên Chúa. Đoạn trình thuật trong Kinh Thánh để lại một sự trong sáng và cái tự nhiên của những gì là nhân loại.

Mặt khác, tất cả những gì là rõ ràng có trong Kinh Thánh – và cũng vì thế mà người ta cấm cản chúng ta, hồi tôi còn là niên thiếu. Không cho đọc, thậm chí một vài nhà giáo dục còn đem khâu lại những trang sách họ cho là nguy hiểm -, sự trình bày về con người đúng như họ còn ở trong thời khởi nguyên của họ, sự thô kệch của những phong tục xa xưa của họ, điều đó làm cho những người Hồi giáo lấy làm sửng sốt. Kinh Coran bỏ qua những cái đó. So với Kinh Thánh thì Hồi giáo nhìn Thiên Chúa với một ý tưởng kém phần nhân loại, nếu không nói là phi nhân hay bất nhân. Điều này nên ghi nhớ, bởi chúng ta đụng phải ở đây vấn đề trọng đại của thế giới ngày nay. Quả thật, song để mà một tư tưởng đạo đức, với bất cứ giá nào, không được dồn mình vào thế đường cùng, đó là song đề sau đây: hoặc là Thiên Chúa, hoặc là con người; cái gì người ta dâng cho Thiên Chúa thì người ta lấy nó đi khỏi con người, hoặc ngược lại. Người ta có thể tự hỏi, ngay cả trong một đất nước Kitô giáo, làm sao người ta lại có thể đôi lần đi đến chỗ tự đặt cho mình song đề đó; ảnh hưởng của Luther đã đóng một vai trò nào ở đây chăng? Điều đó không can chi. Với mầu nhiệm Nhập Thể, song đề này là một điều không tưởng; không có chuyện lựa chọn giữa con người và Thiên Chúa. Thiên Chúa đến trong nhân loại là một sự thăng cấp cho con người. Nhưng nếu không có mầu nhiệm Nhập Thể, song đề này coi như không thể tránh được. Nếu Thiên Chúa không phải là người, không trở nên người, nhân loại chỉ có thể bị nghiền nát, và tất nhiên nó là tội lỗi trước sự ưu việt thuần khiết mà nó xác tín.

THIÊN CHÚA ĐÃ CẤT TIẾNG NÓI

 CÁC TIÊN TRI, MAHOMET, GIÊSU

Dù sao Hồi giáo không phải là một tôn giáo lạnh lùng. Thiên Chúa xuất hiện ở đó cũng y như Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và của Giacóp, theo như Pascal hiểu để đối lại với Thiên Chúa của các triết gia và bác học. Bởi, trong Hồi giáo, có một sự liên kết giữa Thiên Chúa và con người. Trong Kitô giáo, sự liên kết này chính là Đức Giêsu Kitô, nhưng Ngài không ở vị trí giữa Thiên Chúa và con người mà chính Ngài là con người và Thiên Chúa. Trong Hồi giáo, sự liên kết này, chính là lời tiên tri.

Thiên Chúa của Hồi giáo không khiếm khẩu; Ngài nói với con người qua các tiên tri và các sứ giả của Ngài. Học thuyết Hồi giáo phân biệt người tiên tri đơn thuần, vị nabi, với sứ giả của Chúa, vị rasul. Có nhiều tiên tri, nhưng chỉ một vài người được coi như những “sứ giả” của Chúa với một sứ mạng rõ rệt về giảng dạy và quyền hành đối với cộng đồng mình được trao phó.

Trong tất cả các “sứ giả” Mahomet[12] là vị cao trọng nhất. Sứ mạng của ông là nói lại một lần nữa là phải tuân phục và phó thác vào Thiên Chúa duy nhất và Tạo Hóa, theo như tôn giáo cơ bản và không thay đổi đã được ghi tạc vào bản tính con người. Mahomet đã được sai đi đầu tiên đến với những người Ả-rập, nhưng sứ mạng của ông cũng trải ra khắp thế giới. Thiên Chúa cũng ra lệnh cho Mahomet phải thiết lập một cộng đồng những kẻ tin và “tuân phục” để thay thế những cộng đồng trước đó đã không trung thành với sứ mạng của họ.

Chính nhờ vào Ismael mà Mahomet cho rằng mình đã nối kết lại với Abraham. Người ta biết rằng Ismael là con người trai của Abraham, sinh bởi người hầu nữ của ông là Agar. Sau khi sinh Isaac sinh ra, đứa con của lời hứa, Abraham đã đuổi Agar và Ismael, họ trốn vào nơi hoang địa; nhưng Thiên Chúa hứa rằng Ismael sẽ là Cha của một dân tộc lớn lao. Dân tộc lớn lao này, chính là những bộ lạc của nước Ả-rập phương Bắc. Theo truyền thống viết lại trong Kinh Coran thì chính Abraham đã sống tại La Mecque (II,91), ở đây ông đã cầu xin để có một tiên tri tương lai cho người Ả-rập. Người này sẽ không phải là Do thái cũng không phải là Kitô hữu, mà chỉ, đơn giản là “kẻ tuân phục Thiên Chúa”, nghĩa là người Hồi giáo, bởi đó là ý nghĩa của từ đó (X.III,60; XVI,122 và tiếp theo), là bạn hữu của Thiên Chúa (IV,124). Trường hợp này của Abraham quả là một ưu đãi.

Trường hợp của Đức Giêsu cũng là một ưu đãi. Đối với Kinh Coran thì Đức Giêsu là ai? Một đoạn sách sơ sài trong đó cho rằng Đức Giêsu, đối với người Hồi giáo cũng như đối với người Kitô giáo, là Lời của Thiên Chúa, là Đấng Messia. Quả thật, hai danh xưng này: Lời, Messia, hiện diện rõ ràng trong Kinh Coran. Ví dụ như câu: “Đấng Messia, Giêsu, Con của Maria, là Người được sai rasul của Thiên Chúa và Lời của Ngài được đặt vào trong Maria” (IV,169). Nhưng những người bình chú Kinh Coran đều nhất trí khẳng định rằng Ngôi Lời đã được thụ thai cũng như đã được tạo dựng. Đã được tạo dựng chẳng khác gì những hữu thể chưa từng hiện hữu trước khi Thiên Chúa lôi chúng ta khỏi cõi hư vô. Nếu Ngài được gọi là Lời, là vì Ngài đã đến trong thế gian do lệnh đặc biệt của Thiên Chúa và Ngài đã không có một người cha tự nhiên. Do đó, Mahomet công nhận việc thụ thai tinh tuyền của Đức Giêsu trong lòng Đức Maria và cả sự tinh tuyền của Đức Maria nữa. (X.19,21; 21,91; 55,12). Đối với ông, Đức Giêsu cũng giống như những thụ tạo đầu tiên, Ađam, Eva, đều đã được lãnh ban sự sống do Lời của Thiên Chúa. Mahomet cũng gọi Đức Kitô là “thần khí của Thiên Chúa”, nhưng cũng với ý nghĩa là Đấng Tạo Hóa đã thổi thần khí của Ngài trên Ađam. Nhưng Ađam không vì thế mà là con Thiên Chúa, ngài không thông phần thiên tính với Thiên Chúa.

Mahomet công nhận việc việc thụ thai tinh tuyền cho Đức Giêsu. Ông cũng công nhận những phép lạ và sự thánh thiện của Ngài. Kinh Coran đưa Đức Giêsu lên trên các tiên tri khác, nhưng lại không nhìn nhận thiên tính của Ngài, và cả sứ mạng Cứu chuộc của Ngài nữa. Đức Giêsu mang tinh thần tiên tri ở một mức độ cao hơn. Mahomet, một ngày kia có thể đã nói: “Mọi người khi sinh ra đều bị móng vuốt của ma quỉ cào xé ở cạnh sườn, trừ Đức Maria và con của Bà”. Mahomet tự coi mình là nhỏ hơn Đức Giêsu; bởi việc ông được sinh ra không phải là một phép lạ như đối với Đức Giêsu; Đức Giêsu đã không phải chịu nô lệ tội lỗi, còn ông, Mahomet, trong Kinh Coran đã xưng thú những lỗi lầm quá khứ và hiện tại của mình; ông đã xin Thiên Chúa tha thứ cho những lỗi lầm đó. Ông cũng nhìn nhận sự trổi vượt về đạo đức của Đức Giêsu; nhưng với tư cách là tiên tri, là kẻ được sai đi có sứ mạng, thì ông tự cho mình cao hơn Đức Giêsu.

Hồi giáo từ chối không nhận Đức Giêsu đã chịu đóng đinh vào Thập giá. Đó là một người nào đó trong giống như Ngài đã bị treo lên thập tự (IV,156). Bởi vì không thể tưởng tượng được, một người được Thiên Chúa sai đi mà lại bị bỏ mặc cho sự độc ác của loài người. Vậy nếu Đức Giêsu đã không bị đóng đinh vào Thập giá thì Ngài có chịu một cái chết tự nhiên không? Về điều này Kinh Coran không nói gì cho rõ ràng cả. Tuy nhiên, có một câu (III,48) Thiên Chúa nói: “Ôi Giêsu, Ta nhận con, và Ta đưa con lên cùng Ta”. Vậy thì có thể Hồi giáo tin vào một sự thăng thiên của Đức Giêsu, cả thân xác và linh hồn. Đó là điều mà ít ra một vài nhà bình luận đã nghĩ. Nhưng tất cả đều nhất trí là Đức Kitô sẽ lại đến trên thế gian để đóng một vai trò nào đó vào ngày Phán xét. Và, ngoài ra, Ngài sẽ hủy diệt những người Kitô giáo.

 SÁCH KINH CORAN

Ngoài những trường hợp được ưu đãi của Abraham và của Đức Giêsu, lịch sử nhân loại được ghi vào một khung bản đúc. Nói cách khác và nói theo ngôn ngữ của thời đại, nghĩa là không có lịch sử nào cả. Chỉ có sự sắp đặt một loạt các cộng đồng được nối tiếp nhau trong thời gian. Và, chúng ta hãy nói lại một lần nữa là cũng không có một sự tiến tới nào đi vào lãnh vực Mạc khải. Chỉ có duy nhất một loạt hình tâm lý về Người được Thiên Chúa sai đi. Tóm lại, Lề luật được Mạc khải cho Môisê và Phúc âm được Mạc khải cho Đức Giêsu là những Kinh Coran với những bản in chưa hoàn bị. Người Hồi giáo thì tin chắc tìm được trong Kinh Coran tất cả những gì cần thiết cho đời sống tôn giáo của mình. Họ không thấy có nhu cầu phải tìm một thức ăn nào khác trong các sách thánh của cộng đồng đi trước họ. Ngược lại, những người Kitô hữu tin rằng Tân ước là sự nối tiếp của Cựu ước, rằng Lề luật mới dẫn Lề luật cũ đến sự trọn hảo, và vì thế, họ sống hết mình với Kinh Thánh, người Hồi giáo, lại không cần đọc cả Lề luật của Môisê, cả Phúc âm nữa. Tất cả đều ở trong Kinh Coran.

Và, vì trong Kinh Coran, người Hồi giáo không nhìn về lịch sử và về sự giải cứu như người Kitô hữu nhìn chúng trong Kinh Thánh, nên người Hồi giáo nhấn mạnh vào một số câu trong Kinh Coran để nói rằng xưa kia đã có một Kinh Thánh đã bị biến chất. Họ quả quyết rằng xưa kia đã có một Kinh Thánh phù hợp với những điều mà Kinh Coran khẳng định. Chính trong khi so sánh Kinh Thánh và Kinh Coran thì theo người Hồi giáo, họ có thể phán quyết về sự đích thực của những câu trong Kinh Thánh. Cuốn Kinh Thánh đích thực, đối với họ, chính là cuốn Coran.

 MỐI TÌNH HUYNH ĐỆ

Ngoài ra, việc cai quản thế giới được giao cho Hồi giáo cũng như Đất Hứa được giao cho Môisê. Do đó, người Hồi giáo có bổn phận bảo vệ đạo mình và làm chốn lừng thắng trên khắp trái đất, trước hết bằng lời nói và những phương thế ôn hòa, nhưng trong trường hợp cần thiết cũng bằng cả vũ khí trong tay. Một mối tính huynh đệ làm khắng khít những người Hồi giáo với nhau, họ cảm thấy mình được triệu tập bên nhau vì quyền lợi của Thiên Chúa. Do đó, có một sự nhiệt tình lôi kéo theo đạo Hồi, một cách âm thầm nhưng bền bỉ của các tín đồ Hồi giáo đối với những người không Hồi giáo xung quanh họ. Và do đó, cũng có một sự nhiệt tình theo lối sống đạo của những người đồng đạo với họ. Đạo Hồi rất nghiêm khác đối với những kẻ bội giáo. Điều này bắt chúng ta phải thấy rõ người Hồi giáo coi tình thương đồng loại là thế nào, bởi, chỉ cần nhìn vào tình thương đó, chúng ta có thể thấy được cái chính yếu của vấn đề; tôi xin đơn giản kể ra đây một đoạn trích của một bài viết rất phong phú của Roger Arnalder về sự thần bí Hồi giáo:

“Đối với người Hồi giáo, tình thương đồng loại không thể đặt ngang hàng với tình yêu Thiên Chúa. Điều đó không có nghĩa là đạo Hồi không biết gì đến tình bác ái huynh đệ; ngược lại, đạo Hồi nhấn mạnh về điều đó, mặc dù người anh em thật sự phải là người tín hữu Hồi giáo chứ không đơn giản chỉ là con người. Nhưng mối tình đó không được cấu tạo nên từ niềm tin, dù là niềm tin dồi dào; nhưng nó đến từ Lề luật của Chúa, từ Ihsan và từ Islam (với nghĩa đen của nó). Nhưng mặt khác, người tín hữu thì yêu thương tất cả những ai phụng sự Thiên Chúa, và hơn nữa, tình yêu khoan dung đó tạo nên một sự kết hiệp giữa các tín đồ, nó biểu lộ sự hiệp nhất của Thiên Chúa trong lòng cộng đồng của trần thế umma. Không phải bằng tình thương đồng loại đó mà người ta đến với Thiên Chúa, đến nỗi như người ta có thể thấy được Thiên Chúa trong người anh em và đến nỗi như niềm tin sẽ chẳng là gì nếu không có tình thương huynh đệ. Nếu mối tình đó dẫn đến niềm tin vào Thiên Chúa thì đó cũng cùng một danh hiệu như các việc lành khác và các việc thờ phượng khác như cầu nguyện, làm việc bố thí theo luật, v.v…, bởi vì, nhờ vào sự hiệp nhất giữa loài người, nó cũng là một sự chuẩn bị cho việc Mạc khải về sự hiệp nấht của Thiên Chúa. Theo ý nghĩa này, thì người ta có thể khẳng định về sự mâu thuẫn giữa việc khẳng định niềm tin của mình và việc không thương yêu những ai cùng tuyên xưng một niềm tin như mình. Kẻ nào ở trong tình huống này sẽ không thể làm một người Islam hoàn hảo, nó sẽ không hoàn toàn phó mặc cho Thiên Chúa bằng sự tuân phục, bởi nó còn giữ lại nơi chính mình một tình cảm làm nó đứng xa những ai phó mình cho việc tuân phục kia. Như vậy thì làm sao niềm tin thật sự có thể ở trong lòng nó được? Một con người như vậy là một kẻ nói dối[13], và điều đó là quyết định khi lời nói dối kia làm nó tránh xa niềm tin chứ không phải vì nó không yêu anh em mình. Ý nghĩ rằng, theo Hồi giáo, tình yêu chỉ đến với các tín đồ chứ không đến với người ngoại giáo, đối với những người này cần phải ghét bỏ vì Thiên Chúa, điều này xác quyết một cái nhìn có tính cách loại trừ của lòng bác ái huynh đệ so với niềm tin tôn giáo”.

Vậy chúng ta hãy ghi nậhn điều này, theo Hồi giáo, đức bác ái chỉ là điều buộc vì nó là luật của Thiên Chúa; phải yêu thương vì phải vâng phục Thiên Chúa và kẻ nào không yêu người sẽ là kẻ không “vâng phục” Thiên Chúa. Trong Kitô giáo, chúng ta yêu mến anh em đồng loại vì một ly do sâu sắc hơn, bởi đó là một phẩm chất hiện hữu cao cả nhất; chính theo nghĩa đó mà nó là một điều luật của Thiên Chúa; ở đây Tình yêu huynh đệ lmà nên niềm tin, chứ không phải từ một điều luật đến từ bên ngoài. Đây không phải là con người, đơn giản bởi vì đó là một con người, mà người Hồi giáo phải yêu mến, nhưng chỉ nguyên là tín đồ với tư cách là người tín đồ, bởi vì kẻ nào yêu và được yêu là những người “tuân phục” Thiên Chúa. Trong bối cảnh này, người ta hiểu được vì sao cha Foucauld cứ muốn coi mình là “người anh em toàn cầu”.

Tuy nhiên, nếu một người Hồi giáo mất niềm tin, người ta vẫn coi người đó như thành phần của cộng đoàn, chúng ta có thể nói là “một người Hồi giáo khôn khéo”. Vẫn chưa có gì là cắt đứt; người ta sẽ luôn giữ một thái độ kính nể bề ngoài. Áp lực xã hội sẽ không cho phép người bội giáo đối xử với đạo Hồi, như Voltaire chẳng hạn, đã đối xử với đạo Kitô; câu châm ngôn bất hủ: “Hãy nghiền nát kẻ bỉ ổi!” Quả thật là không thể tưởng tượng được trong bối cảnh Hồi giáo này. Thuyết vô thần của họ, đây là những gì còn lại của tình cảm tôn giáo còn đôi chút hữu thần của họ, sẽ chỉ giúp cho họ ưu đãi những xu hướng tự do ở bên trong Thành đô Hồi giáo; bởi ở bên trong đạo Hồi cũng như ở mọi nơi, đều có những xu hướng nghiêm ngặt thì chống đối lẫn nhau. Và tình huống này thì biến hóa rất nhanh; những năm gần đây, thuyết vô thần đã dấy lên trong hàng ngũ một só các sinh viên Hồi giáo, một hình thức cộng sản.

 THIÊN CHÚA CỦA HỒI GIÁO VÀ THIÊN CHÚA CỦA KITÔ GIÁO

Vậy thì giáo luật của Hồi giáo được coi là một tổng thể đơn giản mà cấu kết rất chặt chẽ với nhau. Ở đây tất cả đều lôi kéo nhau một cách tự nhiên đi từ một vài nguyên lý làm đầu tàu cho những gì đi theo sau. Từ những nguyên lý nào vậy? Chúng ta có thể nói: từ khái niệm mà Hồi giáo nghĩ về Thiên Chúa. Và đây là điều chủ yếu của vấn đề tôi muốn đặt ra (và lý do vì sao tôi đã muốn nói về Hồi giáo trước các tôn giáo khác). Sau cùng tất cả đều dẫn tới điều này: Thiên Chúa của Hồi giáo không phải là Thiên Chúa của Kitô giáo, bởi vì Thiên Chúa của Hồi giáo không phải là Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa. Ngoài niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, thì niềm tin vào việc Nhập Thể là ảo tưởng. Nếu Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa, thì việc Mạc khải không phải là và không thể là, đối với Hồi giáo, như nó là đối với các Giáo Hội Kitô. Và cũng từ đó, cái thị kiến về lịch sử, không phải là và không thể là, như nhau. Ở lãnh vực này không có một thỏa hiệp nào là khả dĩ, bởi cái thị kiến về lịch sử kia được thiết lập trên sự Mạc khải, sự Mạc khải được trên sự Nhập Thể, sự Nhập Thể được thiết lập trên Thiên Chúa Ba Ngôi, bảo đảm cho cái tuyệt đối của sự hiện hữu.

Tại sao Kinh Coran lại dứt khoát gạt bỏ điều luật về Thiên Chúa Ba Ngôi? Chỉ đơn thuần vì sự đơn nhất của Thiên Chúa đối với Hồi giáo, thì không thể tương hợp với tính tam vị của các cá thể. Mahomet chỉ có thể nhìn nhận một hoặc ba Thiên Chúa. Ông đã không đạt tới chiều sâu của triết lý và sự linh thiêng vốn giúp cho hiểu rằng tính Đơn Nhất đích thực, đơn nhất của Tình yêu, đó là tính Tam Vị, nghĩa là Thiên Chúa Ba Ngôi là sự trọn hảo của tính đơn nhất. Tính đơn nhất trọn hảo không phải là đơn nhất của con số một, mà là tính đơn nhất của Tình yêu. Một sự Đơn nhất mà không có tính Tam Vị thì không phải là tính Đơn nhất đích thực, nó không phải là hoa trái của Tình yêu. Chúng ta đang ở tâm điểm của Kitô giáo, và mọi cái khác đều theo sau nó: tính độc nhất của Thiên Chúa, tính đơn nhất của Ngài có được sự trọn hảo của nó trong tính Tam Vị của Ba Ngôi (la trinité de trois Personnes) vốn sống vĩnh hằng trong một sự trao đổi của Tình yêu. Chúng ta đồng ý với Hồi giáo để khẳng định một Thiên Chúa duy nhất, nhưng Thiên Chúa này vốn là một, chúng ta tin rằng Ngài chỉ thật sự là một bởi vì Ngài là ba. Đây không phải là tính đơn nhất của nghèo nàn, mà đơn nhất của giàu có phong phú hoặc, để tránh mọi hàm hồ khi nói về từ ngữ nghèo nàn, chúng ta hãy nói rằng đó là tính đơn nhất của cái nghèo nàn kia về Tình yêu vốn là cái giàu có phong phú cao cả nhất. Mặt khác, người ta cũng nhận thấy rằng những nguồn mạch mà các Tiên tri kín múc các chỉ dẫn của họ về Kitô giáo đã không có tính cách để cho họ một khái niệm chính xác về ý niệm của Kitô giáo.

Đối với Mahomet, nếu tính đơn nhất của Thiên Chúa là hòn đá góc tường của các tín đồ chân chính, nếu thuyết độc thần là điều chính yếu của tôn giáo đích thực, thì Thiên Chúa Ba Ngôi là phản đề của tôn giáo đó. Người ta đọc trong cấu Xurát thứ tư của Kinh Coran, câu than này cho các Kitô hữu: “Hỡi các ngươi, là những người đã đọc Kinh Thánh, đừng đi xa hơn những giới hạn của tôn giáo các ngươi, hãy chỉ nói về Thiên Chúa những gì là thật… Hãy tin vào Thiên Chúa và các môn đồ của Ngài các người được sai đi và đừng nói rằng: có Thiên Chúa Ba Ngôi. Đừng làm như vậy. Điều đó sẽ tốt hơn cho các người, bởi Thiên Chúa là duy nhất”.(IV,169). Và trong câu Xurát thứ năm: “Bất trung là kẻ nào nói rằng: Thiên Chúa là một ngôi thứ ba của Ba Ngôi”.(V,77). Quả thật, nói về tính phụ tử của Thiên Chúa là một điều phạm thượng ghê sợ (cf. II,110) “Họ nói rằng: Đấng thương xót có con cái. Các ngươi đang nói một điều phỉ báng đó. Chỉ một chút nữa thôi thì trời sẽ sập xuống trên các lời nói đó, đất sẽ mở ra, núi non đổ xuống trên những kẻ dám gán một người con cho Đấng Xót Thương” (XIX,91-93). Qua toàn bộ bối cảnh của Kinh Coran, hình như ở nơi Mahomet có một thứ bất lực siêu hình nào đó để nhận thức được Thiên Chúa Ba Ngôi là như sự trọn hảo của tính đơn nhất. Và, hơn nữa, Mahomet nói, tính phụ tử không thể hiện hữu, nếu không có sự hợp tác của một người phụ nữ. Có những bản văn mà hình như ông đã đưa Maria vào trong một hình thức tam vị, nhưng lúc đó là vào thời kỳ ông chưa dứt khoát bác bỏ Chúa Ba Ngôi. Nhưng khi ông đã dứt khoát bác bỏ, ông trở nên mãnh liệt, hầu như khiêu khích; ông cho là phỉ bàng, là dối trá, cái giáo điều Kitô giáo về Thiên Chúa Ba Ngôi. Đối với ông, điều đó chỉ thuần túy và đơn giản là thuyết đa thần. Chính trong cùng một động tác duy nhất đó mà ông khẳng định thuyết độc thần và chối bỏ Thiên Chúa Ba Ngôi.

Tuy nhiên, cũng có những nhà thần bí Hồi giáo đã linh cảm được về Thiên Chúa Ba Ngôi; chúng ta sẽ gặp thấy sự linh cảm này khi chúng ta sẽ nói về Ấn giáo và Phật giáo. Nhà thần bí lớn nhất và gần nhất với Kitô giáo, nhưng không phải là duy nhất, là Hallâj, đã bị đóng đinh vào thập giá và chặt đầu vì rối đạo, bởi các người đồng đạo với ông tại Bagdad năm 922. Louis Massignon đã viết một luận đề về “cuộc tử đạo thần bí” này với một sự uyên bác phi thường. Hallâj tin vào một Thiên Chúa đã tạo dựng bằng tình thương, đã đàm đạo với chính ông. Ở đây, chúng ta không xa lắm về tính đa nguyên của các Ngôi vị. Hallâj nói về một cuộc sống thân mật của Thiên Chúa trong ông và ngay cả về một “sự thân mật của mối tình thân” (L’intimité de l’intimité) – thì làm sao lại không nghĩ đến Ngôi Lời? Và như vậy, ông đã làm cho quan niệm Hồi giáo về Thiên Chúa được giãn nở ra, một Thiên Chúa hiện sống và gần gũi với Kitô giáo. Nhưng sau cùng, Thiên Chúa của Hallâj vẫn là Thiên Chúa của đạo Hồi. Nhà thần bí sáng giá đó cảm thấy Thiên Chúa chính là Tình yêu, nhưng ông lại không tin vào một Tình yêu vốn luôn đi đến cùng của mối tình, nghĩa là nó kêu mời con người phải chia sẻ chính cuộc đời mình. Ông đã không thể chấp nhận lời nói của thánh Phêrô trong thư thứ hai của ngài: “Chúng ta trở nên kẻ thông phần bản tính của Thiên Chúa” (1,4). Ngay cả đối với Hallâj, đó quả thật là một điều kinh khủng phải tin rằng Thiên Chúa ban cho con người một sứ mạng hoàn toàn thánh thiêng.

 CHÚA BA NGÔI, MẦU NHIỆM TỐI CAO CỦA NIỀM TIN KITÔ GIÁO

Để chấp dứt và để không còn phải nhắc lại về vấn đề này trong các bài thuyết trình sau bài này, chúng ta hãy nói đôi chút về Thiên Chúa Ba Ngôi như là mầu nhiệm tối cao của niềm tin Kitô giáo. Nếu Thiên Chúa, được Đức Giêsu Kitô giới thiệu là Cha, Con và Thánh Thần, thì dĩ nhiên không phải để chúng ta tin, một cách nào đó, bằng một khái niệm trừu tượng rằng Thiên Chúa là như thế. Khẳng định Ba Ngôi thay vì một, để làm gì? Nếu Thiên Chúa tự biểu lộ là Thiên Chúa Ba Ngôi, chính là để chúng ta biết rằng Chúa Cha đã nhận chúng ta là con – đúng với nghĩa mạnh của nó – trong Con của Ngài nhờ Thần Khí của Ngài. Điều này giả thuyết việc Nhập Thể: chúng ta chỉ có thể là con với nghĩa mạnh – ở trong Người Con duy nhất đã Nhập Thể.

Và điều này cho chúng ta thấy được chính chúng ta; chúng ta biết được chúng ta là ai, đâu là con đường giải cứu chúng ta, và đâu là giá Cứu chuộc chúng ta. Vì thế, trên đây tôi đã nói rằng chính cái tuyệt đối của sự hiện hữu chúng ta mới là lý do: lý do đó chính là sự sống của chúng ta và cái vĩnh hằng của chúng ta nữa. Thiên Chúa đã không tỏ ra điều bí ẩn của Ngài – điều bí ẩn của sự sống thân tình mà Hallâj đã cảm nghiệm được một cách sâu thẳm – để trả lời cho sự tò mò của tinh thần chúng ta (về vấn đề này, tôn giáo sẽ chỉ là một hệ thống triết lý), nhưng để soi dẫn và thực hiện sự lòng ghép chúng ta vào sự sống kia của Thiên Chúa. Tôi nói: lòng ghép. Nhưng đây không phải vấn đề đối với người Hồi giáo, để được gắn vào trong sự sống của Thiên Chúa. Người Hồi giáo thì ở trước mặt Thiên Chúa; người Kitô giáo thì ở trong Thiên Chúa.

Người Kitô giáo là người đặt nặng vấn đề câu nói của thánh Gioan: Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,8,16). Họ hiểu rằng, đối với Thiên Chúa, hiện hữu và yêu chỉ là một. Thiên Chúa không phải là Tình yêu như chúng ta, người nàm và người nữ đối với nhau, nghĩa là theo tự nhiên và định mệnh; không có bản tính tự nhiên nào đè nặng trên Chúa cả; Ngài là tự do tuyệt đối cao cả. Thiên Chúa là chính sự quyết định yêu thương một cách tự do và vĩnh cửu. Vậy thì Tình yêu đòi hỏi sự đơn nhất và đa phương. Người ta không yêu chính mình; yêu chính mình, không phải là yêu, bởi đó không phải là hiến tặng, cũng không phải là đón nhận. Tình yêu đòi hỏi sự tràn đầy nơi bản thân và sự trào tràn ra khỏi bản thân. Sự đơn nhất đích thực không phải là cái đơn nhất của người độc thân, mà là cái đơn nhất của người và người nữ khi họ yêu nhau quá đỗi đến như chỉ còn là một. Tình yêu nhân loại vẫn vươn tới, nhưng như vươn tới một giới hạn, tới một sự trao đổi lẫn nhau, một sự trao đổi lẫn nhau của Tình yêu vốn có thể làm nên một sự đơn nhất trọn hảo của người kia và của bản thân. Tất cả những ai yêu nhau đều nói: “Anh và em hoặc em và anh, chúng ta chỉ là một”. Nhưng, ở trần gian này, ước nguyện của tình yêu nhân loại vẫn luôn thất bại và làm chúng ta đau khổ: người ta vẫn còn là hai, người ta không trở nên tuyệt đối là một được. Nhưng nơi Thiên Chúa, sự kết hợp kia luôn đi đến tận cái Đơn nhất, một cái Đơn nhất vốn là, chúng ta xin nói lại, hoa trái của Tình yêu.

Nơi Thiên Chúa, Tình yêu trọn hảo đó là chính cái Thực tại của Ngài. Một Tình yêu đích thực bao hàm cái đa phương của cá thể. Một cá thể duy nhất không thể thỏa mãn cho chính mình. Nhưng tự thân sự thích thú không phải là Tình yêu đích thực, bởi nó chẳng có đón nhận cũng chẳng có hiến tặng. Đón nhận và hiến tặng là hai cực điểm của Tình yêu. Nó giả thuyết phải có bản thân và một người khác: nếu không thì trao tặng cho ai và đón nhận ai? Nói rằng Thiên Chúa là Tình yêu và nói rằng Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi, đó chính xác là như nhau.

Trong đạo lý (la morale) của Hồi giáo thì tính từ bi, lòng nhân hậu, đóng một vai trò rất quan trọng. Và, chắc hẳn, không nên quá thúc bách các nhà thần bí Hồi giáo đi đến chỗ nói rằng tình yêu là trọn hảo, là dấu ấn của đạo lý. Nhưng sẽ không bao giờ, không bao giờ có thể yêu như Thiên Chúa yêu. Còn cái làm nên tính ưu việt của đạo lý Kitô giáo, lại chính ở chỗ sứ mạng người Kitô hữu là yêu như Chúa yêu. Nhưng con người chỉ có thể yêu như Chúa yêu – amare ut Deus amat, như thánh Augustino nói – khi nó được tràn đầy Thiên Chúa. không nên cố gắng cóp chép tình thương của Thiên Chúa như một học trò muốn bắt chước thầy dạy mà nó chiêm ngưỡng. Vượt trên cả đạo lý và để cho sự trọn hảo đạo lý được khả thi, thì vấn đề quyết định là vấn đề tôn giáo, nghĩa là sợi dây liên kết hữu cơ giữa sự sống của con người và sự sống của Thiên Chúa. Vậy thì, trong Hồi giáo, sợi dây liên kết giữa con người và Thiên Chúa thì không hữu cơ (organique), không sống (vital).

Để tóm tắt, tôi xin giải thích trong một câu nói mà tôi vừa sử dụng ở trên. Nó có vẻ đơn giản, nhưng nó có cái hay là giúp cho hiểu được vấn đề; tôi nói rõ đó là một câu là câu đó phải được diễn đat một cách tinh vi, bởi tôi không muốn chút nào nói xấu về một tôn giáo mà không phải là của tôi; chúng ta phải sống tình huynh đệ với nhau và phải biết mở ra cho cuộc đối thoại. Đây là câu tôi muốn nói: người Hồi giáo thì ở trước mặt Thiên Chúa, người Kitô giáo thì ở trong Thiên Chúa: khiêm nhu, đúng; tôn thờ, đúng; nhất là vâng phục, nhưng ở trước mặt Thiên Chúa. Chỉ nhờ vào Đức Kitô mà con người có thể ở trong Thiên Chúa như thánh Phaolô đã lặp lại điều này hằng trăm lần trong các thư của ngài. Nếu sự sống của Thiên Chúa, là những tương quan với nhau để đón nhận và trao tặng cho nhau vốn làm nên Thiên Chúa Ba Ngôi, thì đối với người Kitô hữu, được là chi thể của Đức Kitô, đó là được sáp nhập vào đời sống của Ba Ngôi. Thiên Chúa Ba Ngôi điều khiển tất cả, hoàn toàn tất cả.

 NHỮNG ĐOẠN TRÍCH VỀ NHỮNG CUỘC TRAO ĐỔI VỚI CÁC THÍNH GIẢ

 Về sự sống lại

Hồi giáo khẳng định sự sống lại. Xác loài người sống lại nghĩa là gì? Chính các tín hữu Kitô cũng phải khó khăn lắm để tự lý giải cho mình thế nào là xác loài người sống lại. Điều này dẫn đến cả một triết học về thân xác, vốn đang được học hỏi rất nhiều tại nước Pháp này, thí dụ như trong một tác phẩm mới đây của Claude Bruaire. Cái gì làm cho sống lại? Thân xác. Mà thân xác là cái gì? Đây không phải là một tổng thể những tế bào sinh vật. Một thân xác sống lại và là một thân xác linh thiêng. Hình như Hồi giáo không nói gì về vấn đề này và ít triển khai triết lý về thân xác.

 Người ta có thể nói rằng Hồi Giáo là một tôn giáo được mạc khải chăng? 

Trước hết, chúng ta hãy suy nghĩ về ý tưởng mà chúng ta đặt cho sự Mạc khải. Đối với đa số các tín hữu Kitô ngày nay, họ không quan tâm lắm đến Mạc khải, họ cho đó là một cái gì khách quan đến với họ từ bên ngoài. Làm như Thiên Chúa đem đến cho chúng ta một số sự thật qua máy phóng thanh. Làm như, một ngày đẹp trời nào đó, Thiên Chúa đã quyết định nói Ngài là ai và con người là ai, mà trong việc này con người chẳng là gì cả. Vậy thì, đây chính là điều mà Kitô giáo thấy mình đang xung đột với thế giới hiện đại. Con người hiện đại thì hoàn toàn không thể chấp nhận một sự thật mà nó chẳng là gì cho sự thật đó. Điều này rất quan trọng đối với não trạng của thời hiện đại này, và đó cũng là lẽ phải thôi, rằng một sự thật chỉ là sự thật khi nó là của chúng ta. Và nó không phải của chúng ta khi nó được lãnh nhận từ bên ngoài.

Vậy thì chúng ta phải hiểu rằng. Mạc khải được hình thành trong kinh nghiệm tôn giáo của chúng ta; chính ở đó mà chúng ta đạt tới sự hiểu biết Thiên Chúa được Mạc khải; ở đây con người có công trạng của mình. Nói cách khác, phẩm giá con người của tôi buộc tôi phải công nậhn một lời nào là thật chi khi nào lời đó là của tôi và lời đó tôi có thể nói ra không phải thuộc lòng mà bằng cả trái tim mình. Nếu đó là lời của một người khác, cho dù là của Thiên Chúa đi nữa, thì đó cũng không phải là lời của tôi. Sẽ có Mạc khải, khi lời nói với tôi về Thiên Chúa trong Phúc âm ăn khớp, bằng cách nào đó, với chính lời của tôi. Nếu không, sẽ chỉ là một mớ những quan điểm từ trực thăng rơi xuống, vốn thời này không ai chịu nổi. Với cái nhìn này, chúng ta phải ý thức rằng, đối với người Kitô hữu, thì Kinh Thánh và Truyền thống không phải là Mạc khải; đó là những nguồn gốc của Mạc khải[14].

Tôi không nghĩ rằng, trong Hồi giáo hiện nay, người ta có thể thấy được như vậy. Đối với Hồi giáo, Kinh Coran không là gì khác ngoài một bản Kinh Thánh được Mahomet viết lại, sửa chữa và phục nguyên nó. Từ đó người Hồi giáo đi đến chỗ nói rằng, để biết được sự thật trong Kinh Thánh, phải tìm đến Kinh Coran. Đối với họ Kinh Coran là Mạc khải. Kinh Coran không phải là sự kế tiếp của Kinh Thánh; người Hồi giáo không đọc Kinh Thánh như một giai đoạn của Mạc khải, cũng như người Kitô giáo làm như thế đối với Cựu ước. Đối với họ, Kinh Coran là Kinh Thánh được đính chính lại khỏi những sai lầm về lịch sử của nó.

Chúng ta nghĩ gì về Mạc khải của thiên thần Gabriel cho Mahomet? Đối với tôi, đó là một huyền thuyết. Và không có gì để ngạc nhiên khi huyền thuyết lan ra; nó đã lan rộng ra xung quanh Giáo Hội.

 Về những tương quan giữa người Kitô giáo và Hồi giáo 

Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra về những tương quan giữa người Kitô giáo và người Hồi giáo. Chúng xoay quanh những cụm từ như: chung sống, tiêu diệt, trở lại, hòa giải, đại kết v.v…

Người Hồi giáo thường có tư tưởng về việc trở lại. Người tín hữu đích thực là người Hồi giáo. Còn về sự tiêu diệt thì chắc hẳn cũng còn một sự nhân đạo nào đó; tôi không nghĩ là hiện nay có thể có vấn đề tiêu diệt.

Người ta chỉ có thể hy vọng vào những cố gắng nào về mặt sứ mạng Kitô giáo? Những nhà Hồi giáo học và truyền giáo đều nói rằng đạo Hồi đúng như hiện hành thì không thể nào có vấn đề trở lại. Đã có nhiều tiếp xúc các nhân, nhất là trong số những người ưu tú, nhưng rất rất hiếm có những cuộc trở lại. Còn về một sự hòa giải đối với những quan điểm Kitô giáo và Hồi giáo thì không thể có, bao lâu người Hồi giáo từ chối thẳng thừng không tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Hơn nữa phủ nhận Thiên Chúa Ba Ngôi dẫn đến phủ nhận Thiên Chúa Nhập Thể, cho dù Mahomet đã dành cho Chúa Giêsu những lời ca tụng đặt biệt. Ngay từ bài thuyết trình đầu tiên chúng tôi đã nêu vấn đề: làm sao người ta có thể ở một quan điểm cao hơn mà hòa tan vào trong cùng một tôn giáo, nào là Hồi giáo không tin Thiên Chúa Ba Ngôi, Ấn giáo không tin vào việc tạo dựng, Do thái giáo không tin có sự Nhập Thể? Quan điểm nào cao hơn mà người ta có thể tìm thấy khi Kitô giáo sẽ không còn là gì hết ngoài niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng Tạo Hóa và Đấng Nhập Thể? Người Kitô giáo và Hồi giáo có thể nhất trí với nhàu về vấn đề tạo dựng, tuy nhiên đối với người Kitô giáo thì mầu nhiệm tạo dựng được soi sáng bởi mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Tất cả các triết gia đều đụng phải mầu nhiệm tạo dựng. Trong một trang sách của Simone Weil, tôi vừa đọc được câu này: “Thiên Chúa và thế giới, còn kém hơn là Thiên Chúa một mình” (Dieu et le monde, c’est moins que Dieu tout seul). Đúng vậy, điều đó có nghĩa là không phải việc tạo dựng làm giảm Thiên Chúa, nhưng hành động tác tạo, về phía Thiên Chúa, là một hành động từ bỏ, hay từ chối coi mình là tất cả. Việc tạo dựng không phải là một hành động phô trương, hơn nữa, Tình yêu thì không phải để phơi bày mà để suy nghĩ lại. Do đó, nói về một sự hòa giả cho các quan điểm có chiều sâu, thì dứt khoát không được.

Những người Hồi giáo không chấp nhận sự biến hóa cho tín ngưỡng của họ; vậy trong những trường hợp này, với những khả dĩ lý giải nào, để một số người Hồi giáo có thể tham gia vào những tiến trình đại kết? Đứng trước vấn đề này, người ta có thể nghĩ đến những căng thẳng nội bộ đang hiện hữu ngay cả trong cộng đồng Hồi giáo, và đôi khi là khá quan trọng.

 Về sự lan rộng của Hồi giáo 

Một thính giả đã đưa ra câu hỏi sau đây: “Làm sao khỏi ngạc nhiên khi một phần lớn những người theo đạo Kitô đã bị Hồi giáo khuynh phục, mặc dù họ thuộc những Giáo Hội lâu đời, đông đúc, lừng danh bởi những vị thánh và những tiến sĩ của họ? Sự bỏ phiếu trắng của Chúa Quan phòng trong trường hợp đau buồn đó của đạo Kitô phải chăng có thể nghi ngờ về sự can thiệp của Ngài trong các vấn đề của con người, trái với luận đề về vai trò quyết định của Ngài trong lịch sử bị đẩy vào thế cùng bởi Bossuet?”

Nhiều câu hỏi từ đó cũng được đặt ra.

Về sự lan rộng của Hồi giáo trong các vùng Kitô giáo lâu đời, trước hết chúng ta nên lưu ý về sự quá sức giản dị của đạo Hồi. Trong cái giản dị này có một sức quyến rũ mãnh liệt không thể chối cãi. Tôi cũng xin nhắc lại cái phản ứng của viên sĩ quan từ một nơi khỉ ho cò gáy trở về đã nói: “Tôi thấy rõ ràng là những người Kitô không biết ý nghĩa của chữ “thờ phượng” là gì, còn người Hồi giáo, họ biết”. Chúng ta nên đấm ngực mà nói: mea culpa. Chắc hẳn người ta còn nhiều câu hỏi khác để đặt ra về cái nội dung thờ phượng này. Tuy nhiên, để so sánh, thì viên sĩ quan kia trở về Pháp trong “một đất nước mà người ta không biết thế nào là thờ phượng”.

Còn về vai trò quyết định của Chúa Quan phòng trong lịch sử, thì quan điểm của Bossuet quả là không chấp nhận được vào thời điểm này. Tôi nghĩ rằng không phải bất cứ cái gì Thiên Chúa cũng can thiệp vào. Tôi nghĩ rằng sống một linh đạo Hồi giáo cho thật sâu sắc thì trước mặt Chúa còn có giá trị hơn lối sống một linh đạo Kitô giáo một cách uể oải. Không phải tôi muốn nói là các tín hữu Kitô thì uể oải còn các tín hữu Hồi giáo thì đạo đức sốt sắng. Đây không phải là một chuyện thống kê. Và chúng ta phải coi chừng về mọi thứ khoái cảm trên đau khổ (masochisme).

Nhưng tôi cũng không ngạc nhiên về một số tín hữu Kitô chuyển giáo sang đạo Hồi và đạo Phật, tôi thấy hình như họ chuyển sang một sự gần giống, để không nói là một biếm họa, từ một tín hữu Kitô sang một tín hữu Phật giáo hay một tín hữu Hồi giáo đích thực. Thiên Chúa không can thiệp vào lãnh vực mà người ta có thể gọi là sự quảng bá cho một Giáo Hội, vốn biểu thị là một tôn giáo cao nhất, trọn vẹn nhất. Thiên Chúa quí trọng tự do của con người.

 Về niềm tin cậy vào Thiên Chúa 

Về câu hỏi: người Hồi giáo có tin cậy vào Thiên Chúa không? Phải trả lời là: có. Người ta có thể nói về những quan hệ tình yêu. Nhưng tình yêu là gì? Sau hơn sáu mươi năm sống đời trần thế và mục vụ, tôi mới bắt đầu hiểu đôi chút thế nào là tình yêu. Nói rằng Thiên Chúa là Tình yêu thì quá mau. Nhưng đây mới là cả một kinh nghiệm sống để hiểu thế nào là tình yêu đích thực. Cái làm nên giá trị của đạo Kitô, cái giá trị ưu việt tuyệt đối của nó, đó là vì giúp chúng ta đào sâu những đòi hỏi của tình yêu. Đào sâu chúng không giới hạn. Từ đó, có câu của Phúc âm: “Hãy nên trọn lành như Cha các con là trọn lành” (Mt 5,49). Câu sánh đôi của thánh Luca nói: “Hãy có lòng xót thương như Cha các con có lòng thương xót” (Lc 6,36). Vậy thì lòng xót thương là không tưởng nếu nó không có tình yêu. Trong đạo Hồi, Thiên Chúa được gọi là Đấng hay thương xót. Đó là một trong các danh xưng của Thiên Chúa.

 Về sự tiền định 

“Phải chăng có một sự liên quan giữa thuyết định mệnh mà người ta gán cho đạo Hồi và ý tưởng về sự tiền định?” Tôi không nghĩ rằng Hồi giáo có một ý tưởng về sự tiền định rất khác với Kitô giáo. Và ngay ở trong Kitô giáo, chúng ta được biết có nhiều trường thần học khác nhau. Hãi chữ tiền định, ngày nay không còn ai nói đến nữa, bởi chúng đã được hiểu một cách rất sai lầm, làm như có một ý muốn của Thiên Chúa tiền định cho một số người nào đó được cứu độ, và một số người khác phải luận phạt. Tất cả những ý tưởng đó đều đã được quét sạch khỏi nền thần học và tôi không nghĩ đó là một điều quan trọng trong Hồi giáo.

 Về tôn giáo thật 

“Làm sao Mahomet có thể được Thiên Chúa soi sáng để viết Kinh Coran trong khi đó Hồi giáo lại không phải là tôn giáo thật?”. Trước một câu hỏi được đặt ra như thế chúng ta hãy ý tứ hết sức để sống tôn giáo thật của mình. Và chúng ta cũng coi chừng với những chữ “tôn giáo thật”. Có những sự thật trong mọi tôn giáo. Tôi khuyên không nên nói về tôn giáo thật hay sai, mà nói về tôn giáo cao cả nhất. Nghĩa là tôn giáo vốn có khả năng, nếu người ta trung thành với nó, để dẫn đưa con người đến phẩm chất thiện hảo nhất của sự hiện hữu. Trong Kitô giáo, tất cả những gì là tương quan thực sự, sống động, hiện sinh của con người với Thiên Chúa, vì thế tất cả những gì là tín điều, luân lý, ngay cả các bí tích, tất cả những điều đó chỉ hiện hữu khi chúng tùy thuộc vào một điều duy nhất quan trọng, đó là mối tương giao thực sự với Thiên Chúa. Và chúng ta hãy khẳng định rằng, mối tương giao thực sự với Thiên Chúa đó không được thực hiện nó trước hết và nhất là trong cầu nguyện mà là thực hiện trong cuộc sống, nghĩa là trong tình bác ái.

 Sự dữ và nỗi khổ của Thiên Chúa 

Về vấn đề sự dữ, người ta không thấy trong Kinh Coran có nhiều khái niệm về nó. Tất cả những gì người ta có thể nói về sự dữ và sự đau khổ thì quá ít đến nỗi người ta không hiểu được câu nói của Nietzsche: “Có một hỏa ngục ở trong Thiên Chúa, đó là Tình yêu của Ngài đối với con người”. Câu nói thật đáng sợ, nhưng nó là thật, một cách đáng sợ. Nó muốn nói là tình yêu đúng như nó đang sống trong Thiên Chúa, và nó chẳng có gì giống với tình yêu của một em bé giúp lễ, nhưng nó bắt Thiên Chúa không được ngăn cản con người chịu đau khổ và chính Thiên Chúa lại là người phải đau khổ hơn cả vì điều đó. Chúng ta đồng ý rằng dùng chữ hỏa ngục thì không thích đáng, nên chỉ còn lại Thiên Chúa, khi không thể miễn cho chúng ta phải đau khổ, thì cũng không miễn điều đó cho chính Ngài. Ở đây chúng ta đang đụng vào chiều sâu của thực tại. Tất cả những gì không đạt tới điều đó là còn thiếu hụt, và thật nguy hiểm để nói về những gì còn thiết hụt, khi đó là vấn đề đau khổ vốn là cái gì nhức nhối nhất của con người.

Câu nói ngây thơ nhất, trẻ con nhất, lại bao hàm một sự khôn ngoan sâu sắc nhất: “Đừng làm buồn lòng Thiên Chúa”. Nếu mục đích của tôi là làm điều tốt, là xử sự cho công minh và bác ái, thì đó là sự khôn ngoan cao cả nhất, bởi đó là mục đích của sự ban tặng hoàn toàn nhưng không. Nếu câu nói trẻ con đó không làm bạn hài lòng chúng ta hãy lấy câu của thánh Phaolô: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa!” (Ep 4,30). Chúng ta có quyền làm phiền lòng Chúa Thánh Thần, nhưng Chúa Thánh Thần đành phải bất lực, bó tay. Ngài cũng không thể quyến rũ để chúng ta làm điều lành nếu thật sự như Jean Lacroix đã nói trong sự mong ước và những điều mong ước, yêu đúng là không bao giờ đồng ý dùng đến những phương thế quyến rũ đối với người mình yêu. Tình yêu chỉ thật sự là tình yêu khi nó ở trong sự kính trọng đối với người kia, trong sự biểu lộ một ước mong mà chính Thiên Chúa cũng diễn tả ra trong lời cầu nguyện; chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa bởi vì Thiên Chúa cầu xin chúng ta. Đáng lẽ phải sửa lại những cụm từ “Ý Chúa và giới luật” của Chúa rằng: “lòng mong ước của Thiên Chúa”. “Ta xin con hãy tự thăng hoa mình tối đa, như vậy là con nên giống ta”. Chính trong lúc đó, mục đích hành động của tôi mới chính là cái ý muốn thuần túy trong tôi, để đạt tới sự mong ước của Thiên Chúa vốn không phải là một ý muốn mệnh lệnh.

Thiên Chúa chỉ có thể miễn cho chúng ta khỏi đau khổ khi Ngài đặt để chúng ta trong một cái hộp nhồi bông, ở đó người ta tự hỏi làm thế nào chúng ta có thể xây đắp được nền tảng tự do cho mình. Thiên Chúa vốn là sự quyết định vĩnh hằng và tự do để yêu mến thì cũng một trật là sự quyết định trở nên Đấng tác tạo. Ngài không tạo nên cái đã hoàn tất mà Ngài dựng nên những bản tính tự do vốn tự tạo nên chính mình. Điều đó sẽ phải có những quá trình với nhiều đau khổ và mò mẫm. Tự do thì được xây đắp trong đêm tối, trong sa mạc và đây chính là cái cao cả của con người. Thật rất khó khăn, cái ngôn ngữ của Tình yêu. Khi Thiên Chúa quyết định là Tình yêu tác tạo, Ngài sẵn sàng trở nên dễ bị thương tích, có nguy cơ bị thật bại trong tạo dựng của mình, điều mà người Do thái đã quá hiểu biết, như chúng ta sẽ nói đến trong bài sau đây. Hallây đã cảm thấy điều đó: một Thiên Chúa nói chuyện với chính mình, thật tuyệt đấy, nhưng nói chuyện với mình bằng cách nào? Người ta nói rằng Chúa Thánh Thần có trước Chúa Cha và Chúa Con; đây là một tín điều. Nhưng Đức Kitô đã bị đóng đinh và sách Khải huyền nói về: “Chiên Con bị giết chết ngay từ khi bắt đầu có thể giới”[15]

Hành động tạo dựng bao hàm việc giết chết Chiên Con, nghĩa là Thập giá của Đức Kitô. Tôi nghĩ rằng Chúa Thánh Thần có trước cuộc đối thoại mạnh mẽ này của Chúa Cha và Chúa Con khi các Ngài chấp nhận cái nguy cơ của việc tạo dựng.

Thiên Chúa của Mahomet không thể là một Thiên Chúa phải đau khổ. Đối với ông, nói về một Thiên Chúa phải đau khổ theo tôi hiểu, đó là một sự phạm thượng. Ông bị bó buộc đứng trước một Thiên Chúa, như đứng trước một sự thanh bình tuyệt đối, và nhất thiết là hay thương xót, luôn đón nhận các tôi trung của Ngài vào trong vòng tay của mình, luôn nâng đỡ và dẫn dắt con người. Đây không thể là một Thiên Chúa phải đau khổ vì chính mình. Từ quan điểm này, người Hồi giáo sẽ không bao giờ có thể kết hợp sự khôn ngoan rất tuyệt vời với lời cầu nguyện rất ngây thơ: “Tôi không muốn làm buồn lòng cho Thiên Chúa Đấng tốt lành”. Động cơ duy nhất của tôi để sống cho tốt, động cơ cao cả nhất của tôi là làm sao để Thiên Chúa không phải đau khổ khi Ngài thấy tôi sống tầm thường. Đây chính là sự ban cho nhưng không. Người Hồi giáo không thể tưởng tượng một Thiên Chúa phải đau khổ và họ cũng không thể tưởng tượng một Thiên Chúa phải khiêm hạ, một Thiên Chúa phải lệ thuộc.

Nếu người ta lý luận với quan niệm của bản tính tự nhiên, thì rõ ràng bản tính tự nhiên của Thiên Chúa là trọn hảo và sự trọn hảo lại loại trừ sự đau khổ. Nhưng nếu Thiên Chúa chỉ là Tình yêu, thì chính sự thiếu vắng đau khổ lại là sự bất toàn hảo. Bởi yêu mà không đau khổ vì sự tầm thường hay sự đau khổ của người mình yêu quả là cái gì quá ghê tởm. Người mẹ mà không đau khổ vì nỗi bất hạnh hay sự thất bại của con cái mình thì cũng thật là một cái gì quá ghê tởm. Trong Kitô giáo, sự Nhập Thể giúp chúng ta nghĩ rằng, không những Đức Kitô đã đau khổ và đã chết trên Thập giá, mà cũng có một sự đau khổ vĩnh hằng của Chúa Cha và sự đau khổ của Chúa Thánh Thần.

Cái khó khăn, hay đúng hơn sự mầu nhiệm, là nỗi đau khổ kia không làm giảm đi niềm vui của Thiên Chúa, nhưng là một thành phần của niềm vui của Ngài, điều mà chúng ta có thể hoàn toàn kiểm chứng từ một vài kiểm nghiệm rất tinh tế khi chúng ta đau khổ vì người mình yêu, lúc đó, có thể nói như nỗi đau khổ đó là một thành phần của niềm hoan lạc.


[11] Cha Varillon thường trích dẫn rõ ràng về Kinh Thánh hay Kinh Coran hoặc nêu lên một số trích đoạn trong các sách đó, nhưng lại không đưa ra một qui chiếu nào. Chúng tôi đã nghĩ đến việc đưa ra những qui chiếu chủ yếu để phục vụ các độc giả, nhưng cũng cố gắng để không làm cho bản văn ra nặng nề.

[12] Mahomet sinh tại La Mecque vào khoảng năm 571, qua đời tại Médine năm 632

[13] “… như thánh Gioan đã nói”, cha Varilon thêm vào khi đối chiếu với 1Ga 4,29: “Nếu kẻ nào nói: “Tôi yêu Chúa” mà lại ghét anh em mình, thì nó là kẻ nói dối”.

[14] Cha Varillon sử dụng từ ngữ nguồn gốc như một hình ảnh gợi lên một thực tại đang vọt lên và đang nuôi sống chứ hoàn toàn không phải với ý nghĩa của lý thuyết xưa về “hai nguồn Mạc khải”, làm như Truyền thuyết và Kinh Thánh, mỗi bên đã chứa đựng một phần sự thật được Mạc khải, khác nhau và chuyên nhất. Chính ngài cũng đã nói rõ về quan niệm của ngài trong lúc thuyết trình, ngài nói: “Công đồng Vatican II vừa qua đã nói rõ ràng nguồn gốc của Mạc khải là chính con người của Đức Giêsu Kitô, và rằng cả Thánh Kinh cũng như Thánh Truyền đều không phải là nguồn gốc mà là những nhánh kênh của Mạc khải và từ đó chính con người của Đức Giêsu làn tỏa ra trong lịch sử, như Bossuet đã nói: “(Xem ở trang trên, trang 61. Công đồng Vatican II đã ghi chú điều này: “Thánh Truyền và Thánh Kinh của Cựu ước và Tân ước đều là như một tấm gương để nơi đó Giáo Hội ngắm nhìn Thiên Chúa, trong khi bước đi trên trần thế này, để từ đó Giáo Hội lãnh nhận tất cả cho đến ngày được nhãn tiền thấy Chúa đúng như Ngài hiện hữu”.(Hiến pháp về Mạc khải của Thiên Chúa). Công đồng Tridentino cũng đã nói rằng: “Phúc âm được công bố bởi Đức Giêsu Kitô là nguồn của mọi sự thật Cứu độ và của mọi Lề luật đạo đức”, những Lề luật này “được chứa đựng trong các sách được viết ra và trong các truyền thuyết không được viết ra”. (Sắc Lệnh về việc lãnh nhận các sách thánh và các Thánh Truyền của các Tông đồ).

[15] Cha Varillon luôn đi theo những bản dịch xưa thường được sử dụng của đoạn sách Khải huyền này, nói lên việc thời thần rất rộng lớn trước Con Thú vật đang thống trị trên khắp thế giới: “Và mọi người trên trái đất sẽ thờ lạy nó, tất cả những ai mà tên của họ không được ghi vào trong sách sự sống của Chiên Con đã được hiến tế từ khi thế giới mới được tạo dựng.”. Những bản dịch mới nhất nói rõ “Từ khi thế giới mới được tạo dựng” không phải cho Chiên Con đã bị hiến tế mà cho việc được ghi tên vào trong sách sự sống: “Và họ sẽ thờ lạy Chiên Con, tất cả dân trên trái đất mà tên họ chưa được ghi tên vào, ngay từ ngày đầu của thế giới, trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết” (Thánh Kinh Giêrusalem). Nhưng đây không phải là điều quan trọng, vì suy nghĩ của cha Varillon về sự đau khổ của Thiên Chúa, đã không được thiết lập đúng trên ý nghĩa chú giải của câu trích dẫn Kinh Thánh này, mà ngài sử dụng nó như một minh họa do cái gợi ý rất thi vị của nó. Vào quãng cuộc đời này của ngài, sự đau khổ của Thiên Chúa là một đề tài lớn cho việc nghiên cứu cá nhân của ngài, công trình này vừa là thần học, triết học, mỹ học, tóm lại là linh thiêng và hiện sinh. Trong nhật ký của ngài, sau 1970, ngài luôn trở về với suy nghĩ này vốn trở thành một tư tưởng tiến bộ về thần học, và là tâm điểm của hai cuốn sách chủ lực của ngài L’humilité de Dieu et La souffrance de Dieu (Sự khiêm hạ của Thiên Chúa và Nỗi thống khổ của Ngài), hai cuốn này là đương thời với những bài thuyết trình của ngài về các tôn giáo

1 2 3 4

Comments are closed.

phone-icon