Người Kitô Hữu trước các tôn giáo lớn. Chương III-IV

0

NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC CÁC TÔN GIÁO LỚN

 FRANÇOIS VARILLON UN CHRÉTIEN DEVANT LES GRANDES RELIGIONS

 DO CHARLES EHLINGER DÀN DỰNG VÀ TRÌNH BÀY

CHƯƠNG III: SỰ ĐÓN NHẬN CUỐN TORAH[1]

 Người Do thái của năm 1975, trong lúc đó họ cầu nguyện ở đền thờ, họ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa cuốn sách thánh Torah. Cuốn Torah, đó là cuốn Luật, Luật viết tay, đúng như ông Môisê đã lãnh nhận vào những thời xa xưa ở chân núi Sinai. Để người Do thái hôm nay, đến phiên mình, lại “nhận lãnh” nó, nên họ đã đến đền thờ. Hành động lãnh nhận là cử chỉ phụng tự ban đầu và cơ bản của họ. Từ đó, họ muốn mình là nhân chứng vĩnh viên qua các thế kỷ, của một hành động duy nhất trong lịch sử. Biến cố này chính là việc Thiên Chúa lựa chọn một dân tộc, một đất nước, với mục đích vực dậy, hay người ta có thể nói với mục đích Cứu chuộc toàn thể nhân loại. Cho dù tâm thức người Do thái đã tiến triển như thế nào từ thời nguyên thủy đến ngày nay, cho dù những khác biệt được biểu lộ hôm nay trong dân Do thái, ngay cả ở phương diện tôn giáo, nhưng vẫn có một điểm trụ rất mạnh mẽ: cuốn Torah, cuốn Luật hay cuốn Thuyết giáo (chữ Torah có nghĩa là Thuyết giáo), được Thiên Chúa trao cho ông Môisê, nó phải là nền tảng của tất cả đời sống Do thái giáo. Bởi nó là ý nghĩa duy nhất và đích thực của ý muốn Thiên Chúa. Nên phải ngày đêm thăm dò để khám phá ra những sự phong phú cao siêu được che giấu trong đó. Và người ta vẫn có thể, vẫn cần thiết phải vượt qua cả nghĩa đen của từng chữ để đạt tới một sự hiệp thông thân tình với Thiên Chúa. Và cũng chính vì thế mà đã có một khoa thần bí Do thái. Nhưng việc vượt qua nghĩa đen thực hiện trong tâm trí, sẽ luôn đi kèm với một sự tuân giữ thật tỷ mỉ cái nghĩa đen đó. Sách Torah vẫn là nền tảng, tâm điểm và đỉnh điểm. Về vấn đề này, không có gì để phân biệt giữa thời kỳ Kinh Thánh và thời kỳ sau Kinh Thánh của Israel. Israel luôn luôn là và vẫn là thời điểm Kinh Thánh.

Đền Thờ đầu tiên của Giêrusalem đã bị vua nước Babilon tên là Nabukôđônôso phá hủy vào năm 587. Cũng trên miếng đất này người ta đã xây một Đền Thời thứ hai vào giữa những năm 520 và 515. Đền Thờ thứ hai này, đến lượt nó, lại bị phá bởi người La mã vào năm 70 sau Đức Giêsu Kitô. Chính bắt đầu từ đây mà việc phụng tự tại nhà thờ được thay cho việc phụng tự tại Đền Thờ và lời cầu nguyện thay cho lễ vật hy sinh. Yếu tố nguyên thủy nhất của lời cầu nguyện nơi nhà thờ, và được duy trì, đó là bài đọc Ngũ Thư (Pentateuque), quả thật, đây là cuốn Torah đúng nghĩa của nó mà người Do thái phân biệt những bài viết của các tiên tri với các bài viết khác. Chính chung quanh bài đọc Ngũ Thư này mà dần dần người ta triển khai một chuỗi những lời nguyện làm nên phụng vụ của nhà thờ, chúng được coi như những viên đá quí ở chung quanh một viên ngọc châu báu.

Người Do thái không quên rằng Kinh Torah của họ đã được Thiên Chúa trao ban cho Israel như là dân tộc, như là cộng đoàn. Nên điều cần thiết cho lời nguyện Do thái phải có tính cộng đồng, do đó có tính phụng vụ. Nếu người Do thái có những quan hệ cá nhân với Thiên Chúa của họ, thì luôn phải là qua cộng đoàn mà họ thiết lập những quan hệ đó. Thiên Chúa mà họ thờ là Thiên Chúa của Israel. Tình cảm liên đới luôn giữ ưu thế trên tình cảm cá nhân. Cá nhân phải được xóa đi khi đứng trước dân tộc. Do đó, trong Do thái giáo lời cầu nguyện cá nhân, nhất là lời cầu xin, chỉ mới xuất hiện đây thôi. Nó được triển khai do ảnh hưởng của một vài luồng tư tưởng thần bí, nhưng nó chiếm một vị tjrí rất hạn hẹp trong phụng vụ chính thức.

Trạng thái có tính cộng đồng của lời cầu nguyện Do thái thì rất đặc biệt gây ấn tượng nhất là trong lời cầu nguyện phạt tạ. Trong khi đó, ở đa số các tôn giáo khác, thì chính cá nhân nhận biết mình là kẻ có tội.

Họ nói confiteor nghĩa là: Tôi thú nhận.

Trong Do thái giáo thì chính cả dân tộc đúng như họ đang hiện hữu, tự nhận là có tội, đây chính là cả dân tộc mang tội của các cá nhân.

Người Do thái nói Confitemur, chúng tôi thú nhận.

Sự liên đới trong không gian này còn đi kèm với một sự liên đới trong không gian. Đây là một thánh sử duy nhất cứ tiếp diễn từ thời nguyên thủy, không có gián đoạn. Thánh sử là cả một khối không thể tách rời. Những tình cảm thổ lộ cũng luôn như nhau. Phụng vụ Do thái thực hiện một sự hiệp thông thực sự như vậy giữa mọi thế hệ của dân tộc ngày nay, ngang qua những điểm nổi bật của lịch sử Do thái. Cũng nên ghi nhớ cẩn thận điều này: là phụng vụ này không mang tính “lịch sử” trong cái nghĩa là nó phải bám víu những sự việc của một thời đại khác đã qua từ lâu và thiếu thời sự. Sức mạnh to lớn của nó chính là không ngừng thời sự hóa cái quá khứ đó: tất cả những gì mà Israel đã làm và tất cả những gì nó sẽ làm cho đến tận thế đang được định vị trên cùng một bố cục, các bố cục của việc tiến bước không ngừng dưới sự hướng dẫn của sách Torah, giới luật của Chúa đời đời vẫn là “thời sự”, một thời sự có bề dày không thể di chuyển.

 PHỤNG VỤ CỦA NHÀ THỜ (SYNAGOGUE)

 Đi vào một vài chi tiết của phụng vụ nhà thờ cũng không phải là điều vô ích. Trong một tinh thần đại kết thì cũng nên biết hiện nay người giáo sĩ Do thái cầu nguyện thế nào.

Những buổi hội họp cầu nguyện – đọc bản kinh Ngũ Thư – đều được thực hiện vào các ngày Sabath trong năm, những ngày lễ, những người trăng non (nghĩa là những ngày trăng mới bắt đầu mọc), những ngày ăn chay và các ngày thứ hai và thứ năm.

Bài đọc ngày Sabath của sách Torah ngày nay được thực hiện theo chu kỳ một năm là 54 đoạn, những đoạn này được viết tay trên một cuộn giấy da và theo những luật lệ tỷ mỉ được ấn định bởi truyền thống. Bài đọc này được kế tiếp bằng một bài đọc khác, của một tiên tri và gọi là “bài kết”.

Hai bài đọc này xoay quanh bằng những lời cầu nguyện, vốn cũng được lấy trong Kinh Thánh. Trước khi lấy những cuộn giấy được lấy trong một hộp như nhà tạm ra, mà người ta gọi là “L’Arche sainte”(Hòm thánh), nó thường được đục sâu trong tường phía đông của nhà thờ, người ta đọc câu này trong sách Dân số: “Khi Hòm Giao ước đi, thì Môisê nói rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin trỗi dậy, để kẻ thù nghịch Ngài bị tản lạc và kẻ nào ghét Ngài chạy trốn trước mặt Ngài!” (Dân số 10,35). Sau đó, người ta đọc thêm câu này trong sách Êsai: “Vì Luật pháp (Torah) sẽ ra từ Si-on, lời Đức Giê-hô-va sẽ ra từ Giêrusalem” (Êsai 2,3).

Những ngày lễ lớn, người ta ghép vào đây bài đọc rất trịnh trọng, lặp lại ba lần, những đức tính của Thiên Chúa được Mạc khải cho Môisê trên núi Sinai (Sách Xuất Hành 34,6-7): “Thiên Chúa từ bi nhân hậu, nhẫn nại, đầy lòng lân tuất và chân chính! Chúa thương xót muôn vàn người, Chúa tha thứ gian ác, trọng tội và tội lỗi, nhưng chẳng ai được kể là vô tội trước mặt Chúa nhưng lại tha thứ và cho trở nên trong sạch”. Rồi vị chủ tế mời cộng đoàn bước đi kiệu với cuộn giấy tới chỗ bục đọc. Trong lúc đi kiệu này, người ta cảm tạ Chúa đã trao ban cuốn Torah cho dân Ngài: “Mọi người cùng nhau, hãy tán dương Thiên Chúa, chúng ta muốn ca tụng Danh Ngài”. Rồi người ta còn tiếp: “Xin Cha của lòng thương xót, thương đến dân của Ngài, xin Ngài che chở nó và nhớ đến Giao ước của Ngài với các Tổ phụ, xin Ngài giải cứu linh hồn chúng tôi khỏi mọi sự dữ, xin Ngài tránh những chiều hướng xấu cho những ai mang chúng trên mình như đôi cánh của họ vậy. Xin Ngài ban ơn xuống để nâng đỡ chúng tôi mãi mãi, và xin Ngài lấp đầy những mong ước của chúng tôi để từ đó đem đến cho chúng tôi ơn Cứu độ và lòng xót thương.”

Sau đó người ta đọc lời chúc lành trên cuốn Torah rồi người ta bắt đầu bài đọc. Khi đọc xong, người ta nâng cuộn giấy lên để cho các tín đồ xem (giống như Linh mục Công Giáo nâng Bánh Thánh lên) và các tín đồ đồng thanh ca tụng bằng câu: “Đây là cuốn Torah mà Môisê đã đặt trước mặt con cái Israel, đúng như lệnh truyền của Chúa qua trung gian Môisê. Đây là cây của sự sống cho những ai cầm vào, và ai dựa vào đó thì được nên dồi dào phong phú”.

Buổi lễ kết thúc bằng một lời nguyện tổng kết gọi là ‘aleynû. Nó rất quan trọng vì nó đánh dấu rất rõ là, nếu Israel đã được chọn bởi Thiên Chúa, thì không phải cho riêng nó; sự lựa chọn chỉ là một ưu đãi nếu nó bao hàm một sứ mạng; dân Do thái chỉ là một dụng cụ cho lợi ích của toàn thể nhân loại. Từ thế kỷ XIII, ‘aleynû luôn chấm dứt mọi phụng vụ của nhà thờ, không một ngoại trừ nào. Đây là lời nguyện đó: “Chính chúng ta là những người phải làm vinh danh Chúa của mọi loài mọi vật, phải ca ngợi sự cao cả của Đấng tạo dựng thế giới, bởi Ngài đã không tạo dựng chúng ta như những dân tộc của các dân tộc của các đất nước khác; bởi Ngài đã không thể cho phần chúng ta ra giống như họ và số phận chúng ta không giống như muôn vàn kẻ khác”. Hồi xưa, vào lúc này, người ta còn đọc một đoạn sách, nhưng vào thời Trung cố người ta đã bỏ không đọc nữa. Bản văn viết tiếp: “Phần chúng tôi, chúng tôi cúi đầu và chúng tôi sấp mình và chúng tôi tuyên xưng, trước Đức Vua trên hết các vua. Đấng Thánh tràn đầy ân phúc, rằng chính Ngài đã dựng nên các tầng trời và đã đổ nền móng cho trái đất (x. Isai 31,13), và ngai vàng của uy quyền Ngài thì ngự trên các tầng trời cao nấht và quyền lực của Ngài ngự trên chóp đỉnh của các chiều cao. Chính Ngài là Thiên Chúa chúng ta chứ không phải ai khác. Ngài là Vua đích thực của chúng ta, ngoài ra không có một vua nào khác, như đã viết trong cuốn Torah của Ngài. (x. Đệ Nhị Luật 4,39): “Vậy nay anh em hãy nhận biết và thực lòng ghi nhớ trên trời dưới đất duy có mình Chúa chính là Thiên Chúa, không phải vị nào khác đâu”. “Vì thế chúng tôi hy vọng vào Ngài, lạy Chúa là Thiên Chúa chúng tôi; chúng tôi hy vọng sắp được thấy uy danh của quyền lực Ngài để các thần tượng của trái đất này tan biến đi và mọi thần khí giả mạo đều bị tiêu diệt hết. Chúng tôi hy vọng rằng thế giới sẽ được dựng nên bởi hành động của Đấng Toàn Năng và cả loài xác phàm đều kêu lên danh Ngài. Bởi đã có lời viết (x. Dacaria 14,9): “Rồi Thiên Chúa sẽ làm Vua khắp địa cầu: trong thời này, chỉ có Chúa là duy nhất và Danh Ngài cũng duy nhất”. Đó là những hàng chính yếu, lời cầu nguyện Do thái.

Ý NGHĨA CỦA LỀ LUẬT VÀ LINH ĐẠO

 Một câu hỏi được đặt ra ngay sau: lời cầu nguyện này có một giá trị về mặt tinh thần đích thực không? Nó có nói lên một niềm tin nội tại mong ước được hiệp nhất với Thiên Chúa? Hoặc là, sự gắn bó với Lề luật có biểu lộ một chủ nghĩa duy luật, nghĩa là một sự lo lắng triệt để giữ luật mà không cần có tinh thần? Chủ nghĩa duy luật, hay, người ta còn nói, chủ nghĩa bảo thủ, một sự trung thành vật chất đi đến tỷ mỉ, một việc làm hoàn toàn ngoại tại mà không có một chút nội tại thực sự: đó là điều người ta thường thấy lấy làm tiếc cho sự linh đạo Do thái. Tóm lại, đó là một linh đạo không có linh thiêng.

Chúng ta phải nghe ở đây, chính những người Do thái, và nhất là những người lỗi lạc nhất, những người vốn nhạy cảm về một lời trách móc nào đó. Cũng như Péguy đã nói: “Những cuộc tranh luận chỉ có hiệu lực khi được tranh cãi ở những chiều cao”. Muốn biết chủ nghĩa mác xít là gì thì đừng hỏi ở những người cấp dưới ở các khu phố. Muốn biết đạo Kitô là gì, đừng có tin vào lời những người ở khu xóm giáo, họ có thể tự trách mình đã không đi lễ ngày Chủ nhật, nhưng lại không bao giờ hiểu rằng việc thông phần vào lễ vật hy sinh của Đức Kitô bao hàm một chủ trương hành động hòa giải giữa loài người. Tôi đề nghị các bạn hãy nghe Abraham Heschel, giáo sư thần học đạo đức và thần bí của một đại chủng viện Do thái, nói về người Do thái. Ông cùng với André Neher, giáo sư tại Strasbourg, là một trong những triết gia và nhà thần học về Do thái đương thời nổi tiếng nhất. Cuốn sách của ông Dieu en quête de l’homme (Thiên Chúa tìm kiếm con người), bản gốc được xuất hiện vào năm 1955, đã được xuất bản sang bản dịch ra Pháp với NXB Le Seuil năm 1968. Một lát nữa, chúng ta sẽ nghe ông nói.

 SÁU TỪ NGỮ CHÌA KHÓA

 Để theo dõi những tư tưởng này, trước hết chúng ta nên làm quen với sáu từ ngữ chìa khóa: Torah, Misha, Ghemara, Talmud, Halakha, Haggada.

Chúng ta đã biết từ ngữ Torah, Lề luật viết tay. Nhưng cũng còn một Lề luật khẩu truyền. Lề luật khẩu truyền này là một lời dạy mang một số những chỉ dẫn cần thiết để thực hành những điều luật viết trong cuốn Luật. Truyền thống Do thái cho những lời chỉ dẫn này có nguồn gốc từ ông Môisê, nó được truyền khẩu từ đời này sang đời kia, nó được viết ra vào khoảng năm 200 của thời đại chúng ta, và nó được đặt tên là Mishma. Vậy thì Torah là Luật viết tay, còn Mishma là Luật truyền khẩu. Nhưng Mishma lại được chú giải trong các trường đào tạo giáo trưởng (écoles rabbiniques). Toàn bộ những lời chú giải này gọi là Ghemara. Ghemara được tập hợp với Mishma làm thành Talmud, bài viết cuối cùng này được hoàn tất vào cuối thế kỷ V.

Chúng ta còn phải biết hai từ ngữ khác nữa là Halakka và Haggada.

Haggada là lời giải thích theo luật hay nệ nghi thức của các bản văn Kinh Thánh. Để hiểu cái gì là một lời giải thích theo luật, một người Công Giáo có thể nghĩ tới những vấn đề mà người ta đặt ra hồi trước trong Hội Thánh về việc ăn chay hay giữ chay trước khi rước lễ: ăn một chút bánh bích quy với một chén trà vào lúc 4 giờ sáng, có còn là giữ chay không? Có được uống thuốc trước khi rước lễ?

Haggada là lời giải thích có tính linh thiêng hay có tính xây dựng của những bản văn Kinh Thánh. Người ta có thể nghĩ tới một tuyển tập bài giảng, ở đây các bản văn Kinh Thánh được cắt nghĩa theo sự tiến triển về mặt tinh thần và đạo đức của các tín đồ.

 DO THÁI GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO DUY LUẬT

 Bây giờ chúng ta hãy nghe giáo sư Heschel chống cự một cách mạnh mẽ những lời phê bình rất thường xảy ra đối với Do thái giáo, cho là duy luật, bảo thủ hay nệ hình thức. Ông nói: người ta cho rằng “trong Do thái giáo, ý muốn của Thiên Chúa phải được thực hiện bằng một cách duy nhất là hành động bề ngoài. Sự sùng kính nội tại sẽ không đặc biệt là tính cách của Do thái; rằng Do thái giáo quan tâm đến các hành động mà không quan tâm đến các ý tưởng; rằng tất cả những gì họ đòi hỏi, đó là sự vâng phục hoàn toàn các qui chế tôn giáo. Như vậy, Do thái giáo được thiết lập… bằng Lề luật, bằng hành động, bằng các sự việc; họ thiếu chiều sâu của nhân vị con người… Vẫn có thể có một kỷ luật, một truyền thống, và những tuân giữ Lề luật; nhưng không bao giờ có cảm nghiệm tôn giáo, cũng không có tư tưởng tôn giáo. Niềm tin không quan trọng mấy, chỉ cần người ta giữ luật. Làm như điều duy nhất quan trọng là phong cách thể lý của con người; làm như Thiên Chúa không quan tâm đến sự sống nội tâm”. Trong những trường hợp này, Do thái giáo sẽ chỉ là một “thể lý được thánh hiến” (physique sacréc). Nó sẽ hoàn toàn vâng phục sự tôn kính truyền thống; người ta sẽ tuân giữ các nghi thức, người ta sẽ tham dự các việc phụng tự chỉ vì kính nể những gì tổ tiên để lại. Thần học Do thái sẽ là một thần học của sự kính trọng. Sẽ không có sự bộc phát, mà chỉ là một sự tuân thủ cứng ngắc.

Để mở ngoặc, chúng ta hãy để ý rằng chính vì thế mà trong Giáo Hội Công Giáo, người ta nói rằng một số người Kitô, vốn có cái não trạng kia, thì họ là người Do thái hơn là người Kitô. Tuy thế, một cách mâu thuẫn, những người Kitô này mà người ta nói họ là người Do thái hơn là người Kitô, lại là những người bài Do thái một cách khủng khiếp. Sự thật thì, họ chẳng phải là người Do thái cũng chẳng phải người Kitô. chúng ta hãy đóng ngoặc ở đây.

Abraham Heschel viết một trang rất mạnh mẽ về vấn đề này, ông nói: “Cho dù nguyên lý của việc “tôn trọng truyền thống” có khôn ngoan đến đâu, chủ yếu đến đâu, sáng tạo đến đâu, thì việc đưa nó lên một yếu tố cao cả của niềm tin là một hình thức lố bịch và hạ cấp. Chúng ta không chấp nhận một hình thức này hay hình thức khác đặc biệt phải tuân giữ vì lý do tính chất cổ đại xa xưa của nó, bởi những di vật của quá khứ thì ít đáng kính hơn là những việc ngông cuồng của hiện tại”. Dưới cái nhìn của ông, thì nó hoàn toàn sai khi sự tôn trọng vô điều kiện đối với quá khứ lại là chính yếu của Do thái giáo: Do thái giáo đã thật sự bắt đầu khi Abraham đã cắt đứt với truyền thống và đã vứt bỏ quá khứ. Quả thật, cầu đầu tiên mà Abraham đã nghe là “egredere” hãy ra khỏi đây và đến với Ta ở một chỗ khác.

Đối với Heschel, chính là Spinoza và Moise Mendelsohn (nhà triết học, ông nội của người viết) đều đã loan truyền ý tưởng là không có tri thức cũng không có tinh thần trong Do thái giáo.

“Học thuyết của Thánh Kinh, Spinoza viết, không phải là một triết lý nếu nó không có sự tự biện,mà chỉ có những sự thật rất đơn giản, để có thể dễ dàng nhận ra được bởi những đầu óc chậm chạp… Đúng vậy, tôi sẽ rất ngạc nhiên để thấy rằng những tiên tri có thể đã giảng dạy một cái gì mới trong trật tự của sự tự biện, một cái gì đã không phải là chung cho triết lý của những người ngoại đạo… Những người Do thái trước đây hầu như không biết gì về Thiên Chúa, cho dù Ngài đã tự Mạc khải cho họ”. Cũng có thể họ “đã có một vài khái niệm lành mạnh về Thiên Chúa hoặc là Môisê đã dạy cho họ những gì đó khác hơn là một mẫu mực sống công chính… Do đó, mẫu mực sống công chính, phụng tự và Tình yêu Thiên Chúa đối với họ, là một gánh nặng hơn là tự do thật sự”. Cũng chính vì thế, đối với Spinoza, điều mà Kinh Thánh chứa đựng, không phải là một tôn giáo mà một Luật lệ, và với tính cách chính trị hơn là tôn giáo thực sự.

Còn về Mendelsohn, ông lại viết: “Do thái giáo không phải là một tôn giáo được Mạc khải, đó chỉ là một pháp chế được Mạc khải. Hoặc là: “Tinh thần của Do thái giáo là tự do đối với học thuyết và tuân thủ trong lãnh vực hành động”.

 LỀ LUẬT VÀ TÌNH YÊU

 Nếu Do thái là Lề luật và không gì khác nữa, thì cũng phải giải thích nó cho hợp pháp. Vậy thì Halakka đang đi đúng đường của Do thái giáo; còn Haggada thì không.

Còn Heschel, ngược lại, coi Haggada là chính yếu. Bởi Do thái giáo không phải là một sự triệt để tuân theo qui chế tôn giáo. Các điều lệ để tuân thủ chỉ là luật theo hình thức, nhưng tình yêu mới là yếu chất. “Ngươi hãy yêu Thiên Chúa là Chúa của người, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực của ngươi”, sách Đệ Nhị Luật nói thế (6,5; x. 10,12) và sách Lêvi nói: “Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình”(19,18). Vậy thì chính sự trong sạch của tâm hồn là chính tâm can của Kinh Thánh: “Hãy tạo cho con một trái tim trong sạch” (Tv 51).

Còn Kinh Torah chứa đựng cả Lề luật và cả tình yêu. Lề luật là cái nâng đỡ cho thế giới; nhưng tình yêu là cái làm cho nó chuyển động. Lề luật là phương tiện, nó không phải là cứu cánh. Nó là con đường, nó không phải là mục đích. Kinh Torah là sự hướng tới một cứu cánh nhờ bởi một Lề luật. Nó vừa là thị kiến vừa là Lề luật. Con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa được mời gọi tái tạo nên thế giới theo hình ảnh của thị kiến về Thiên Chúa. chính vì thế mà Haggada cũng quan trọng như Halakka, chúng có liên hệ với nhau như thân xác với linh hồn. Thánh Kinh phải được giải thích vừa với tính hợp pháp vừa với tính thiêng liêng. Bài giảng tinh thần thì không kém quan trọng bằng sự hiểu biết về Lề luật từng chi tiết một. Vì thế, mà người Do thái luôn phải học hỏi Haggada cũng như học hỏi Halakka. Người Do thái tin rằng vào ngày phán xét, họ phải tính sổ vì đã không học hỏi Haggada.

Heschel, tuy nhiên công nhận rằng người Do thái không phải lúc nào cũng gắn cho Haggada tất cả tầm quan trọng mà nó phải có. Theo ông thì lỗi là ở tại những người dịch tiếng Hylạp của Kinh Thánh đã dịch chữ Torah thành chữ Nomos, có nghĩa là luật. Họ đã tạo nên một sự hiểu lầm rất lớn về gốc chữ, họ đã chế ra một cái roi để đánh những người Do thái bằng cách tặng một vũ khí cho tất cả những người thù địch của Do thái giáo. Đáng lẽ họ phải dịch chữ Torah là chữ giảng huấn. Còn về chữ Mitsvah, nó cũng vậy, không có nghĩa là toàn thể Do thái giáo. Mitsvah có nghĩa là điều luật: Trước khi chấp nhận điều luật của Thiên Chúa thì phải chấp nhận Thiên Chúa đã. Chính vì thế đó mà ngay ở đầu Mười điều răn có câu này: “Ta là Thiên Chúa ngươi” (Xh 20,1; Dnl 5,6).

 NGHĨA ĐEN VÀ TINH THẦN

 Những chương sách của Heschel, được đúc kết ở đây, nói lên một sự cố gắng to lớn để thiết lập sự quân bình giữa nghĩa đen và tinh thần luôn luôn bị đe dọa tại Israel, cũng như trong mọi tôn giáo. Sự đe dọa này chắc hẳn đối với Israel thì mạnh hơn là đối với các tôn giáo khác, bởi sứ mạng của nó, từ nguyên thủy đã là làm chứng nhân của Thiên Chúa duy nhất ở giữa các dân ngoại. Nó phải cần đến một cái rào cản cao đủ và thờ thần vốn luôn có nguy cơ làm nó trở nên đồi bại và lôi kéo nó ra khỏi sứ mạng của nó. Chính các thầy dạy Mishna (Luật truyền khẩu) đã dùng chữ “rào cản” hay, đúng hơn, chữ “hàng rào”. Hàng rào này, đó là những giới luật của Torah. Thiên Chúa đã áp đặt chúng đi đôi với việc lựa chọn Israel. Dân được chọn, dân được tách riêng ra. Thế này hay thế kia, nhìn chung đều thấy là một sứ mạng phổ quát. Sự quân bình giữa nghĩa đen và tinh thần vì thế rất khó, và không lạ gì nếu dọc theo lịch sử, Israel luôn vẫn không thể đứng vững ở đó. Nó đã chao đảo giữa một sự nệ luật quá đáng với nguy cơ đứng trong một khuôn khổ cứng ngắc với những tuân thủ ít nhiều xơ cứng và thiếu sự sống có chiều sâu, và một linh đạo ít nhiều tách khỏi cái khung vật chất của những tuân thủ và trong tình trạng kéo dài sẽ có nguy cơ làm cho dân Chúa mất đi những giá trị tôn giáo đặc trưng của nó.

Nghĩa đen và tinh thần, Halakka và Haggada… chúng ta hãy nghe Abraham Heschel nói về sự hỗ tương của chúng.

Đời sống nội tâm của các giáo trưởng cũng không có gì là quá “giản đơn hay tình tứ lắm. Tư tưởng của họ (tư tưởng Do thái) chỉ có thể hiểu được cho đúng đắn khi nó biến chuyển theo một sự đối đầu với khả năng thụ cảm và sự bộc phát của họ, giữa Halakka và Haggada. Halakka có một sức mạnh làm mẫu mực cho đời sống theo một chuẩn mực nhất định; nó là một sức mạnh sáng tạo. Haggada là sự biểu hiện của một số cố gắng không ngừng của con người, một cố gắng mà nhiều khi không chấp nhận một giới hạn nào. Còn Halakka là sự hợp lý hóa và sự đơn giản hóa của cuộc sống, nó quyết định và nó chỉ định rõ, nó áp đặt, mức độ và giới hạn, nó đặt để cuộc sống vào trong khuôn khổ của một hệ thống chính xác. Haggada bàn về những quan hệ khôn tả của con người với Thiên Chúa, với tha nhân và với thế giới. Halakka bàn về những Lề luật; Haggada về tinh thần của Lề luật. Halakka về những chủ đề mà người ta có thể diễn tả bằng lời; Halakka làm cho chúng ta đi sâu vào một thế giới vượt lên mọi lời nói. Halakka dạy cho chúng ta thực hiện những việc làm bình thường. Haggada bảo chúng ta đem đến cho chúng ta kiến thức; Haggada cho chúng ta sự cảm hứng.

“Halakka suy tư theo hình thức số lượng; Haggada thì theo chất lượng. Haggada bênh vực lập luận: “Kẻ nào giải cứu được một cuộc sống nhân loại, thì như chính nó đã giải cứu toàn thể nhân loại”. Đối với kẻ nào đặt số lượng lên trên hết, thì họ coi một người là ở dưới hai người; nhưng trước mặt Thiên Chúa thì một cuộc sống cũng có giá trị bằng tất cả mọi cuộc sống. Halakka nói về những chiều kích các hành động của chúng ta mà người ta có thể đánh giá và đo lường, nó dạy cho chúng ta đâu là khối lượng hay chất lượng mà một hành động phải có. Nhưng Haggada bàn về cái vô biên, cái nội giới của sự hiện hữu; nó dạy về cái chất lượng mà suy tư và tình cảm phải có, cái chất lượng chứ khám phải số lượng cần thiết cho việc bổn phận phải hoàn toàn”. Do thái giáo là “gia sản của Haggada gắn với một hệ thống của Halakka”. Nghĩa đen mà không tinh thần, Heschel nói, đó là một thứ đạo đức ngu dốt, đó là sự vâng phục làm cho sự bộc phát của đời sống nội tâm trở nên một điều ngu xuẩn.

 HAI DẠNG THỨC CỦA CUỘC SỐNG DO THÁI.

 Nói cách khác, “Halakka là một giải đáp cho câu hỏi Thiên Chúa muốn gì ở tôi? Ngay từ khi câu hỏi này không còn hiện hữu trong tâm can con người nữa thì câu trả lời mất hết ý nghĩa. Vậy câu hỏi này thuộc lãnh vực của Haggada, nó bộc phát và có tính cá nhân; nó là một sự trào vọt của trực giác, của ước muốn và của niềm tin; nó không phải của ban tặng, nó đến bất chợt. Vai trò của nền giáo dục về tôn giáo là nền giáo dục của một người hộ sinh: nó làm nảy sinh ra câu hỏi”. Heschel nhìn nhận rằng nhiều thầy dạy người Do thái – người ta cũng có thể nói như vậy đối với người Kitô – có cái thiếu sót ở chỗ không biết gì về vai trò cốt yếu của vấn đề, họ đi tìm những lý do chống chế cho sự khô khan nguội lạnh của họ. Nhưng tâm hồn con người chẳng bao giờ được bình yên; nó luôn trương đầy những vấn đề, ngay cả khi nó không có khả năng diễn tả chúng bằng lời. Những vấn đề này liên quan đến ý nghĩa của sự hiện hữu: tôi là ai? Và tôi phải làm gì? Cần phải giúp cho linh hồn phát sinh ra được câu hỏi về ý nghĩa; đó là vai trò của Haggada; nó ngăn ngừa những hình dáng giả tạo của tinh thần. Vì thế, Heschel kết luận, bởi không có niềm tin, Lề luật không còn ý nghĩa. Trước hết phải là tinh thần.

Nhưng nghĩa đen, nghĩa đen của Lề luật, thì cần thiết cho tinh thần để nó không bị tan rã trong giấc mộng. Heschel quả là rõ ràng: “Chỉ bằng đời sống nội tâm linh thiêng thôi, ông nói, thì chúng ta không thể đến gần với Thiên Chúa được… Đời sống duy tâm thì tốt cho các thiên thần, chứ không phải cho con người”. Tinh thần chỉ có thể được kiện toàn trong xác phàm và bởi xác phàm. “Tinh thần là hiện trường của quyết định, nhưng đó chính là sự sống, sự sống toàn diện vốn làm nên cái được thua của tinh thần. Để nâng miệng lưỡi và bàn tay chúng ta lên tới mức thánh thiêng, chúng ta phải có những phương thế sư phạm phi thường”. Chính Lề luật cho chúng ta những phương thế đó, ban cho chúng ta sư phạm đó. Vậy thì người Do thái không thể không muốn mình trung thành với Lề luật.

Đó chính là hai dạng thái của đời sống Do thái: sự bộc phát và kỷ luật, đời sống nội tâm và sự giữ luật (hay các nghi lễ). Heschel nhìn nhận một cách rất trung thực rằng người Do thái thường hay sống trong lo âu, trong mức độ họ bị cám dỗ coi luật hơn là tinh thần. Ông nói: “Trong khi chúng tôi trung thành với hai dạng thái của cuộc sống người Do thái, chúng tôi khám phá rằng thái cực của kỷ luật thì mạnh hơn thái cực của sự bộc phát. Do đó, một nguy hiểm vĩnh viễn sẽ xảy đến cho sự tuân thủ và sự phụng tự của chúng tôi, đó là nỗi nguy hiểm trở thành một thói quen giản đơn và một việc tuân thủ máy móc. Sự chính xác và tính cách đều đặn trong phụng tự Do thái sẽ làm ngột ngạt sự bộc phát của lòng sùng kính của chúng tôi. Vì thế, vấn đề lớn của chúng tôi là ngăn ngừa nguyên lý của kỷ luật (keva) và thay thế cho sức mạnh của bộc phát – (cavanah). Đây là một vấn đề liên quan đến chính tâm điểm của đời sống tôn giáo. Vấn đề này không khó giải quyết hơn là các vấn đề lớn khác của đời sống. Chính quyền tự do con người phải chấp nhận thách thức này và tìm ra một giải đáp cho mỗi hoàn cảnh, cho mỗi ngày của cuộc sống.

MỘT QUÁ TRÌNH DÀI CỦA CÁC PHONG TRÀO TÂM LINH

 Cái trung thực đó của Abraham Heschel, cái mạnh mẽ đó trong xác quyết và, đồng thời, cái âu lo của chủ nghĩa hình thức luôn đe dọa đó giúp chúng ta hiểu được những biến cố hay những pha lịch sử tôn giáo Do thái, mà chúng ta sẽ nói đến trong cuộc gặp gỡ kế tiếp, khi nhấn mạnh về sự trông đợi luôn mãi hiện tại của Đấng Mêsia. Nhưng biến cố này là những đột biến của những trào lưu tư tưởng tâm linh vốn đã được tỏ lộ hầu ngăn cản đạo Do thái sa vào chước cám dỗ của duy luật, khi đạo đó quên rằng nó chỉ là một phương thế để đi đến một cứu cánh khác và nó vốn là sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Quá trình dài này là quá trình của các tiên tri trong Kinh Thánh, của các giáo phái, của pháp thuật (kabbale) và, gần chúng ta hơn, của hai phong trào thần bí Do thái giáo (hassidisme). Các tiên tri Kinh Thánh về hai phong trào thần bí Do thái giáo, đó có thể là tựa đề của một tác phẩm về lịch sử Do thái giáo nhìn dưới góc độ học thuyết và linh đạo.

 TIÊN TRI

 THỊ KIẾN CỦA TIÊN TRI

 Tiên tri là gì? Câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi này nằm gọn trong hai câu này của André Neher: “Cái gì thị kiến và lời của các tiên tri vạch ra cho thấy, đó không phải là tương lai mà là cái tuyệt đối. Lời tiên tri giải đáp cho sự khao khát hiểu biết, nhưng không phải cho sự hiểu biết của ngày mai: sự hiểu biết về Thiên Chúa”. người ta thường hay tưởng tượng rằng tiên tri là một người nói về tương lai, một nhà lấy số tử vi và cho mình nắm được cả khoa học về Thiên Chúa. Đây là một cái nhìn quá thô thiể. Tiên tri chủ yếu là một người nói hộ một người khác, nghĩa là thay cho một người khác; ông là tiếng nói của một người khác, ông truyền lại quan điểm của một người khác. Một người khác đó là Thiên Chúa. Tiên tri Mạc khải ý định của Thiên Chúa trên lịch sử. Ông nói đâu là quan điểm của Thiên Chúa trên sự kiện. Nếu trong khi chuyển dòng tư tưởng, ông báo trước một tương lai, đó là ông phá vỡ cái tầm nhìn hẹp hòi, ngu dốt chỉ nhìn thấy cái trước mắt của con người, để làm biểu hiện ra tầm qui mô của lịch sử, đúng như Thiên Chúa nghĩ về nó. Tiên tri là người nhân danh Thiên Chúa, phản kháng, chống lại sự bỏ quên Thiên Chúa. đối với những ai nói là: “Chính trị trước hết, tiên tri sẽ phản kháng lại: Thiên Chúa trước hết – điều này không có nghĩa là mặt chính trị của sự việc thì không quan trọng; chính trị thì cần thiết, nhưng với điều kiện là nó không được quên rằng cũng có và trước hết là một chính trị về Thiên Chúa, nghĩa là quan điểm của Thiên Chúa về thế giới và lịch sử của nó. Các tiên tri đến trong đất nước Israel khi dân chúng rời xa khỏi những gì đem đến ý nghĩa vĩnh cửu cho những thực tại nhất thời. Và André Rousseax viết: “Các tiên tri xuất hiện khi hơi nóng của sự thật được Mạc khải nguội đi bằng những niềm tin sai trái của những lời lẽ và dối trá, ở đây cái nhất thời lại xây lên những tòa nhà xiêu vẹo. Các tiên tri nổi dậy khi những lầm lạc và những vô kỷ luật của thời đại đã đánh lạc hướng dân chúng mà số mệnh của họ là cái vĩnh hằng. Các tiên tri lên tiếng để nhắc cho họ về Thiên Chúa và nhắc cho Thiên Chúa về họ. Các tiên tri đến để lật đổ những gì mà trật tự giả dối của thời đại đã lập nên, nghĩa là không chỉ những gì là tội lỗi công khai, những gì mang dấu ấn sự sa đọa của giác quan, của trái tim và của tinh thần, mà còn hơn thế, những gì là sự khôn ngoan giả trá bởi tinh thần con người đã tháo bỏ sự thật nội tại, nghĩa là những công việc hư nát của những pháp sư và những người Pharisiêu. Nhà tiên tri vốn nhìn những sự việc tôn giáo trong cái tinh nhuệ của chúng, trong cái tươi sáng và cái sâu sắc của chúng, ông đã nhận lãnh một sứ mạng cá nhân và, do đó, ông chống đối thầy tư tế và thầy cả vốn chỉ coi tôn giáo như một nghề nghiệp nhất là dưới góc cạnh nghi lễ của nó. Ngoài ra, cũng vì thế mà vị trí của tiên tri đương nhiên giống như vị trí của một thứ chống giáo quyền. Các tiên tri cũng nổi dậy chống mọi cái làm biến dạng ảnh hưởng đến đời sống tôn giáo do sự trì trệ hay thói giả hành của các tập quán”.

 TƯƠNG LAI VÀ TIỀN ĐỒ (Le futur et l’avenir)

 Cha Ganne đề nghị một sự phân định rõ ràng để nói lên đâu là sứ mạng của nhà tiên tri. Cha cảnh giác người ta không nên lẫn lộn “tương lai” với “tiền đồ”. Hai cụm từ này, trong sử dụng thông thường, hay trong những sách tự điển, thường hay cho là những chữ đồng nghĩa. Nhưng sự thật, tiền đồ là cả một cái gì khác với tương lai. Hai ví vụ sau đây có thể làm sáng tỏ.

Đây là ví dụ thứ nhất.

Một cặp vợ chồng chưa cưới, người ta thường gọi là vợ chồng tương lai, họ đặt vấn đề một cách lẫn lộn cả về tương lai, cả về tiền đồ. Họ coi như tương lai đã ổn định: nhà cửa, nghề nghiệp và tất cả những cái khác. Nếu cặp vợ chồng tương lai này không quá đãng trí, họ sẽ thấy rằng cái tương lai kia chưa có gì là chắc chắn lắm cho tiền đồ của họ (tiền đồ của Tình yêu nơi họ),tiền đồ mà tình yêu của làm nẩy sinh ra như một thế giới mới, nó vốn trước hết tùy thuộc vào sự trung thành sáng tạo của họ, cho cái tốt nhất hay cái tệ nhất”.

Ví dụ khác là thái độ hiện tại của con người đứng trước sự tiến triển. Trong lịch sử, chắc đây là lần đầu tiên nhân loại phải đối mặt với cái mà người ta gọi là cái sốc của tương lai (le choc du futur). Trong hàng ngàn năm trước đây, người ta có thể nói, con người đã để cho tiền đồ và tương lai của họ lẫn lộn đến một cách ngạc nhiên. Ngày nay, do sự phát triển và thế lực của kỹ nghệ, họ thấy phải điều khiển tương lai: đây là vấn đề sống chết cho cả đám đông nhân loại. Chúng ta bắt buộc không những phải dự kiến mà phải bắt tay vào. Nhưng khi tương lai càng được điều khiển, thì đây, từ mọi hướng, từ mọi chân trời triết lý hay tâm linh, những tiếng kèn nổi lên để báo động cho chúng ta rằng cái tương lai đó có thể chuẩn bị cho chúng ta một tiền đồ vô nhân đạo. Một mối lo âu lan rộng ra và ngày càng ý thức hơn, diễn tả một sự mất cân đối giữa một tương lai được sắp đặt và một tiền đồ dọa nạt. Chính vì thế, trong thế giới đắc thắng nhờ kỹ nghệ, biết bao thanh niên đã từ chối cách mạnh mẽ một tương lai được ổn định. Họ mốn cứu lấy cho dù là một cách mù quáng, cái tiền đồ mà họ cảm thấy rõ là nó không tùy thuộc vào một hiểu biết hay một quyền thế nào.

Rõ ràng là tương lai và tiền đồ không thể tách rời ra như những sự vật. Thật sự là quyền lực trên tương lai thì bất lực, tự mình nó, để chuẩn bị cho tiền đồ. Bởi quyền lực không làm cạn kiệt tự do sáng tạo, nó có thể ngay cả thao túng nó và lừa bịp nó. Cho nên, quyền lực trên tương lai mà con người luôn mơ ước – mọi người ngày nay đều nói đến “tương lai học” (futurologie) – phải tuân thủ những tiêu chí của tiền đồ nhân bản đích thực.

Và đây chính là điều mà tiên tri phải can thiệp vào. Tiên tri không đoán trước tiền đồ như một tương lai tiền chế, nói đúng ra, nó không hiện hữu. Nhưng, trong những căng thẳng và những mâu thuẫn hiện tại, tiên tri phân định những đường nét của sức mạnh, ông khám phá ra một ý nghĩa. Sứ mạng của ông là truyền thống cái ý nghĩa đó, những đường nét đó của sức mạnh, để tháo gỡ chúng ra khỏi những ảo tưởng và khỏi sự mù quáng của chúng. Còn hơn cả ông thầy bói tương lai, nhà tiên tri là thị nhãn của hiện tại. Ông là người của hiện tại. Chính xác là người của sự Hiện diện – sự Hiện diện của Thiên Chúa. Nhà tiên tri phân định một nghị lực, một sức mạnh giải phóng trong hiện tại; nhà tiên tri chứa đựng một niềm hy vọng, như hạt lúa báo trước, và trong một ý nghĩa nào đó, chứa đựng cả một mùa màng sắp tới.

 NHÀ TIÊN TRI VÀ CHÍNH TRỊ

 Để chấm dứt, tôi xin gợi lên đây một câu chuyện ngắn đã được kể trong chương 7 của cuốn Êsai. Câu chuyện này nói cho chúng ta tất cả cái cốt lõi của phép tiên tri.

Chúng ta đang ở vào khoảng năm 730 trước Chúa Giêsu Kitô. Achaz là vua của nước Giuđa. Người ta vừa loan tin rằng có hai vua của hai nước nhỏ kế bên đã xâm lược vào đất nước. Mọi người đều sợ: dân chúng sợ, vua quan sợ. Phải là gì đây? Achaz suy nghĩ: tại sao chúng ta không kêu gọi ông vua rất quyền thế là vua nước Assyrie Téglat – Phalasar III giúp đỡ chúng ta về quân sự? Vị đế vương này chẳng khác gì một con dao cạo, ông sẽ không để lại một sợi lông nào trên thân thể của hai ông vua kia. Sau cùng thì, chẳng phải là một chiến lược hay, nếu ta liên minh với ông vua mà trong lúc này là đáng ghê sợ để đẩy xa cuộc chiến, thay vì nếu ta dửng dưng với ông ta, thì có thể nó sẽ biến thành một mối đe dọa bay vây thật đẹp cho ông vua Achaz tội nghiệp này!

Vua Achaz đang miên man suy nghĩ về cái chính trị bao vây đó thì tiên tri Êsai xuất hiện ở cuối con kênh, trên đường đi đến cánh đồng phơi da dã thú”. Tiên tri nói với ông vua: “Hãy bình tĩnh và đừng sợ. Chớ gì tâm hồn người không thua ngã trước hai mẩu củi cháy dở đó… Đe dọa của chúng không đáng sợ đâu… Nhưng nếu ngươi không tin, ngươi sẽ không tồn tại”. Tiên tri không nói với ông là thôi đừng nghĩ đến những mối đe dọa bao vây. Ngài không nói với ông rằng suy nghĩ của ông là hão huyền bởi vì chính trị chẳng đem đến cái gì, Ngài không đòi ông phải đi vào cầu nguyện và quên đi rằng ông là vua và ông có những trách nhiệm của một ông vua. Không, nhưng ngài nói với ông:

Đừng sợ và đừng quên có Thiên Chúa. bởi lý do tồn tại của Israel, chính là niềm tin của nó vào Thiên Chúa. Một mầm mống đã được gieo vào lòng dân tộc nhỏ bé Israel. Một mầm mống Cứu độ cho nó và cho cả mọi dân tộc trên trái đất. Có một Giao ước giữa Thiên Chúa và Israel. Trước hết và cho dù những quyết định chính trị là gì đi nữa – bởi tiên tri không phải là một người mơ mộng – trước hết, Israel phải trung thành với Giao ước. Nếu Israel trung thành, Thiên Chúa sẽ trung thành. Tương lai là quan trọng, nhưng tiền đồ còn quan trọng hơn.

Người ta có thể tưởng tượng một nụ cười trên môi ông vua khi tiên tri nói vơi sông: “Nếu ông không tin, ông sẽ không tồn tại”. Nào ích gì nghĩ đến Thiên Chúa khi quân thù đang tiến tới của thành? Cái lý hay thì luôn thực tế và cũng đòi hỏi có thực tế, nó đặt ra cái vị trí hàng đầy không phải của lương tri tôn giáo, mà của chính trị và của kinh tế. Vậy thì bổn phận của một ông vua là phải thực tế. Chính vì thế mà Êsai dõng dạc câu nói hoàn toàn ngỡ ngàng này: “Một thiếu nữ sẽ sinh một con trai và đặt tên là Emmanuel”. Đối với chúng ta, tối nay, điều quan trọng không phải là cái khác biệt về ý nghĩa của câu này, tùy theo người ta là Do thái hay là người Kitô. đối với người Kitô, người thiếu nữ này là Đức Maria, làng Nazaret, và con trai mà bà sinh ra là Đức Giêsu, Đấng Mêssia và là Đấng Cứu chuộc nhân loại. Đối với người Do thái, đó chỉ là việc sinh ra đời của Êdêkia, con vua Achaz, và do đó là sự nối tiếp dòng dõi. Tối nay, chúng ta đang ở trong viễn cảnh Do thái và chúng ta tìm câu giải đáp cho câu hỏi: Tiên tri là gì? Vì thế, tôi nói: điều cần thiết không phải là Êdêkia hay là Giêsu! Điều cốt yếu, là Israel phải giữ lấy niềm tin vào sứ mạng của mình và do đó đặt hy vọng vào Thiên Chúa. Nếu tin đó sụp đổ, nếu hy vọng lung lay, thì lúc đó việc tuân thủ Lề luật và cho dù nó có thật tỷ mỉ, cũng chỉ là điều hão huyền. Và nếu việc quyết định về chính trị có bảo đảm cho tương lai, thì điền đồ cũng không vì thế mà kém phần nguy hại[2].

 THUYẾT CỨU THẾ

 SỰ TRÔNG CHỜ CỦA NGƯỜI DO THÁI VÀ VIỄN TƯỞNG CỦA NGƯỜI KITÔ[3]

 Điểm cốt yếu của sự khác nhau giữa Do thái giáo và Kitô giáo là sự gần nhau nhất về vấn đề Đấng Mêssia. Người Do thái và người Kitô, từ thời nguyên thủy cho tới ngày nay, vẫn chống đối nhau với một xác tín mạnh mẽ về khái niệm Đấng Mêssia và thuyết Cứu chuộc. Trong thuyết Cứu chuộc của người Do thái, một cuốn sách mới xuất bản rất đáng chú ý của M.Scholem, giáo sư về thần bí học Do thái tại Đại học người Do thái ở Giêrusalem, ông phân định rõ ràng về sự khác nhau này:

“Phải luôn giữ trong tâm trí mình rằng giữa Do thái giáo và Kitô giáo có một sự khác biệt căn bản đụng đến vấn đề thuyết Cứu chuộc, vì họ có một khái niệm khác nhau về sự Cứu chuộc. Điều mà Kitô giáo coi như là một nền tảng vinh quang của việc tuyên xưng niềm tin và như là dữ liệu chính yếu của Phúc âm, đều bị chối bỏ và bác bỏ bởi Do thái giáo. Do thái giáo luôn mọi lúc và mọi nơi coi việc Cứu chuộc như là một sự kiện công khai (évenemet public) buộc phải diễn ra trên diễn đàn của lịch sử và tại tâm điểm của cộng đồng Do thái, tóm lại là như một sự kiện buộc phải xảy ra một cách hữu hình và vốn sẽ không tưởng nếu không có sự biểu lộ bên ngoài đó. Ngược lại, Kitô giáo coi việc Cứu chuộc như một sự kiện xảy ra trong một lãnh vực tinh thần và vô hình, như một sự kiện diễn ra trong tâm linh, tóm lại trong vũ trụ riêng tư và cá nhân, và nó kêu gọi đi tới một sự biến hóa nội tại mà không cần điều đó phải nhất thiết thay đổi dòng lịch sử… Cái mà Do thái giáo đã đặt vào dòng lịch sử một cách không thể thay đổi, trong đó các biến cố ngoại giới sẽ đạt đỉnh cao nhất và đã trở nên tâm điểm của lịch sử trong Kitô giáo… Giáo Hội đã tin chắc rằng mình đã vượt qua như thế một khái niệm nhất thời về sự Cứu chuộc, được nối liền với thế giới vật chất, và Giáo Hội cũng xác tín rằng mình đã thay thế khái niệm đó bằng một quan niệm mới và một phẩm giá cao hơn. Nhưng Do thái giáo lại luôn luôn cho rằng sự xác tín kia không có gì là một sự tiến bộ cả. Sự giải thích lại về lời hứa tiên tri trong ý nghĩa nội giới đã luôn được các nhà tư tưởng Do thái về tôn giáo cho rằng đó chỉ là một tiền ý không hợp pháp… trong khi nội dung của nó đã quá xa rồi. Điều mà người Kitô nhận ra như một quan niệm sâu sắc hơn về biến cố Chúa Cha thì người Do thái lại cho như một sự bài xuất của họ và như một lối thoát vậy”.

Vậy thì lịch sử nước Do thái là lịch sử của một dân tộc đang ở trong đợi chờ. Thuyết Cứu chuộc là sức mạnh huy động của lịch sử này. Một lịch sử hầu như luôn luôn sống trong một tình huống bị đày ải. Sự đày ải là tình huống cơ bản của đời sống người Do thái ở ngay trong lòng lịch sử và suốt chiều dài của lịch sử. Sự chờ đợi – hay niềm hy vọng – ơn Cứu chuộc là nền tảng chung của mọi xu hướng hay mọi tư tưởng tinh thần, vốn làm nên lịch sử đó. Cả hai – chờ đợi và hy vọng – đều gắn liền với nhau một cách keo sơn và cụ thể, chúng ta không được quên điều đó.

 SỰ PHỤC HƯNG HAY THẾ GIỚI MỚI

 Đâu là những xu hướng, những dòng chay hay những chuyển động vào nội giới của tư duy Do thái? M.Scholem đưa chúng vào ba lãnh vực: luồng tư tưởng bảo thủ, luồng tư tưởng phục hưng và luồng tư tưởng không tưởng.

Luồng tư tưởng bảo thủ nhắm duy trì cái đang hiện hữu, trước hết là cuốn Torah, Giới luật, và cuốn Halakka giải thích về nó, và cứ thế, cho dù có những đổi thay trong cuộc sống mà lịch sử áp đặt cho người Do thái.

Luồng tư tưởng phục hưng nhắm vào việc làm sống lại một quá khứ đã qua, nhưng luôn được nhìn nhận như đang là lý tưởng. Điều mà người ta hy vọng, đó là tái thiết lập tình trạng nguyên khởi của Israel, đúng như các tổ phụ đã sống.

Luồng tư tưởng không tưởng nhắm tới một hiện trạng của những sự việc, hiện trạng này sẽ được phục hồi bởi Đấng Cứu chuộc, nhưng theo đúng ý nghĩa không tưởng của nó, hiện trạng đó đã chưa bao giờ hiện hữu và ngay lúc này nó cũng không hiện hữu ở đây cả. Chúng ta đừng lầm lẫn với ý nghĩa của từ ngữ không tưởng. Nó không có nghĩa là ảo tưởng, nghĩa là không thể thực hiện, nhưng là cái mã hiện nay không hiện hữu ở đâu cả. Người ta dễ đánh giá kẻ khác là ảo tưởng, viển vông. Ảo tưởng không phải là sự lầm lỗi, nó cũng không phải là ảo tưởng. Nhưng nó là cái đích nhắm về một hiện trạng của những sự việc vốn hiện thời không hiện hữu…

Vấn đề của thuyết Cứu chuộc vẫn nằm trong lãnh vực ảnh hưởng của ba luồng tư tưởng, nhất là hai luồng cuối cùng luồng tư tưởng phục hưng và luồng tư tưởng không tưởng. Cũng nên ghi nhớ rằng trong ý tưởng phục hưng có một phần không tưởng, và trong cái nhìn không tưởng của một thế giới mới cũng có những yếu tố xa xưa đã được phục hưng. Vì thế, liên tục có một sự vươn tới trong ý tưởng mà người ta hiểu về Đấng Cứu chuộc: Ngài có tái lập Israel của thời nguyên thủy chăng, hay Ngài lập nên một thế giới mới? Hay nói cách khác: Sự Cứu chuộc nhân loại được hoàn tất bởi Đấng Messia mong đợi thì thuộc loại nào? Từ các tiên tri của Kinh Thánh đã có hai chủ đề gắn liền với nhau: Chủ đề của sự phục hồi vương triều của Đavít và chủ đề của một nhân loại đã được hòa giải trong sự công chính và trong Tình yêu vào ngày tận thế. Và các trào lưu khác nhau trong lòng Do thái giáo, có lúc thì nhấn mạnh vào sự hòa giải toàn cầu của cả nhân loại, có lúc lại nhấn mạnh trên sự phục hồi vương triều Đavít.

Chúng ta hãy để ý rằng Do thái giáo không phải là một tôn giáo thống nhất (monolithique). Đây chính là sự cám dỗ của chúng ta, nhưng người Kitô, cứ luôn tưởng rằng những ý tưởng nào không phải là của chúng ta đều là những ý tưởng thống nhất. Vì thế không nên có một quan niệm thống nhất về tư tưởng của người Do thái; ở bên trong tư tưởng đó luôn có những vươn tới cũng như ở bên trong những tư tưởng Kitô giáo vậy.

 THỜI KỲ CỨU CHUỘC XUẤT HIỆN THEO SÁCH KHẢI HUYỀN

 Điều phải nói thêm ở đây là: trong những lúc mà sự trông đợi Đấng Cứu thế trở nên căng thẳng, như trường hợp của Do thái giáo thời Trung cổ, đã có một sự trông đợi đặc biệt hướng về sách Khải huyền. Những sách Khải huyền này vốn là một thứ văn chương đặc thù, đã có ở trong các sách Kinh Thánh; nhưng người Kitô quen thuộc nhất là sách Khải huyền của thánh Gioan, cuối cùng trong cuốn sách Tân ước của chúng ta. M.Scholem định nghĩa chữ Khải huyền là: “một thị kiến bắt nguồn từ một sự trông đợi Đấng Cứu thế quá căng thẳng”. Vì thế, chính trong những thời kỳ khủng hoảng, mà sự trông đợi trở nên căng thẳng nhất; điều này chúng ta có thể cảm nghiệm và minh định được trong đời sống cá nhân của mình và cả trong đời sống chính trị nữa.

Người ta biết rằng hiện tượng Khải huyền này đã bắt đầu phát triển trong dân Israel khi chấm dứt thời kỳ các tiên tri. Khi các tiên tri như Êsai, Giêrêmia, Amos, Ôsê và các tiên tri khác không còn nói nữa, thì các lời Khải huyền bắt đầu trổ lên khắp nơi. Có một sự khác biệt lớn giữa văn chương tiên tri và văn chương Khải huyền. Các tiên tri chỉ biết có một thế giới, thế giới của chúng ta; các biến cố mà họ nói đến đều đều có xảy ra trong thế giới bên kia của lịch sử loài người. Ngay cả những biến cố lớn của ngày tận thế, các tiên tri đều thấy chúng đang xảy ra trong hiện tại, ngay ở bên trong những giới hạn của thời gian. Nói cách khác, đối với sách Khải huyền, sự chấm tận của lịch sử khác đó, người ta gọi là “thời kỳ Cứu chuộc”. Nói cách khác nữa thì, Đấng Cứu chuộc hoàn tất một lịch sử, lịch sử của một thế giới còn chưa được Cứu chuộc, và nó lại khai trương lịch sử của thế giới đã được Cứu chuộc, thế giới của thanh bình, của công chính và của yêu thương. Đây là một sự phân biệt cần phải nhớ, bởi ảnh hưởng của những bản văn Khải huyền trên Do thái giáo là rất to lớn.

Một sự khác biệt nữa ở giữa thông điệp tiên tri và thị kiến Khải huyền, mà chúng ta cần lưu ý. Những bản văn tiên tri thi công khai, viết cho mọi người – các tiên tri chỉ đòi hỏi một điều là lời của họ phải được loan truyền khắp đó đây, thuận chiều cũng như nghịch chiều – còn các bản văn Khải huyền lại muốn được là bí mật, bí truyền, chỉ dành cho những người am hiểu.

Đối với M.Scholem, sự biến chuyển từ tiên tri sang Khải huyền, từ Lời nói tung ra khắp nơi, biến thành Mạc khải thì thầm bằng nưhngx lời ẩn ý cần phải dịch mật mã, là một điều kỳ lạ và khó hiểu. “Ai đã có thể gợi lên sự biến hóa này, để bước qua từ những bản văn tiên tri của Kinh Thánh, hầu biến đổi cái hiểu biết về Đấng Cứu chuộc sang cái hiểu biết của những mật mã?” Điều này quả là một mầu nhiệm.

Văn chương Khải huyền vốn luôn luôn tươi nở nhất là trong hai thế kỷ đầu trước Đức Kitô và hai thế kỷ đầu sau Đức Kitô, nó không bao giờ ngừng ảnh hưởng đến thuyết Cứu độ của người Do thái. Do đó, có hai dạng thái trong thuyết Cứu độ này: một dạng vốn nhấn mạnh những tai biến và những phá hủy vốn phải xảy ra cùng với việc Đấng Messia đến, việc Cứu chuộc, và một dạng không tưởng đối với những gì sẽ là hiện thực của thời kỳ Cứu độ.

“Thuyết Cứu độ của người Do thái, trong nguồn gốc và trong bản tính của nó – ở đây người ta không bao giờ nhấn mạnh đủ – đó là sự trông đợi về tai biến của lịch sử. Nó báo hiệu những cuộc cách mạng, những thảm họa sẽ phải xảy ra khi thời của lịch sử hiện tại đi ngang qua thời này là “ngày của Chúa”. “Nhưng chúng ta chẳng biết gì về cách mà ngày của Chúa sẽ xảy đến, nó đóng lịch sử lại và trong lúc đó, thế giới sẽ bị lay chuyển cho đến nền móng của nó”. Người Kitô biết rất rõ về đề tài ngày của Chúa, mà họ cũng thấy ở trong Tân ước, nhưng họ không hiểu cùng một cách như người Do thái. Nói tóm lại, những tai biến của thời kỳ Cứu độ là một nét đặc thù của văn chương Khải huyền, mà sau đó những dữ liệu về sự không tưởng được thêm vào, nghĩa là những gì thuộc về thời kỳ Cứu độ mà người ta chưa có thể nói gì hết về nó, bởi vì hiện tại thì chưa có gì về nó đã được thực hiện.

Cũng cần phải nhấn mạnh rằng “ngày của Chúa” hay, nếu bạn muốn, thời kỳ của Đấng Messia, thời kỳ của ơn Cứu độ – hoặc: sự ngang qua của lịch sử chúng ta sang một lịch sử khác – đối với người Do thái, thời kỳ này không bao giờ xuất hiện như là kết quả do sự tiến bộ của lịch sử. Sự ô nhiễm lây lan giữa ý tưởng Cứu độ và ý tưởng không tưởng, nói khác đi là ý tưởng của sự Cứu chuộc sẽ là kết quả của một sự phát triển liên tục – tôi không dám nói là cầu tiến – đó là một ý tưởng thời đại, lối thoát của nền triết học của Ánh sáng. Huyền thoại Tây Phương của sự tiến bộ không đến từ Kinh Thánh. “Sự giải phóng con người, sự tiến bộ loài người và sự Cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô” là một cách đặt vấn đề của người Kitô giáo đang thịnh hành vào những năm vừa qua. Đây không phải là một ý tưởng của người Do thái. Israel không tin rằng sự Cứu chuộc có thể đồng hóâ với một niềm tin vào sự tiến hóa – Giáo hội cũng vậy thôi.

Đối với người Do thái, “sự Cứu chuộc đúng hơn là sự trỗi dậy của một sự ưu việt, ở bên trên lịch sử, đó là sự phóng ra một tia sáng từ một nguồn sáng ở bên ngoài lịch sử. Những thị kiến tổng hợp của lịch sử, đi ngược với các tiên tri của Kinh Thánh, mà các tác giả Khải huyền của chúng thì rất nhạy bén, lại không ăn nhằm gì với những quan niệm thời đại của sự phát triển và của sự tiến bộ. Lịch sử đối với họ, chỉ xứng đáng có một chuyện, là phải chết phải bị tiêu hủy. Cái lạc quan của họ, niềm hy vọng của họ không được hướng dẫn tới cái mà lịch sử có thể đem lại, nhưng tới những gì sẽ trổ lên từ những đổ nát của nó và sẽ biểu lộ như vậy, ngày tận thế, sau lịch sử”.

Ở đây có một sư bi quan nền tảng về ý nghĩa của lịch sử, nhưng tôi sẽ không bàn đến nó trong lúc này, tôi cố gắng trong suốt bài thuyết trình này không nói gì về cái đầu óc riêng tư của tôi, nhưng nói lên những gì người Do thái nói. Trong lãnh vực này bổn phận của tôi là phải rất trung thực và tôi phải giữ mình không bước vào cái nguy cơ sai sự thật, để không nói rằng làm nên những bức biếm họa, cho dù chỉ một chút thôi về suy tưởng của người Do thái, nó vốn là một suy tưởng rất cao siêu.

Gershom Sholem nhấn mạnh rằng niềm hy vọng này giữ lại một cái gì đó có vẻ “thoái thác” và “tưởng tượng” – những tiếng mà tôi sẽ không dám đọc lên khi nó về Do thái giáo. Nhưng ông còn ghi chú rằng những ảo tưởng của trí tưởng tượng đã dông dài quá đó một cách quá dễ dàng. Nhưng người ta lại không thể phủ nhận một sức sống mãnh liệt của cái thuyết Cứu độ không tưởng đó vốn đã giúp cho dân Israel, trong những giai đoạn tăm tối của những truy nã, để vượt lên trên những nỗi khốn khổ nhục nhã mà trước đây đã là bánh ăn hằng ngày của họ. Những hình ảnh về “Giêrusalem mới”, phác họa bởi các tác giả Khải huyền, đã được phong phú hóa trong suốt các thế kỷ để làm nên, từ cái mới mẻ của thế giới đã được Cứu chuộc, một cái gì đó thêm vào sự phục hưng của những quá khứ đơn giản kia.

Người Do thái thường hay tự đặt câu hỏi để biết con người có khả năng làm cho lịch sử “mau chấm dứt”, ép nó phải mau đi đến sự tận cùng bằng một hành động thích hợp nào đó: “Câu hỏi này đã là cơ hội làm cho các quan điểm về thuyết Cứu chuộc phải chẻ ra nhiều chi nhánh. Sự mơ ước đã không được luôn đi kèm với quyết định làm một cái gì để cho điều ước đó được thực hiện có hiệu quả. Nhưng ngược lại: ở đây chúng ta đụng phải những vấn đề quan trọng nhất của thuyết Cứu chuộc, nó vốn đã bất chợt đào sâu một hố ngăn cách trong lương tri của một số đông. Và điều này thì không có gì lạ bởi, trong các văn bản Kinh Thánh vốn là nguồn gốc của biến cố Cứu chuộc, biến cố này chưa bao giờ được diễn tả như là kết quả của một công trình nhân loại. Cũng vậy, các tác giả Khải huyền khi xưa không hề nói đến việc con người lấy sáng kiến để làm cho ngày của Chúa đến, tức là thời kỳ của Đấng Messia và của việc Cứu chuộc”.

Tuy nhiên, cũng là điều bình thường khi người ta đặt câu hỏi để biết có phải, dù sao, con người cũng không được coi như là chủ của tương lai mình, chủ của lịch sử, nhất là vào thời đại này. Đây là một xu hướng tự nhiên của con người để cảm nghiệm được sự lôi cuốn của hành động, để được tự mình kiện toàn thoát khỏi sự cám dỗ này, và đã từng có cũng như sẽ còn có điều mà Ghershom Scholem gọi là một “chủ nghĩa tích cực cho việc Cứu độ” (activisme messianique), nó vốn mang một sự không tưởng như cái đòn bẩy cầu mong phục hưng vương triều của Đấng Cứu độ”. Chúng ta hãy nói là: Một thuyết Cứu độ chính trị và chủ nghĩa nghìn năm ở đây là một điều đại dương thế của Đấng Messia mà người ta cho là sẽ kéo dài trong một nghìn năm.

 KHUÔN MẶT CỦA ĐẤNG MESSIA

 Ở giữa các trào lưu khác nhau, khuôn mặt của Đấng Messia biểu lộ ra sao đối với người Do thái? Đương nhiên là khuôn mặt đó phải là rất mơ hồ, không rõ ràng, nếu người ta muốn nói thế. Đúng là bằng một khuôn mặt con người mà việc kiện toàn sự Cứu chuộc tập trung vào đó, nhưng việc kiện toàn này tập hợp những nét cội nguồn khác nhau, khi thì về lịch sử, khi thì về tâm lý, như G.Scholem đã phân tích. “Khác với thuyết Cứu độ của Kitô giáo, hay thuyết Cứu độ của người Chiites, ở đây không có cái ký ức về một khuô mặt thuần túy… Đức Giêsu và Imam (thầy cả Hồi giáo) còn đang ẩn náu, họ đã hiện hữu bằng chính con người của họ, và họ cũng có những nét mặt không thể thay đổi và không thể quên được”. Đức Giêsu đã thật sự sống trên trái đất chúng ta và các Phúc âm đã ghi tạc cho đến muôn đời hình ảnh của Người. Do thái giáo không thể có một hình ảnh như thế; họ chỉ có thể hình dung nét đặc trưng cá thể của Đấng Messia một cách trừu tượng. M. Scholem đã thầm nhìn nhận điều đó, khi ông lưu ý rằng theo dòng lịch sử Do thái, đã xảy ra một sự triển khai về hình ảnh Đấng Messia, nhất là bằng cách phân ra làm hai giữa một Đấng Messia con vua Đavit và một Đấng Messia con của Giuse. Nhưng đây không phải là lúc chúng ta đi vào việc phân tích này.

 MAIMONIDE

 Bầy giờ chúng ta đi đến với khuôn mặt của Maimonide, một nhà triết học Do thái vào thế kỷ XII, ông đánh dấu một thời điểm vô cùng quan trọng trong lịch sử suy tư của người Do thái. Ông là người đại diện cho sự phản ứng mạnh mẽ của phong trào chống Khải huyền. Ông đặt lên hàng đầu triển vọng của một phục hưng vương triều Đavít và ông giảm thiểu tối đa những yếu tố không tưởng liên quan đến sự xuất hiện của Đấng Messia. Thật ra, yếu tố không tưởng duy nhất mà ông duy trì, đó nghĩa là thời kỳ của Đấng Messia sẽ là thời kỳ của sự hiểu biết toàn cầu về Thiên Chúa. Maimonide, vốn là một nhà triết học, ông đã thiết lập một quan hệ gắn bó giữa sự hiểu biết về Thiên Chúa như lợi ích tối cao của triết học. Và cùng một lúc, ông đồng hóa cái Lợi ích tối cao, lý tưởng của triết học, với đời sống chiêm niệm, theo kiểu mẫu của các triết gia thời Trung cổ, như thánh Toma Aquino hay thánh Bonaventura, họ vốn có đời sống chiêm niệm là lý tưởng của đời sống trọn hảo.

Nhưng khuynh hướng của Maimonide là dự kiến một đời sống chiêm niệm không cần chú ý lắm đến sự trông đợi Đấng Cứu thế. Ông hầu như đặt ra một bên, sự trông đợi đó. Chính sự chiêm niệm vốn là viên đá đỉnh vòm của tác phẩm triết học chính yếu của Maimonide, Le guide des égarés (Hướng dẫn viên của những kẻ đi lạc), một nhà văn cổ điển lớn về văn chương tôn giáo của mọi thời đại. Ông tuyên bố sự chiêm niệm vẫn còn khả thi trong thế giới hiện tại này còn chưa được Cứu chuộc, nhưng chỉ có thể trong những trường hợp hiếm hoi và hiu quạnh. Vào thời kỳ Cứu độ, chiêm niệm sẽ mang một tầm vóc mới, bởi lúc đó chính là sự hiểu biết chiêm ngắm về Thiên Chúa vốn sẽ là hoạt động chính của mọi con người. Nói cách khác, một đời sống vĩnh cửu đã được sống ở dưới đất này, ở phía bên kia của lịch sử.

Về đề tài phục hưng đã được nhẹ nhõm hơn vì đã tháo gỡ được nhiều quan điểm nặng nề về triển vọng Khải huyền, tốt nhất là hãy nghe chính Maimonide nói. Đây là bản văn chính:

“Đấng Messia sẽ đến và sẽ phục hưng vương triều của Đavít trong quyền lực ban đầu của ông. Ông sẽ xây lại cung thánh và tập hợp lại những người đã di tản khỏi Israel. Hết nọi Lề luật sẽ được thiết lập lại trong những ngày của Đấng Messia cũng như trong những ngày của cha ông chúng ta. những hy lễ sẽ được dâng hiến lại; năm nghỉ sabba và năm thánh sẽ được tuân thủ đúng như những gì đã ghi trong Kinh Tôrah. Kẻ nào không tin vào Đấng Cứu chuộc sẽ đến hay không chờ đợi Ngài đến thì không những họ chối bỏ các tiên tri khác mà cũng chối bỏ luật Tôrah và cả tổ phụ Môisê chúng ta nữa.

“Đừng tin rằng Đấng Messia phải làm những dấu hiệu và những phép lạ, phải phục hồi lại tình trạng các sự vật trong thế giới, hay làm cho kẻ chết sống lại. Sẽ không có như vậy đâu… Tốt hơn là phải dự kiến một cơ hội sau đây: những khoản luật được viết trong Kinh Tôrah thì luôn có giá trị vĩnh viễn. Không có gì được thêm vào hay bớt đi. Nếu một ông vua nào của nhà Đavít có nổi lên và học hỏi về sách luật Tôrah và đem ra thực hành những điều luật Tôrah trong đó, đúng như tổ phụ Đavít đã làm, theo như luật Tôrah viết và luật Tôrah truyền khẩu, và ông vua đó mời gọi mọi người dân Israel đi theo đường lối của luật Tôrah và sửa chữa những sứt mẻ của nó (chúng ta hãy hiểu là: đấu tranh chống lại những sai lầm hậu quả của một sự tuân giữ không đầy đủ những Luật của Tôrah) và vị vua đó chiến đấu vì Chúa, thì người ta có thể thật sự dám chắc rằng vị đó là Đấng Messia. Và nếu vị đó thành công trong viêc xây dựng lại cung đền vào đúng chỗ của nó và tập họp lại những con cháu Israel đã tản mát khắp nơi, thì lúc đó, vị vua đó chứng thật sự mình là Đấng Messia. Ngài sẽ mời gọi toàn thể nhân loại phục vụ Thiên Chúa duy nhất, như sách tiên tri Sophonia (3,9) đã nói: “Ta sẽ cho các quốc dân được môi miệng tinh tuyền để mọi người cầu khẩn danh Chúa và đồng tâm thờ phượng Ngài”.

“Đừng có ai nghĩ rằng, vào những ngày của Đấng Messia, thì thế giới này sẽ ngừng lại hay những đổi mới sẽ được đem đến trong các tạo vật. Thế giới sẽ tiếp tục hành trình của nó như thường lệ. Và những giá trị của Isai (11,6): “Chó sói ở với chiên con, beo đực sẽ nằm chung với dê non” là một châm ngôn và một phúng dụ nó muốn nói rằng dân Israel sẽ sống an toàn ngay cả giữa những kẻ dữ của Đất nước những dân ngoại, vốn được so sánh với chó sói và beo đực. Bởi mọi dân tộc, tất cả sẽ đón nhận niềm tin đích thực và se không còn cướp bóc hay phá hoại nữa. Tất cả những đoạn tương tự như vậy trong Kinh Thánh nói về Đấng Cứu thế đều phải được coi như là những nhân vật…

(Còn về những trận chiến thuộc thời Cứu thế và về sự xuất hiện của tiên tri Êlia trước khi chấm dứt, Maimonide nói tiếp:) về tất cả những chuyện này và những chuyên khác giống như vậy, không ai biết được chúng sẽ xảy ra như thế nào trước khi những sự kiện kia xuất hiện, bởi những lời của các tiên tri thực chất thì không rõ ràng. Ngay cả những nhà bác học cũng không đem đến cho chúng ta một mời truyền nào về ý kiến của họ nhưng chính họ cũng lần theo những bản văn thôi. Vì thế, đã có những chính kiến khác nhau về vấn đề này. Tóm lại, phương thức và chi tiết của những biến cố này không phải là những giáo điều. Vì thế không nên quá tin vào đó và cũng không nên cống hiến quá nhiều thời giờ cho những bản trình thuật của cuốn Haggada và của Midrashim nói về những vấn đề này và những vấn đề khác giống như vậy. Người ta không nên coi chúng như điều quan trọng hàng đầu, bởi tự công hiến cho nó thì không dẫn bạn đến sự kính sợ và cũng không đến sự yêu mến Thiên Chúa.

“Các nhà hiền triết và các tiên tri đã mong đợi ngày của Đấng Messia, không phải để thống trị thế giới và đưa những người ngoại đạo vào quyền kiểm soát của họ, không phải để được tôn vinh bởi các Quốc dân, cũng không phải để được ăn, uống, hưởng thụ. Tất cả những gì họ mong muốn là được cống hiến thời gian cho việc học hỏi Luật Tôrah và được thong dong nghiên cứu.

“Trong thời gian này, sẽ không có đói kém, ghen tương hay bất bình, bởi trái đất sẽ được phì nhiêu phong phú. Toàn khắp thế gian sẽ không còn một lo nghĩ nào khác ngoài việc học hỏi về Thiên Chúa”.

Và đó là những lời nói đắn đo, thận trọng và đơn giản. Maimonide là người Do thái, đúng vậy, nhưng ông cũng là một triết gia, đúng như ngày nay, người ta nói về ông Emmanuel, Lévinas và ông Eric Weil, hai nhà triết học rất Do thái và cũng là những triết gia nổi tiếng đang sống ở Pháp. Maimonide đẩy thật xa sự phát triển quá cỡ của những bài phóng tác về những tai họa mà các bài viết Khải huyền muốn rằng chúng phải đi kèm với thời kỳ Cứu chuộc. Ông cũng đẩy xa phần lớn những không tưởng. Không có phép lạ, không có những dấu hiệu kỳ lạ. Điều mà thời kỳ Cứu chuộc đem đến cho Israel, đó không phải là sự giải phóng khỏi nô lệ mà nó còn đang bị trói buộc và đúng là sự tự do vốn sẽ giúp cho dân hiểu về Thiên Chúa.

“Maimonide coi việc xuất hiện của Đấng Messia như một sự khôi phục và như một biến cố công khai xảy đến trong toàn thể cộng đồng. Việc giải cứu linh hồn cá thể, vì thế không liên quan gì đến việc xuất hiện của Đấng Cứu chuộc và có thể xảy ra bên ngoài linh hồn đó… Thời kỳ Cứu độ là một ân huệ tự do của Thiên Chúa, nhưng là một ân huệ đã được hứa ban”, và Thiên Chúa thì trung thành với lời hứa của Ngài. Trong bảy viễn cảnh chống – Khải huyền của Maimonide, thời kỳ Cứu độ sẽ chỉ gia tăng khả năng của con người, cũng như việc phục hồi sự an bình và hòa hợp của toàn cầu, nhưng cái khả năng đó là để hiểu biết và chiêm ngắm Thiên Chúa đã hiện hữu trong con người hiện nay.

 THUẬT TRUYỀN KINH THÁNH (CỦA NGƯỜI DO THÁI LA KABBALE)

 Bây giờ chúng ta nên nói đôi điều về Thuật truyền Kinh Thánh của người Do thái (La Kabbale) và đây sẽ là điểm khó nhất của bài thuyết trình của chúng tôi cho tối nay.

“Thuật truyền Kinh Thánh của người Do thái không là gì khác một thần bí Do thái”. Gershom Scholem xác định như thế và chúng ta sẽ theo đó để đề ra cái cốt yếu của thần bí này, trong một bản tóm lược rất sơ lược.

“Đối diện với vấn đề cốt thiết của cuộc sống, như việc giải thoát khỏi những xiềng xích của cái hỗn độn là chính lịch sử, người ta có thể do dự giữa hai con đường. Người ta có thể chú ý vào thời điểm tận cùng của thời gian, về sự Cứu chuộc của Đấng Cứu thế, đặt niềm tin hy vọng của mình vào thời điểm tận cùng đó, cố gắng gia tốc nó và coi việc Cứu chuộc như một cuộc chạy đua tới điểm tận cùng kia, và như một sự chuân bị cho điểm tận cùng đó… Nhưng người ta cũng có thể lựa chọn con đường ngược lại và tìm cách ra khỏi những tai ương của lịch sử bởi một sự chạy trốn về với lúc khởi đầu, về với Sáng thế của buổi sơ khai”. Người ta có thể gắn bó với mầu nhiệm tạo dựng hơn là với mầu nhiệm của ngày tận thế. Đường lối thứ hai này là đường lối của Thuật truyền Kinh Thánh của người Do thái.

Và đây những nhà thần bí về Thuật truyền Kinh Thánh đã bàn luận với nhau như thế nào:

“Nếu chúng ta có thể hiểu biết được những mức độ trong việc triển nở của các hữu thể từ cội nguồn của mọi hữu thể, “nguồn gốc của mọi nguồn gốc”, cho tới sự hiện hữu của chính chúng ta,

-Nếu chúng ta có thể biết được điều bí ẩn của việc Tạo dựng, từ đó mà chúng ta tới và các tạo vật đã cấu kết với nhau thế nào, từ đó đã nảy sinh ra sự bất toàn vốn đã dìm chúng ta vào trong thế giới đáng nguyền rủa này, đầy những tang tóc và tai ương,

-Nếu chúng ta có thể biết được tất cả những sự đó… Chúng ta sẽ có thể rút ra một bài học cho chuyến trở về của chúng ta, tới “quê hương nội giới” của chúng ta.

-“Nếu chúng ta có thể biết được làm sao chúng ta đã sa ngã, bởi đường lối nào mà tất cả những gì hiện hữu đã ra tan vỡ,

-Và nếu chúng ta biết được làm thế nào để mọi sự lại được phục hồi.

“Sự phục hồi như thế ở đây được coi như một sư trở lại với thời điểm đầu tiên của việc Tạo dựng; nó không phải là một sự tiến tới điểm chấm dứt”.

Nói cách khác, nếu chúng ta biết được con đường đi xuống, thì cùng một lúc chúng ta cũng biết được con đường đi lên. Đi xuống từ cội nguồn đến tình trạng nô lệ hiện tại, và đi lên từ tình trạng nô lệ hiện tại đến tự do của Cội nguồn.

Ngay lúc đó người ta hiểu được sự quan trọng của vấn đề tạo dựng. Nó chính là tâm điểm đáng lưu ý của các nhà truyền Kinh Thánh và nhất là cho cuốn sách quan trọng nhất của họ, cuốn Zohar (nói về vinh quang của Thiên Chúa) nó được viết vào thế kỷ XIII và vẫn còn là một cuốn sách cổ điển về văn chương tôn giáo.

Vậy thì vấn đề Cứu chuộc không phải là vấn đề cốt lõi đối với các nhà thần bí Do thái. Họ không vì thế mà bác bỏ nó. Và, vào thế kỷ XV, đúng là sau năm 1492, khi mà những người Do thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha và kinh nghiệm đau buồn của cuộc đày ải sẽ đưa vấn đề tương lai của dân Israel đến cực độ của nó, một thuật truyền Kinh Thánh mới sẽ cố gắng đem thuyết Cứu chuộc vào trong thần bí, đem kết hợp luồng tư tưởng ngày trở lại với Tạo dựng. Với cách truyền Kinh Thánh kiểu mới này, nhân vật quan trọng nhất là Luria, sinh tại Giêrusalem năm 1534, và qua đời tại Safed năm 1572.

Ý tưởng tâm điểm của Luria thì rất táo bạo. Ông nói: không chỉ sự đày ải là một thực tại dữ dội đối với Israel, mà sự đày ải của Israel là biểu tượng của mọi thực tại trần thế: hiện hữu, đó là bị đày ải rồi. Và điều đó là đúng không chỉ cho nhân loại mà cũng cho cả chính Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa, khi tạo dựng, đã tự co lại, Ngài đã tự đày ải chính mình, Ngài đã tự truất phế từ một vô biên tuyệt đối, tới một vô biên thu hẹp lại để cho thế giới có thể xuất hiện. Nói cách khác, Thiên Chúa đã từ chối mình là tất cả, Ngài đã tự đặt mình vào hoàn cảnh đày ải.

Người ta sẽ cho phép tôi mở ra ở đây một cái ngoặc và cho tôi được quay lại với cuốn sách nhỏ của tôi là cuốn L’humilité de Dieu (Sự khiêm hạ của Thiên Chúa), ở đây, không nói theo thần bí Do thái mà theo Thánh Kinh Kitô, tôi nói điều này: “(Khi tạo dựng) Thiên Chúa tự xóa để từ chối mình là tất cả. Sự từ bỏ này là hiện hữu của Ngài, chứ không chút nào là giai đoạn. Chính cái toàn năng của Ngài bằng hành động, chứ không phải phô trương mà là rút lại. Phô trương sẽ là tự thú quyền năng yếu kém. Rút lại, lại là quyền năng tối cao. Do đó, tôi không nói rằng Thiên Chúa giới hạn quyền năng của Ngài để cho các quyền tự do khác ngoài quyền tự do của Ngài được trổi lên. Tôi muốn nói rằng, đúng hơn, Ngài sử dụng quyền đó với tất cả sức mạnh của nó. Đó là cái Toàn Năng của một sự từ bỏ mình tuyệt đối, nó vốn là sự tác tạo của tự do.

Câu chuyện của Luria và của tôi thì thật sự không giống nhau; nhưng có một quan hệ họ hàng chặt chẽ với nhau trong cách quan niệm về Tạo dựng đi từ sự khiêm hạ vốn là cái tinh túy của Tình yêu và không có nó người ta sẽ không có quyền nói về Tình yêu. Tuy nhiên, khi tôi viết cuốn sách nhỏ này, tôi chưa được biết đến thuật truyền Kinh Thánh của người Do thái; tôi đã biết đến nó như mọi người đã biết nó, một sự hiểu biết rất mù mờ. Tôi đã không hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi thuật này, như một nhà triết học, ông Schelling đã bị ảnh hưởng vào thế kỷ XIX.

Vậy chúng ta hãy tiếp tục tư tưởng của Luria.

Để cho một cái gì đó ngoài Thiên Chúa có thể hiện hữu, thì Thiên Chúa cần phải rút lại bản thân mình, Ngài phải tự giới hạn mình. Đây chính là hành động đầu tiên của Ngài. Chỉ sau đó Ngài mới có thể phóng xa những tia chớp từ ánh sáng của Ngài vào trong không gian đã được tạo dựng bằng sự co rút của chính Ngài. Sự thiên sạ đi theo sự co rút. “Đi theo” chỉ là một cách nói, bởi ở nơi Thiên Chúa không có việc làm kế tiếp. Thiên sạ và co rút là tương quan với nhau. Không có sự co rút vào, thế giới sẽ là Thiên Chúa. không có sự thiên sạ, không có gì sẽ được tạo dựng.

Nếu người ta cho phép tôi trở lại một lúc song song với cuốn sách của tôi về sự khiêm hạ của Thiên Chúa, tôi sẽ nói rằng, về phần tôi, tôi sẽ không nói về giới hạn của Thiên Chúa. Nhưng đúng hơn thì hành động của sự toàn năng vốn là một thế lực tự xóa. Thật là kỳ lạ khi người Kitô lại khó hiểu điều đó; họ chưa cảm nghiệm được rằng trong đời thường của họ – để được tự xóa mình – họ phải cần đến nhiều thế lực hơn là để cai quản và áp đặt. Họ coi sự toàn năng của Thiên Chúa như một thứ lực xóa bỏ. Các bạn hãy thử kinh nghiệm xem: phải cần có Tình yêu và một Tình yêu mãnh liệt để có thể tự xóa hầu cho kẻ khác được hiện hữu. Chính đó là sự Tạo dựng: chính Thiên Chúa đã tự xóa hầu cho thế giới được hiện hữu, và điều này đã được hoàn toàn cảm nghiệm trong Thuật truyền Kinh Thánh của người Do thái (La Kabble).

Sự Tạo dựng ngoài ra còn bao hàm một ý nghĩa rằng một luồng Thần Khí Thiên Chúa được chứa đựng trong những “cái bình” hay những “đồ chứa” hay những “cái bao”, nếu không, luồng thần khí đó lại quay về với vô biên. Những đồ chứa này đem ra ánh sáng một loại hình thể di động mà từ đó xuất phát ra những tạo vật. Nhưng những bình chứa này đã bị vỡ. Tại sao? Các nhà truyền Kinh Thánh đưa ra hàng loạt những giả thuyết mà không đi tới một cái gì rõ rệt. Còn những cái bình đó thì không bao giờ có thể chứa được ánh sáng của Thiên Chúa nữa, chúng đã bị tan vỡ và ánh sáng đã tản mát đi. Phần lớn đã trở về nguồn; nhưng phần còn lại, hay đúng hơn những tia sáng của chúng đã rơi xuống đất và lan tỏa đi.

Theo Luria thì đó là “câu chuyện về sự đày ải nội giới cơ bản của Tạo dựng”, theo sự giải thích của G. Scholem. Không có gì có thể ở trong tình trạng trọn hảo nữa. Vết rạn nứt đã không miễn trừ một cài gì: tất cả những gì hiện hữu đều bị đày ải. Người ta có thể nói rằng Thuật truyền Kinh Thánh đã có một quan điểm hoàn cầu về sự đày ải và chính Thiên Chúa cũng không xa lạ với vấn đề này.

Nếu sự thể là như thế, thì bản chất của nó là một đòi hỏi phải đền tội. Phận sự của con người là phải đưa mọi sự vật vào đúng chỗ của nó. Đó là mục đích của tôn giáo. Chính Ađam là người đã phải hoàn tất công việc đó. Nếu ông đã không sa ngã, sự đền tội – hay sự cứu chuộc – đã được thực hiện ngay từ ngày sabba đầu tiên của lịch sử. Nhưng ông đã sa ngã và vết rạn nứt của những bình chứa đã xảy ra, vết rạn nứt thứ hai. Chúng ta hãy ghi nhận là Thuật truyền Kinh Thánh ở đây thì rất gần với sự sa ngã hai lần của truyền thuyết Kitô giáo: sự sa ngã của các thiên thần và sự sa ngã của tổ tiên Ađam – Eva của chúng ta. Ngoài ra người ta có thể tự hỏi không biết việc người Kitô tin vào một lần sa ngã của các thiên thần có đến từ ý tưởng Do thái chăng?

Ađam đã sa ngã, cho nên tình trạng của nhân loại luôn là một tình trạng đày ải. Vậy thì chính sự đày ải vĩnh viễn của Israel nói lên tình trạng đày ải của tất cả những gì hiện hữu, của toàn cầu. Vậy thì, chính Israel phải hoàn tất công cuộc đền tội, nghĩa là phải quay về với quê hương xa xôi khỏi nơi đày ải. Israel làm việc đó vì tuân phục Luật Tôrah, chính Tôrah mới có thể phân chia điều lành và điều dữ, sự trong sạch và sự dơ bẩn. Chức năng của Israel là chuẩn bị sự xuất hiện của thế giới đã được Cứu chuộc hay đã được phạt đền. Cho nên chính Israel phải bị lưu đày cho tới bốn phương trời. Sự lưu đày của Israel không phải chỉ là ngẫu nhiên, đó cũng là sứ mạng. Và cũng là hình phạt, và sau cùng là thử thách cho niềm tin.

Vậy thì, trong viễn ảnh của Thuật truyền Kinh Thánh này, Đấng Messia phải đến, Ngài mất đi tầm quan trọng của Ngài rất nhiều. Không phải Ngài là người sẽ hoàn tất sự Cứu chuộc; Ngài chỉ là dấu hiệu của sự Cứu chuộc đã hoàn tất; khi Ngài đến. Nhưng điều quan trọng chính là đời sống hiện tại của người Do thái, sự vâng phục của họ và niềm tin của họ mới làm nên giá trị thật sự cho hoàn cầu. Các nhà Truyền Kinh Thánh đã thực sự lãnh trách nhiệm về câu vốn là cổ điển đối với người Kitô: “Một linh hồn tự nâng lên, thì cũng nâng cả thế giới lên”.

Qua bài thuyết trình này, rất tiếc là nó quá sơ lược, người ta thấy một sự thay đổi rất sâu sắc đã xảy ra vào thế kỷ XVI trong cách quan niệm của Israel về vai trò của Đấng Messia mà họ trông đợi. Chính trong trông đợi cũng thay đổi về ý nghĩa. Người ta không còn trông đợi quá đáng một Đấng Messia đã được chỉ định đích danh. Đấng Messia đã trở thành toàn thể dân Israel. Cuộc lưu đày và sự Cứu chuộc không còn là những sự kiện lịch sử riêng của một mình Israel. Viễn cảnh toàn quốc vẫn còn đó, đúng thế, nhưng sự cứu chuộc đất nước Israel biểu trưng cho một thực tại thật sự nội giới và nó là chính nền tảng của mọi tạo vật. Điều đáng được chờ đợi, đó là một sự thay đổi nhịp độ nơi trái tim của việc Tạo dựng, đó là toàn thể trái đất được tái lập trong sự hài hòa ban đầu.

Những viễn tượng thiêng liêng như thế, nói lên rằng chúng ta đang làm việc với các nhà thần bí, điều này không còn gì để nghi ngờ.

 HASSIDISME (Một luồng tư tưởng thần bí của Do thái giáo)

 Luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) cuối cùng của các phong trào lớn về tôn giáo. Cách quan niệm về các sự việc ở đây thì đơn giản hơn nhiều.

Luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) này đã xuất phát từ Bồ Đào Nha vào thế kỷ XVIII và từ đó, nó đã ghi đậm dấu ấn của triết học Do thái, nhất là tại Đông Âu. Trước hết nó được biểu lộ như một phản ứng tôn giáo sống động trong một bối cảnh quá cùng cực về vật chất. Người Do thái tại Bồ Đào Nha, vào đầu thế kỷ XVII sống trong một tình trạng vô cùng thiếu thốn. Những môi trường khá giả đang biến dần. Những người nghèo không còn thì giờ và ham thích học hỏi Kinh Talmud, trong khi hàng thế kỷ, nó đã là đối tượng hàng đầu của mọi người Do thái. Nhiều trường học môn Talmud đã phải đóng cửa vì thiếu phương tiện tồn tại. Những người Do thái nghèo khổ trở nên thất học và một hố sâu đã hình thành giữa những người “am hiểu” đã được học một khóa đầy đủ về môn Talmud và với đám đông những người thất học, họ chỉ được dạy dỗ đủ để đọc được cuốn sách kinh nguyện của họ. Vì thế, Talmud nói rằng một “người thất học không thể là một người sùng đạo”, nghĩa là người này vì không có kiến thức tôn giáo nên họ không thể giữ luật Tôrah cho đúng được. Hoặc là, nếu họ có giữ luật đi nữa thì họ cũng không thể hiểu gì về ý nghĩa của nó. Thực hành một tôn giáo mà không nắm được ý nghĩa của nó, thì như chúng ta là người Kitô, chúng ta quá biết điều đó sẽ dẫn đưa đến đâu! Chính trong một bối cảnh như thế mà nảy sinh ra luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) này, sau cuộc phiêu lưu quá mức của một Messia giả, ông này vào cuối đời đã quay sang đạo Hồi.[4]

Luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) này thì quả là rất đơn giản. Nó đáp lại một cách tuyệt vời cho những ước mơ tôn giáo của những con người giản dị. Tôi muốn nói chữ “giản dị” trong một ý nghĩa hoàn toàn không phải xấu.

Giản dị như nữ thánh Têrêxa thành Lixiơ, hay cha Curé d’Ars, hay Sắc lơ Phucô của chúng ta đều là giản dị. Luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) này là một tôn giáo của con tim, hoàn toàn tập trung vào sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi sự. Trong mọi sự, ngay cả trong những người khiêm tốn nhất, đơn sơ nhất và bị khinh thường nhất. Hassidisme này định nghĩa chặt chẽ câu (6,3) của Isaia: “Vinh quang của Thiên Chúa tràn ngập trên trái đất”. Thiên Chúa cũng hiện diện trong các biến cố, trong các tư tưởng, trong các lời nói. “Ở khắp nơi đều có những ‘tia chớp’ của thần bí làm cho chúng ta sống lại trong mọi giây phút của cuộc đời chúng ta.” Ngay cả trong sự dữ, Thiên Chúa cũng hiện diện, bởi sự dữ không bao giờ hiện diện ở trong tình trạng thuần túy của nó, nó luôn bị lẫn lộn vào một chút sự lành nào đó, và Thiên Chúa luôn có thể rút điều thiện ra từ sự dữ.

Từ tâm điểm của luồng tư tưởng (Hassidisme) này, có một tri thức sâu sắc, được trải nghiệm, rằng tất cả những gì được làm theo thánh ý của Chúa, đối với chúng ta là những thụ tạo khốn khổ, vẫn luôn là một mầu nhiệm. Điều tốt nhất cho con người, là không mất thì giờ vào những chuyện hão huyền để dò xét xem lý do tồn tại của mình là gì, mà là chấp nhận với lòng biết ơn và hoan hỷ vì đã được mời gọi bước vào cuộc sống do ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Từ ngữ Hassidisme xuất phát từ chữ hesed, vốn là một trong những từ ngữ quan trọng nhất và đẹp nhất của Kinh Thánh, của Cựu ước. Nó diễn tả sự biếu không tình bạn, vốn là nguồn gốc của sự lựa chọn về Tình yêu. Thiên Chúa đã ban cái hesed (tình bạn biếu không) của Ngài cho Israel khi Ngài chọn nó để nó trở nên dân của Ngài. Nhưng khi ban điều đó, Ngài ước muốn có sự qua lại. Giao ước, đó chính là sự trao đổi những tình bạn biếu không (hesed) đó, con người phải đổi lại cho Thiên Chúa (bởi Ngài trông chờ điều đó) cái gì đó mà nó vốn phải ở bên trên Lề luật và đạo lý. Đó phải là một sự thiện cảm vốn đón trước những điều mong muốn của Thiên Chúa, ngay cả khi những mong muốn đó không được diễn tả rõ ràng. Đó chính là sự biếu không; và biếu không là câu chủ lực của mọi tư tưởng hơi cao một chút. Làm một việc gì không phải là vì đó là điều buộc, không phải để có một phần thưởng, không phải vì là…, nhưng là làm việc đó một cách nhưng không. Nếu đạo Kitô – nhân tiện nói qua ở đây – không đi đến chỗ biếu không một cách cao cả, thì bổn phận chúng ta, chính là phải từ bỏ nó ngay tức khắc.

Đối với nhà triết học đương thời Martin Buler, tác giả của cuốn sách tuyệt vời Je et Tu (Tôi và Bạn), ông đã nghiên cứu rất nhiều để diễn tả luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) này, nó quả là “bông hoa của nền thần bí Do thái”. Ông đã nêu đặc tính của nó một cách rõ ràng khi ông viết. “Luồng tư tưởng thần bí (Hassidisme) đã diễn đạt cách hùng mạnh và rõ ràng nhất: không thể nào có được ở đây những hành động quyết định, hữu hình, có thể giảng dạy được (…) điều đó vốn có thể thật sự làm cho xuất hiện sự cứu chuộc theo một hình thức tiên liệu và bằng những cử chỉ đã ban sẵn, bằng những thái độ và những ý định của linh hồn. Trong lối suy diễn của Hassidisme (…), sự thánh hóa mọi hành động không phần biệt đều mang cái quyền năng cứu chuộc đó. Chỉ bằng sự cứu chuộc thường ngày mà cái “luôn mãi” của sự cứu chuộc mới có thể đến”. Miễn là các hành động phải được thực hiện một cách vô vị lợi và duy nhất chỉ vì lòng mến Thiên Chúa.

Và ông Martin Buler nghĩ rằng lối suy diễn của Hassidisme là cách thanh toán thực sự chủ nghĩa cứu chuộc khỏi ý tưởng của người Do thái. Ông đã viết điều này, vốn là điều cốt yếu: “Thông điệp của lối suy diễn Hassidisme về sự cứu chuộc phủ nhận rằng, trong thời kỳ Đấng Cứu chuộc, người ta đề cao và tách riêng một con người đặc biệt ra khỏi những con người khác, một thời gian đặc biệt ra khỏi những thời gian khác. Toàn thể nhân loại cộng tác vào cùng một công trình, mọi thời gian đều là ngày cứu chuộc trực tiếp, mọi hành động làm vì lòng mến Thiên Chúa đều có thể trở nên một hành động của Đấng Messia. Nhưng chỉ có hành động làm không vì ích riêng mình mới có thể gọi là làm vì lòng mến Thiên Chúa. Việc tách riêng ra, xu hướng con người là muốn đặt một sự trổi vượt cho một người nào đó, cho một giờ nào đó, một hành động đặc biệt nào đó, chỉ có thể phá hủy phẩm chất vô tư của hành động. Hành động vì mục đích cứu chuộc làm cho con người hướng cuộc đời mình vào thế giới của Thiên Chúa, làm cho nó mở ra và triển khai vì sự cứu chuộc trong mọi giây phút của nó cho đến giây phút cuối cùng”.

Tôi nói: bản văn chủ yếu, nhưng không phải không có gì để tranh luận. Nhiều người Do thái không đồng quan điểm với Buler. Gershom Scholem, đối với ông, ông không thấy được trong luồng tư tưởng Hassidisme này, một sự thanh toán đối với thuyết cứu chuộc, mà đúng hơn sự vô hiệu hóa nó. Đối với ông, thuyết cứu chuộc là một “sự pha trộn kỳ diệu mà ghê sợ của cơn khát thần bí và của niềm hy vọng Khải huyền”. Nếu sự mong đợi Đấng Cứu thế nằm ở chính giữa cuộc đời và tư tưởng tôn giáo của người dân Israel, thì cái nguy cơ kia rất lớn, vì sự trông đợi chỉ là trông đợi, và còn cái hiện tại, những bổn phận hiện tại, lại bị giảm giá đi. Chính vì thế mà thuyết Cứu độ phải được vô hiệu hóa. Không phải là thanh toán, mà làm cho quân bình. Được quân bình nhờ vào sự chú tâm vào lãnh vực thường hay bị xao lãng của những hành động đơn giản và tầm thường trong bổn phận hằng ngày của chúng ta.

Đây là vài câu giáo khoa của các tác giả về thuyết Hassidisme:

“Một câu chuyện ba hoa với người hàng xóm của bạn cũng có thể là đề tài cho một sự nguyện ngắm sâu xa”.

“Việc quan trọng nhất là trong cách thức phục vụ Thiên Chúa, đó là làm việc đó giữa những chuyện đời, chứ không phải những chuyện thiêng liêng”. (Đây là một câu mà tôi rát muốn lấy làm phương châm cho mình).

“Ngay trong chính những cuộc bàn cãi dài dòng tại các quán cà phê, về chính trị hay những cuộc nói chuyện về chiến tranh giữa các dân tộc – điều mà, dưới cái nhìn của các nhà luân lý học Do thái của thời kỳ đó, là đỉnh cao của nghệ thuật nói, là để không nói gì cả và của nghệ thuật làm mất thì giờ – mà một người có thể đạt tới một sự kết hiệp thân mật với Thiên Chúa”.

Sau cùng: “Không một việc nào, nhỏ hay lớn, của thế giới này mà lại tách rời với Thiên Chúa, bởi trong mọi sự Ngài đều hiện diện. Vậy thì, con người kiện toàn, có thể dấn thân vào những cuộc nguyện gẫm sâu xa và những hành động chiêm niệm “kết hiệp”, ngay cả trong những hành động trần thế nhất, như ăn, uống, hay trong những quan hệ giới tính và ngay cả trong những công việc làm ăn buôn bán”.

Buler nói là thuyết Hassidisme “đã đốt lên trong lòng các môn đệ của ông niềm vui sống cuộc sống đúng như nó phải là, để hưởng trần gian này đúng như nó phải là, trong từng giờ của cuộc sống đúng như nó hiện diện”. Thật ra, đúng đắn và đáng ca ngợi, với điều kiện là phải nói rõ – điều mà Buler không làm, nhưng người khác đã làm – rằng niềm vui thì không có ở nơi trần gian này, vì tư cách của nó là thế, nhưng nó có ở trong sự hiện của Thiên Chúa trong trần gian này, ở bên trong các bổn phận của trần gian này. Nói cách khác, thì không phải niềm vui của trần gian, mà niềm vui được kết hiệp với Thiên Chúa đang hiện diện trong thế giới và không có ở một nơi nào khác, vì không có thế giới nào ở phía sau.

ANDRÉ NEHER

Để kết thúc chúng ta sẽ đề nghị ông André Neher, giáo sư đại học Strasbourg, dẫn đưa chúng ta đến với tâm điểm của tư tưởng Do thái ít là điều mà ông cho là tâm điểm của tư tưởng Do thái và tôi tin rằng nó phải đúng là thế. Với Emmanuel Lévinas, Martin Buler và một vài người káhc, ông là một trong những người đại diện sáng giá nhất cho chủ nghĩa nhân văn Do thái. Nếu, giữa nhiều người khác, tôi chọn ông để kết thúc, là vì ông có thể, hơn các người khác, làm dấy lên một cuộc đối thoại cần thiết giữa Israel và Giáo Hội. Hơn các người khác, ông có thể giải thích điều mà người Do thái đã cho là từ chối, khi họ từ chối Thông điệp Kitô giáo.

Ý tưởng mà ông Neher nhắm vào Kitô giáo, là chính những người Kitô hữu phải thiết lập nó cho dù về bản chất nó là hàm hồ trên nhiều điểm, và trên một số điểm khác nó hoàn tàon sai. Vì không đủ thời gian chúng ta sẽ không thể đem ra mổ xẻ từng chi tiết. Chính mỗi người chúng ta phải nâng mình lên chóp đỉnh này đối diện với chóp đỉnh kia. Chúng ta hãy nói cùng với Péguy: “Các cuộc tranh luận chỉ mang lại kết quả ở trên các đỉnh cao”.

Đỉnh cao của Do thái giáo, theo Neher thì ở trong vị trí hàng đầu tuyệt đối của công trình nhân loại, của bổn phận loài người phải được hoàn tất ở trần thế này. Chính ở công trình này, ông nói, nghĩa là bổn phận của con người, mà nổi lên cái khác nhau giữa người Do thái giáo và người Kitô giáo. Tại sao? Bởi vì “Chủ lực trung gian (vectơ) của người Do thái về vấn đề cứu chuộc thì hướng về con người, còn chủ lực trung gian (vectơ) của người Kitô thì hướng về Thiên Chúa.” Lề luật thì không ở trên trời, nó ở dưới đất. Cuối cùng, cho dù thuyết cứu chuộc kia của người Do thái có thể dẫn lẫn lộn với một thuyết nhân văn thế tục nào đó, thì điều đó không có gì lạ.

Những thuyết cứu chuộc trần thế hiện đại, ngay cả và kể cả chủ nghĩa mác xít, cũng đều kín múc một cách hữu cơ trong cội nguồn Do thái. Chủ nghĩa mác xít chỉ đơn thuần tái nhập cái hàng ngang Do thái (l’horizontale juive) mà Kitô giáo đã chuyển đổi sang hàng dọc (en verticale). Chính cái phía bên kia đó (l’au-delà) mà người Do thái đã phủ nhận trong Thông điệp Kitô giáo, đúng là sự cắt đứt giữa trời và đất. Người ta muốn nói ngay là: họ thật có lý để từ chối cái phía bên kia, nếu người ta hiểu đó là một thế giới hậu phương (arrière monde) nào đó mà người ta đặt để Thiên Chúa vào đó như người ta có thể. Khi chúng ta nói về cái phía bên trên là chúng ta nói về cái gì? Nhiều người Kitô tin vào một thế giới ở bên kia, nó giống như một thế giới hậu phương, người ta sẽ được chuyển sang đó sau khi chết; thế rồi những bổn phận ở trần thế này là những thao tác giúp chúng ta có cơ hội để tập các nhân đức và qua đó người ta sẽ được phần thưởng khi họ được chuyển sang cái thế giới hậu phương đó mà người ta gọi là thiên đàng. Ý nghĩa này của André Neher buộc chúng ta phải suy nghĩ cho nghiêm túc. Người Do thái đã cắt đứt quan hệ giữa trời và đất.

Ông Neher viết một câu rất ý nghĩa này: Người Do thái có một niềm tin xác tín rằng “công trình – một quãng thời gian ngắn ngủi trong cuộc sống con người này nếu nó tràn ngập bằng những công trình – nó cò hơn tất cả một mớ rình rang những mối phúc thật của thế giới bên kia”. Chúng ta phải suy nghĩa về điều này: một quãng thời gian ngắn ngủi trong cuộc đời phù du này của con người, nhưng tràn ngập bằng những công trình, thì điều đó có phải là bác ái không?

Nói cách khác, nếu những khái niệm về sự sống còn, sự sống lại và về thế giới trong tương lai đã có vị trí trong tư tưởng Do thái, đó là với điều kiện rõ ràng là những khái niệm đó không chống lại với sự tuyệt đối của việc từ bỏ tư lợi và sự biếu không. Trong mức độ ý tưởng về ơn Cứu độ hay hình phạt xuống hỏa ngục làm cho sự lo lắng về phần thưởng hay về hình phạt nơi con người chiếm ưu thế hơn hẳn, thay vì sự vô vị lợi trong hành động, ý tưởng trên cần phải từ bỏ một cách không thương xót. Chỉ duy nhất để không trở nên hèn nhát mà người chiếm đấu phải kiên trì trong trần chiến, họ có thể bị trúng thương hay bị chết mà biết rằng mình sẽ không được lãnh nhận một công lao nào hết.”

Do đó, sự đau khổ và cái chết được chấp nhận với đôi mắt mở to, như những cái thất bại mà không cần một chút đền bù nào. Và chính ở bên trong cái chơ vơ cô quạnh tuyệt đối mà niềm hy vọng bừng lên. Niềm hy vọng chứ không phải ơn Cứu độ. Niềm hy vọng vào trung tâm ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vốn không hề biết đến tiếng chuông reo của ngày chủ nhật Phục sinh. Đức Kitô của người Kitô hữu, đó là ơn Cứu độ. Còn ông Neher nói, Israel đã lựa chọn niềm hy vọng. Và, mượn của Teilhard de Chardin, cái hình ảnh về điểm Oméga của ngài để nói ngược lại điều đó, ông xác định: “Con người sẽ không thể là hình ảnh của Thiên Chúa nếu, ở một lúc nào đó của cuộc phiêu lưu và sứ mạng của nó, nó phải gặp gỡ điểm Oméga (điểm cuối) mà ở đó “mọi sự sẽ được hoàn tất”. Chính xác là vì Thiên Chúa là vĩnh cửu và không có sự Cứu độ, cũng không có sự rút lui, không có sự hoàn tất, cũng không có sự nghỉ ngơi của người chiến sĩ cho con người”. Sự cao cả của con người, đó là nó được phóng ra phía trước, hướng tới cái chưa hoàn tất. Chính cái chưa hoàn tất mới là quan trọng cho dân tộc Israel. Đức Kitô mà Israel phủ nhận, đó là Đấng đã hoàn tất, Ngài xóa đi như thế cái chưa có và cái có thể có (le peut-être).

Chưa hoàn tất, chưa có, có thể có theo André Neher, đó là những từ chủ chốt của tư tưởng Do thái. “Có thể vào mùa xuân năm tới, bánh mì sẽ xuất phát từ những luống cày này. Có lẽ, hạn hán và mưa đá cũng có thể đến, và có lẽ vào mùa xuân tới, sẽ chỉ còn là thối nát và chết chóc. Không can chi! Không can chi vì hành động đã được thực hiện”. Hành động gieo vãi. Tất cả sự cao cả nằm ở trong hành động đó, và sự cao cả đó sẽ bị hủy bỏ nếu có nguy cơ bị hạn chế. Ngày thứ sáu sẽ không còn là một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nếu, trong đêm của núi Calvariô, những tiếng chuông sáng ngày Phục sinh có thể được vang lên. Nhưng có lẽ những tiếng chuông đó sẽ không vang lên. Có lẽ.[5]

Tóm lại, ông Neher biện hộ cho sự ban tặng nhưng không chống lại Kitô giáo. Chúng ta nên đi vào cuộc đối thoại với ông về ba điểm này:

Điểm thứ nhất: Với tư cách là Kitô hữu, tôi xin nói rằng việc Kitô giáo đã chuyển đổi cái nhìn hàng ngang Do thái sang cái hàng dọc là không đúng. Cái hàng ngang (l’horizontale), đó là Tình yêu con người đối với con người, đó là việc kiện toàn bổn phận của con người – là công trình, như Neher nói – trong sự tuân phục lời của Đức Kitô: “Các con hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Đó chính là tất cả những gì là hàng ngang nhất. Hàng dọc, đó là sự thờ phượng một Thiên Chúa vốn không hiện diện ở bên ngoài thế giới, nhưng hiện diện một cách sinh động trong tâm điểm của những hành động tự do đang kiện toàn bổn phận của chúng, đang nhân hóa một thế giới mà thật sự nó chưa được nhân hóa. Thiên Chúa không ở chỗ nào khác, bởi không có chỗ nào khác. Vậy thì, sự xung đột nằm ở đâu? Tôi vẫn luôn nhắc lại rằng Đức Kitô Phục sinh thì hiện diện trong các quyết định nhân hóa của chúng ta để đem đến cho chúng một chiều kích linh thiêng. Ngoài cái đó ra, chỉ là văn chương, hay, như André Neher nói, là một sự “hỗn độn”. Hoặc là Thiên Chúa không hiện hữu, hoặc là Ngài ở ngay trung tâm điều tôi quyết định để làm nên việc thực hiện một thế giới nhân bản hơn và huynh đệ hơn. Không hề có ý định chuyển hàng ngang sang hàng dọc, Kitô giáo dứt khoát không thừa nhận một hàng dọc khi nó không ở tâm điểm của hàng ngang. Người Kitô còn phải biết rằng niềm tin của họ là để giúp họ dấn thân vào cuộc đối thoại đó, nếu không, nó sẽ chỉ là một cuộc đối thoại của những người điếc.

Điểm thứ hai: Không bao giờ Kitô giáo lại quan niệm mối phúc vĩnh cửu như là một mối phúc “của giấc ngủ” hay như một “tình trạng sau hết” (theo lời của André Neher). Cuộc sống vĩnh cửu của chúng ta sẽ là một sự tham gia vào chính hoạt động của Thiên Chúa. Cần phải phản kháng với Claude Bruaire, một triết gia nổi tiếng của thời đại chúng ta, chống lại mọi quan niệm về một cái vĩnh cửu khô cứng và co cụm. Bởi khi đó thì lịch sử của chúng ta sẽ ra sao, lịch sử của sự kiện toàn bổn phận con người của chúng ta, nếu lịch sử đó đi vào trong một cái vĩnh cửu hóa đá: điều đó không có nghĩa gì cả. Mới đây, trong những năm ba mươi, nhà triết học René Le Seane đã nói gần giống như André Neher hôm nay. Ông đã viết: “Không có tình trạng cuối cùng. Chúng ta phải tránh xa những học thuyết coi thời gian như một sự đi qua nhờ đó tinh thần được đưa vào trong một tình trạng ở đó nó có thể bị sa ngã”. Cha Yves de Montcheuil đã đáp lại: “Nếu không có tình trạng cuối cùng, thì cũng không thể có một hành động trọn hảo sao? Cuộc sống vĩnh hằng đích thực của Kitô giáo không làm cho linh hồn ra khô cứng trong một sự chiêm ngắm thụ động về một đối tượng nào, cho dù nó là trọn hảo hơn hết (cho dù đó là Thiên Chúa). Nếu sự trọn hảo của tinh thần chính là sự chiến thắng trong nó về đức ái, và nếu Thiên Chúa là bản chất của Đức Ái, sự kiện tàon của tinh thần chính là trở nên người tham dự vào hoạt động tự tại của Thiên Chúa. Sự vui hưởng hay vì cố gắng đây không phải là sự sa ngã vào tình trạng bất động và khô cứng, đó là sự trọn hảo của hoạt động thay vì việc làm bất hảo của nó”.

Đây là điều chúng ta cần phải triển khai. Và cùng lúc này, cuộc đối thoại sẽ bước vào điểm thứ ba: sự từ bỏ, sự ban tặng nhưng không. Sau cùng thì những tiếng chuông Phục sinh nói gì? Những gì tiếng chuông Phục sinh nói và những gì người ta có thể cảm nhnạ được từ tâm điểm của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, đó là vì niềm vui vĩnh cửu chính là niềm vui – sau cùng có được cái khả dĩ từ bỏ triệt để và ban tăng nhưng không triệt để. Đối với người Kitô, ân huệ là một sự tăng thêm vào cho cái nhưng không. Điều mà chúng ta cầu xin Thiên Chúa không phải là những ơn huệ – ít ra, đây không phải là điểm cao của Kitô giáo – nhưng là một sự tăng thêm vào cho cái nhưng không; chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta được từ bỏ triệt để.

Ở Gevève, thành phố của Calvin, người ta đã đặt ra một câu hỏi cho tôi: Làm sao bạn có thể dung hòa sự nhưng không mà bạn nói đó là tâm điểm của Kitô giáo với Năm Thánh mà người ta hứa hẹn những ân xá? Những ân xá (indulgences) không có một ý nghĩa gì nếu chúng không phải là một sự tham gia vào ơn huệ được tiến tới một khả dĩ thêm vào cho cái nhưng không.

Niềm hy vọng Kitô giáo, cái mà chúng ta gọi là ơn Cứu độ, đó là sau cùng được sống một Tình yêu hoàn toàn được tước bỏ mọi ích kỷ. Và nếu người ta nói về mối phúc vĩnh cửu như một phần thưởng – điều làm cho André Neher sẽ phải bất mãn lắm -, chính trong cái ý nghĩa này mà quan niệm về phần thưởng sẽ không còn ý nghĩa nữa: điều đó sẽ là Thiên Chúa được mong muốn và được yêu mến chỉ vì Ngài mà thôi, và anh em đồng loại của chúng ta được yêu mến và được mong muốn cũng chỉ vì họ mà thôi. Tôi muốn nói là: chỉ vì chính Ngài và vì chính họ một cách triệt để.

Tôi kết luận rằng ở lãnh vực tiền đồ này có thể mở ra trên viễn tượng của một cuộc đối thoại tuyệt đẹp, của một trực diện thật sự dồi dào giữa Giáo Hội và Israel.


[1] Trong cuốn viết tay của những tài liệu lưu trữ của Cha Varillon, người ta thấy có bản thảo của hai bài thuyết trình về Do thái giáo, được ghi số (I) và (II). Thật ra, tôi không thấy có một cuốn băng ghi âm nào, cũng không một bản sao chép nào của bài I, chỉ vì thuyết trình viên đã không thể đem hai bài này vào loạt sáu bài của năm đó; chỉ có bài thứ hai đã được thuyết trình. Chính ngài đã giải thích và trả lời, sau bài thuyết trình thứ hai, cho một thính giả đã hỏi ngài về việc phụng tự của người Do thái ngày nay: “Để nói cho hết, thì trước hết tôi đã chuẩn bị hai bài thuyết trình. Nhưng sau cùng tôi đã không thể đem chúng vào chương trình các bài giảng thuyết trình. Nhưng sau cùng tôi đã chuẩn bị một bài viết đầu tiên đúng vào đề tài nói về sự phát triển của việc phụng tự này, bài thứ hai là bài tôi đã trình bày cho các bạn ngày hôm nay.” Vì hai bài này, liên kết chặt chẽ với nhau, nên người ta đã tập hợp chúng vào trong cùng một bài và dưới cùng một tựa đề.

[2] Tập viết tay của bài thuyết trình thứ nhất về Do thái giáo chấm dứt ở đây bằng một lời giới thiệu cho bài viết thứ hai như sau:

“Vào lần gặp gỡ sau, chúng ta sẽ thấy phép tiên tri đã xảy đến như thế nào dưới những hình thức khác vào thời kỳ Kinh Thánh, và đã chuyển biến vào những thời điểm khác nhau của thời kỳ đổi mới tinh thần ngang qua những cấu trúc đi đến sự xơ cứng. Không bao giờ Do thái chấp nhận một cách đơn thuần việc vâng giữ Lề luật theo kiểu nô lệ cho nghĩa đen, vì nó vốn giết chết. Điều quan trọng là người Kitô hữu phải biết điều đó, để cho cuộc đối thoại giữa người Do thái và họ không phải là cuộc đối thoại của những người điếc.

[3] Ở đây bắt đầu bài thuyết trình thứ hai về Do thái giáo, bài đã thật sự được đọc. Khi giới thiệu bài này tại giáo xứ Sainte Cécile ở Paris, cha Varillon đã nhấn mạnh: “Bài thuyết trình này rất tiếc là nó rất tòm tắt, bởi nói về một tôn giáo phức tạp như Do thái giáo chỉ trong hơn một tiếng đồng hồ quả là một chuyện kỳ dị khó tin”.

[4] Đây là ông Sabbatai Zevi (1626-1676), ông dã dấy lên trong Do thái giáo, vào thời kỳ di tản, một phong trào rất quan trọng về Đấng Cứu độ, phong trào này còn giữ lại được những người tin theo cho tới giữa thế kỷ XIX.

[5] Trong cuộc trao đổi với cử tọa và cuối bài thuyết trình này, cha Varillon nhấn mạnh trên cáo “có lẽ”. “Đối với André Neher, tiền đồ của tương lai, chính là “có lẽ”. Có thế thôi. Sự thiếu hụt cái có lẽ, đối với ông, chính là một sự giảm giá của niềm hy vọng. Tất cả đều tóm tắt trong câu này của ông: “Những cái chuông lễ Phục sinh, chúng có sẽ vang lên không? Có lẽ!” Nhưng, nếu những cái chuông vâng lên thực sự, thì ngày Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ không còn là Thứ Sáu Tuần Thánh nữa. Ngoài ra, điều đã trở nên vấn đề quan trọng, đó là lương tri của Đức Kitô. Nếu Đức Kitô nhớ đến vinh quang của Ngài trước khi Ngài sinh ra trên mặt đất và nếu Ngài biết rằng mình sẽ tìm lại được vinh quang đó ngay hôm sau cái chết của Ngài, thì ngày Thứ Sáu Tuần Thánh chỉ là một thời gian xấu mà Ngài đã trải qua. Đây chính là một trong những vấn đề được các nhà thần học quan tâm nhất vào thời điểm này. Và, theo tôi thì người đã đào sâu nhiều về vấn đề này, đó là người đồng nghiệp của tôi, cha Jacques Guillet, trong cuốn sách của ngài Jésus devant sa vie et sa mort (Đức Giêsu đứng trước sự sống và cái chết của ngài)

TRÍCH DẪN NHỮNG TRAO ĐỔI VỚI CỬ TỌA

 VỀ VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI DO THÁI TRONG LỊCH SỬ THÁNH

 -Người Kitô có thể hình dung trong tương lai, một vị trí ưu đãi cho người Do thái trong lịch sử thánh?

-Chắc hẳn là có. Bởi trong thư viết cho người Roma (11,1-30) thánh Phaolô đã báo trước sự hội nhập lại toàn thể dân tộc Do thái. Vị trí ưu đãi đương nhiên vẫn hiện hữu vởi Do thái giáo là nguồn gốc của Kitô giáo. Các bạn hãy nhớ lại Đức Thánh Cha Piô XI khi phản kháng lại sự bài Do thái, đã thốt lên rằng, chúng ta, người Kitô, “về tinh thần thì chúng ta là những người Do thái”. Chính vì thế, bài Do thái quả là hoàn toàn sai.

Về sự liên kết giữa người Do thái với Đất thánh

 -Trong mức độ nào, người Do thái coi Đất Palestine là đất của họ, Eretz Israel!

-Về những câu hỏi như trên, tôi chỉ có thể trả lời bằng cách để chính những người Do thái nói về điều đó. Người ta có thể đối chiếu với cuộc đối thoại rất đáng chú ý giữa người Do thái Saul Friedlander và nhà báo nổi tiếng Jean Lacouture trong một số báo gần đây của Nouvel Obserteur (Nhà quan sát mới), Saul Friedlander nói[1]

“Để bắt đầy, tôi xin nói thẳng và một cách khách quan rằng, người Palestine đã phải hứng chịu một sự bất công, cho dù người ta đã không chủ trương đề bẹp nó lên vai họ. Không cần thiết để nhắc lại rằng tôi nhìn nhận sự hiện hữu của một dân tộc Palestine, ít ra qua những gì tôi học hỏi được. Nhưng cho dù một sự bất công đã đè lên vai người Palestine thì điều đó không có nghĩa là phải bác bỏ vấn đề chủ nghĩa Sion (Sionisme) (…) Dân tộc này (dân tộc Do thái) chỉ quan niệm mình là dân tộc khi họ gắn liền với mảnh đất này. Do thái giáo, ngoài ra còn là một quốc giáo, từ nguồn gốc, nó vốn là sứ mạng đặc trưng của một nhóm người, từ lâu đời đã có một lịch sử quốc gia. Người Do thái không thấy có một sự phân biệt triệt để giữa tôn giáo và dân tộc. Nhưng thật ra, một vài ý tưởng Do thái có tính cách toàn cầu, nhưng cũng có cái gắn bó giữa một dân tộc “được chọn” do Thiên Chúa, nhưng thật sự một dân tộc, để mang lấy một sứ mạng nào đó, và tôn giáo thì gắn liền với sự sống của dân tộc, và dân tộc đó thì gắn bó chặt chẽ với một mảnh đất nào đó trong ý tưởng tượng của họ. Tôn giáo, dân tộc và mảnh đất làm nên một toàn thể không thể tách rời trong tư duy Do thái Do thái”.


[21] Số ra ngày 4-10 tháng 11, 1974. trong các tài liệu lưu trữ của cha Varillon, một phần lớn của bài viết phỏng vấn này đã được trao lại, đánh máy, thành những bản văn phụ cho bài thuyết trình. Chúng ta chỉ giữ lại những đoạn mà cha đưa ra trong khi trao đổi.

1 2

Comments are closed.