Mục vụ giới trẻ với những thách đố và kế hoạch hành động

0

MỤC VỤ GIỚI TRẺ QUA BỐN CHIỀU KÍCH

Với NHỮNG THÁCH ĐỐ và KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG

 

Việc loan truyền Tin Mừng thông qua việc giáo dục giới trẻ là một yêu cầu cốt thiết cho việc hình thành những nhân cách có trách nhiệm đối với xã hội và cách riêng đối với Giáo Hội. Trách nhiệm mục vụ giới trẻ không phải là một hoạt động mang tính hình thức (dù rằng phải có trong một tổng thể) nhưng là một tiến trình đồng hành lâu dài mà người Sinh động viên cần xác tín và kiên nhẫn thực hiện. Đây là một sứ vụ cấp bách trong việc giáo dục giới trẻ ngày nay, bởi đó là lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Hãy để người trẻ đến với Ta…” ( Mt 19, 14). Sinh động viên giới trẻ trải qua những năm tháng đồng hành với nhiều cam go thử thách, nhưng với những hy sinh lao nhọc ấy mà có thể đem lại niềm hy vọng cho người trẻ và nhìn thấy họ tăng trưởng với một sự tự lập ngày càng có ý thức và trách nhiệm, thì đó là một tin vui mà Giáo hội đang mong chờ nơi chúng ta – những nhà giáo dục giới trẻ. Trong viễn ảnh đó, bài viết này xin gửi đến cử tọa những đóng góp nhỏ bé về việc mục vụ giới trẻ với bốn chiều kích:

1.   Sự phát triển nhân bản nhấn mạnh trên quà tặng của sự sống.

2.   Sự phát triển thiêng liêng nhấn mạnh trên quà tặng của đức tin.

3.   Sự phát triển nhân vị xét như một cá nhân, nhấn mạnh trên khả năng lựa chọn và quyết định.

4.   Sự phát triển liên vị xét như là thành phần của cộng đoàn, nhấn mạnh trên khả năng sống tương giao với người khác.

ITăng trưởng nhân bản (chiều kích giáo dục và văn hóa):

1. Những thách đố:

  • Một xã hội đang thay đổi quá nhanh chóng, truyền thông phát triển vượt bậc quảng bá những giá trị, ngôn ngữ và tiêu chuẩn có chủ đích đang cổ vũ những mô hình và lối sống thực dụng, ích kỷ, phóng túng…
  •  Sự ưu tiên gần như tuyệt đối của thước đo kinh tế gây nên những hình thức nghèo đói khác nhau, chất chứa những chiều kích báo động và đe dọa, ngăn cản sự phát triển nhân vị.
  • Nền văn hóa sự chết đang ngày càng có sức hủy diệt và lan rộng vào người trẻ: tình trạng nghiện ngập ma túy với những biến thiên phức tạp; khái niệm dễ dãi và mơ hồ trong đời sống luân lý; hiện trạng di dân để kiếm sống tạo ra sự hụt hẫng và trống vắng tình cảm của gia đình, xứ đạo đến những nơi xa lạ về văn hóa, con người dẫn đến sự bù trừ sự cô đơn bằng lối sống thử trước hôn nhân lan tràn và hậu quả là tình trạng phá thai ngày một gia tăng…

2. Hiện trạng:

  • Chúng ta chứng kiến những hiện trạng đang gia tăng như:

+ Một bộ phận giới trẻ không có khả năng suy tư trừu tượng do bị tác động của mô hình truyền thông với hình ảnh cụ thể ngay lập tức, một lối văn hóa “fastfood”.

+ Sự thiếu vắng các cơ hội trong hoàn cảnh đói nghèo:

– Đói nghèo vật chất: những vùng miền có đời sống khó khăn buộc người trẻ phải tha phương cầu thực; không có cơ hội học hành để thăng tiến nhân bản và vượt thoát đói nghèo.

– Đói nghèo tinh thần: giáo dục thiếu tính đồng bộ (gia đình ít con -> sự nuông chiều quá mức), tình trạng của những gia đình ly hôn hoặc cha mẹ phải đi xa kiếm sống -> sự trống vắng trong mái ấm gia đình.

  • Phản ứng của giới trẻ:

+ Chấp nhận một cách thụ động: họ không tìm thấy chỗ đứng trong cộng đồng dù vẫn có đó.

+ Phản ứng chống lại bộc phát: đua xe; bar – vũ trường – thuốc lắc; tattoo (xăm hình); nhuộm tóc; thu mình trong thế giới ảo…

Đây là khuynh hướng dửng dưng hoặc chạy trốn thực tại và biểu hiện một sự nổi loạn không có mục tiêu xây dựng.

3. Kế hoạch hành động:

  • Phải tìm được câu trả lời cho những vấn nạn và nhu cầu của người trẻ ngay trong môi trường của chính chúng ta.
  • Nghiên cứu những ảnh hưởng của xã hội trên giới trẻ và đưa ra những hành động cụ thể:

+ Nơi có những người trẻ di dân (đi học hay đi làm): quan tâm và đưa họ vào trong bầu khí cộng đoàn; giúp họ hội nhập với gia đình Giáo hội nơi họ phải sống một thời gian; tổ chức lưu xá để xây dựng bầu khí văn hóa kitô giáo trong môi trường mà người trẻ sống.

  • · Hướng dẫn và giúp người trẻ lập được kế hoạch đời sống theo quan điểm cụ thể dưới ánh sáng Tin Mừng:

+ Qui tụ theo nhóm để có những sự hướng dẫn đều đặn

+ Đồng hành cùng họ lâu dài đề giúp họ hình thành não trạng lập kế hoạch đời sống.

  • Cổ xúy bầu khí gia đình thân thiện, giúp người trẻ quí trọng và phát huy các năng lực thể lý, lý trí và tình cảm chân chính.
  • Khai triển sự hiểu biết dựa trên các giá trị phổ quát, học cách để biết thinh lặng và cảm nghiệm thực thụ những giá trị siêu nhiên qua những ngôn ngữ biểu tượng.

II. Tăng trưởng thiêng liêng (chiều kích rao giảng Tin Mừng và Huấn giáo)

1. Những thách đố:

  • Một xã hội bị tục hóa (từ quan điểm và triết lý giáo dục) có khuynh hướng kéo nhiều bạn trẻ xa lìa Thiên Chúa.
  • Các môi trường mà người trẻ đang sống và làm việc thường ít được hay chưa được Tin Mừng hóa, mặc dù có thể nói là họ đã được khai tâm vào đời sống bí tích.
  • Nhiều người trẻ thấy mình xa cách đức tin, mặc dù không ý thức chối bỏ những tiêu chuẩn thực hành (ngôn ngữ, hành vi) không được chỉ định bởi giá trị tôn giáo.
  • Cuộc sống tiện nghi dễ dãi khiến họ khó khăn trong việc thực hành tôn giáo và đời sống đạo đức luân lý.
  • Một thứ nỗ lực đạo đức với việc thực hành tôn giáo tùy dịp, phù hợp với thói quen xã hội và đi tìm sự thỏa mãn các ước vọng, sự an toàn nội tâm nhưng không có đời sống đức tin nhất quán cùng với một sự chọn lựa hữu vị và chín chắn.
  • Tiến trình tục hóa ngày càng bành trướng dần dần gạt bỏ tôn giáo và coi tôn giáo là vấn đề riêng tư của đời sống cá nhân tùy dịp. Hiện tượng này gây nên một sự nhạy cảm nào đó đối với những giá trị thiêng liêng và đi tìm những hình thức mới trong những mối tương quan với Đấng Siêu Việt nhưng lại  có tính giản lược và mê tín.

2. Hiện trạng:

  • Người trẻ không tự tin biểu lộ hành vi đức tin nơi môi trường mình sống và làm việc.
  • Thái độ dửng dưng và vô tâm đối với tình trạng bất công và đói nghèo. Lòng trắc ẩn không có cơ hội thăng tiến. Những đòi hỏi về một tâm thức thành thật và công bằng đang trở thành một sự xa xỉ đối với người trẻ.
  • Người trẻ thụ động trong đời sống đức tin, ít ý thức về trách nhiệm đối với Giáo Hội (tương quan 2 chiều). Lối thực hành đức tin một cách máy móc (tham dự Thánh lễ đứng ngoài đường), tùy dịp (trong dịp lễ Giáng sinh, Phục sinh…) mang tính chất lễ hội hơn là chiều kích nội tâm thiêng liêng.
  • Xu hướng thích chạy theo những hiện tượng lạ hay những giáo phái nhằm thỏa mãn tâm thức siêu nhiên nhưng lại không muốn bị rang buộc bởi những bổn phận.

3. Kế hoạch hành động:

  • Phải giúp người trẻ thực hiện được sự hòa hợp giữa đức tin và cuộc sống. Ý nghĩa linh thánh và biểu tượng tôn giáo phải trở nên tiêu chuẩn hành động cho cuộc sống.
  • Lập kế hoạch để những giá trị của tôn giáo phát sinh những hệ quả cụ thể mà người trẻ hoặc là chính chủ thể thực hiện hoặc gián tiếp chứng kiến (lên phương án cho những hành động cụ thể: tiếp sức mùa thi; tủ sách nhân ái; áo trắng tình thân cho học sinh nghèo; mùa hè tình thương, nhóm ve chai vì trẻ em khuyết tật…)
  • Phát triển một đức tin mạnh mẽ và trưởng thành làm chủ điểm cho nhãn quan của người trẻ về thế giới và đối diện trước các thách đố.
  • Hướng đến một chương trình huấn giáo được hội nhập văn hóa và có hệ thống.
  • Tạo môi trường để phát triển những giá trị cao đẹp trong cuộc sống: cộng đoàn, tình liên đới, lòng trắc ẩn, bầu khí tin tưởng thành thật… Cống hiến được không gian và gương mẫu sống và hành động (vai trò ngôn sứ của cộng đoàn).
  • Hướng đến một sự tham dự sống động tích cực vào phụng vụ và vun trồng ý thức dấn thân để hình thành nên những chứng nhân.

III. Tăng trưởng nhân vị (định hướng ơn gọi)

1. Những thách đố:

  • Trong một nền văn hóa có tính đa diện, việc nhiễu thông tin của truyền thông khiến cho người trẻ ngày càng khó đưa ra quyết định dấn thân.
  • Chủ nghĩa thế tục và duy vật đã hình thành nên não trạng người trẻ quan tâm nhiều hơn đối với những giá trị thực dụng cụ thể, ít nhạy cảm hơn với những giá trị siêu hình và vô vị lợi.
  • Chủ nghĩa tương đối làm suy yếu ý thức về luân lý, gây cản trở kinh nghiệm và đời sống đức tin.
  • Sự phát triển những lãnh vực xã hội ( ví dụ: bác ái là đóng thuế) nhưng không qui chiếu đến động cơ tôn giáo.

2. Hiện trạng:

Từ những thách đố trên dẫn đến thái độ tâm lý và tôn giáo của người trẻ khi phải thực hiện những lựa chọn sẽ phải chịu ảnh hưởng bởi những tác nhân sau:

  • Mục tiêu thành đạt vượt trên người khác được coi như là tiêu chuẩn tuyệt đối trong đời sống hằng ngày.
  • Dù vẫn cảm nhận nhu cầu tinh thần và sự thinh lặng nội tâm và việc cần thiết thực hành tôn giáo, nhưng thực tế thường là theo chủ nghĩa chủ quan, rời rạc và ít có tháp nhập một cách tích cực vào cộng đoàn.
  • Khuynh hướng tâm lý dễ nhàm chán, thích thay đổi các tiêu chuẩn phán đoán (đặc tính KHÔNG THAY ĐỔI của giới trẻ là THAY ĐỔI), làm cho họ khó trung thành đến cùng với những dấn thân dài hạn.
  • Ước muốn sống tính cách xã hội cao độ trong đời sống nhóm và trong những tương quan thể hiện sự công bình và tình liên đới, nhưng lại không muốn ở trong một cơ cấu tổ chức lâu dài xem ra có vẻ gò bó và kỷ luật (một dạng thức hành vi anh hùng nhất thời).
  • Chân tính về mô hình ơn gọi (tu sĩ, linh mục) đôi khi xem ra không rõ ràng, mạnh mẽ và xác tín chưa tạo được sự khả tín nơi người trẻ.
  • Tỷ lệ ly hôn ngày càng gia tăng như một sự báo động về sự  thiếu kiên định, hay thay đổi và thiếu sự chuẩn bị cho việc nhìn nhận giá trị và trách nhiệm trong đời sống gia đình.

3.  Kế hoạch hành động:

  • Cần giúp người trẻ có cơ hội để diễn đạt các nghị lực chất chứa bên trong họ.
  • Cần tận dụng xây dựng các mối tương quan liên vị ghi đậm dấu ấn của sự tín nhiệm, chia sẻ và đón nhận lẫn nhau như một sức mạnh nâng đỡ để họ có thể diễn đạt chính mình cách đích thức qua sự mở lòng với Thiên Chúa và anh em. Từng bước đồng hành để giúp họ có được sự lựa chọn chính chắn và kiên định.
  • Cống hiến môi trường và cơ hội cho người trẻ có sự định hướng vị trí và vai trò trong cộng đồng với khả năng được khám phá và sử dụng những tài năng hướng đến một quyết định đúng đắn.
  • Cổ võ và khích lệ người trẻ về thời điểm tìm về nội giới, giá trị về sự phục vụ cùng với việc thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng.

IV. Tăng trưởng liên vị (chiều kích liên đới)

1. Những thách đố:

  • Trào lưu dịch chuyển của xã hội do sự phát triển các đô thị, các vùng đặc khu kinh tế, tạo nên hiện trạng di dân ngày một rộng khắp (tìm việc làm ở các thành phố, xa gia đình để đi học…) khiến người trẻ cảm thấy hụt hẫng, cô đơn và xa lạ trong các môi trường.
  • Một thế giới phát triển về khoa học kỹ thuật đã hình thành nên một không gian ảo, nơi đó người trẻ tương tác tình liên đới thông qua máy móc mà không phải là những hữu vị cụ thể.
  • Khát vọng tương giao trong tình bạn, tình yêu luôn có nơi người trẻ nhưng lại bối rối  và thất vọng trước những sứ điệp của truyền thông khiến họ không có niềm tin vào cuộc sống và những tương giao.
  • Người trẻ muốn tìm kiếm nhóm để thỏa mãn nhu cầu thông giao nhưng họ lại không muốn tuân thủ những qui định hay những đòi hỏi lâu dài của những loại nhóm truyền thống (ca đoàn, giáo lý viên, huynh trưởng…).

2. Hiện trạng:

  • Hiện trạng di dân đang làm nảy sinh:

+ Sự cằn cỗi của những nhóm cơ bản tại những vùng nông thôn hẻo lánh, nghèo nàn.

+ Sự khủng hoảng thừa ở nhửng nơi đô thị, khu kinh tế tập trung dẫn đến hình thành những loại nhóm chịu tác động của nhiều yếu tố ( thời gian, tâm lý, kinh tế, xã hội…) khó có thể thăng tiến về nhân các cũng như thiêng liêng.

  • Cuộc sống của người trẻ hằng ngày được đan xen giữa những lo âu và hy vọng, giữa khắc khoài và hoài bão, giữa những dự phóng và quyết định khiến họ khó có thể định hướng với một lộ trình rõ rang và lâu dài.
  • Giữa một cộng đoàn đông đảo (giáo xứ lớn, đông người) hay một khu phố sầm uất (họ là người di dân), người trẻ cảm thấy mình bị mất hút trong đám đông và không có ai quan tâm đến họ.

3.   Kế hoạch hành động:

  • Cần quan tâm đến sự đa dạng của các loại hình nhóm phù hợp với những yếu tố của người trẻ nhằm giúp họ lấy lại và phát huy những giá trị sâu xa về tình gia đình, tình bạn, cộng đoàn cơ bản, sự thông giao và chia sẻ.
  • Giúp người trẻ có cơ hội đảm nhận và yêu mến cuộc sống thông qua sự đáp trả cá nhân nhằm hướng tới nhìn nhần cuộc sống nơi mình mang một khát vọng tâm linh. Sự sinh động phải mở ra cho yếu tố tôn giáo, cho việc thinh lặng để lắng nghe và tiếp nhận sứ điệp Tin Mừng, đồng thời gợi lên một sự đáp trả lời mời gọi từ đức tin.
  • Người trẻ là chủ thể chính (vai chính) trong tiến trình sinh động và tăng trưởng nhưng không có nghĩa là để mặc họ, mà luôn đồng hành và đề nghị họ hướng đến một sự cộng tác tích cực giúp họ tăng trưởng với sự tự lập ngày càng có ý thức và phong phú hơn.
  • Sống tình liên đới và thân ái làm cho người sinh động viên mục vụ giới trẻ trở thành điểm kết nối với những người trẻ. Sự rộng mở này không có nghĩa là hạ thấp tiêu chuẩn giáo dục nhưng là sự khẩn trương cống hiến cho người trẻ điều họ cần lúc này và ngay bây giờ. Chính lúc đó bắt đầu khởi đi một tiến trình mời gọi họ bước vào NHỮNG ĐỀ NGHỊ MANG TÍNH ĐÒI HỎI để tiến tới một nhân cách có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, đồng thời tiến tới những cam kết dấn thân cho sự thiện chung của xã hội và xây dựng tình liên đới trong gia đình Giáo Hội ./.

Linh mục Phêrô Phạm Huy Hoàng, SDB

Comments are closed.