Nhưng câu chuyện đơn sơ – kỳ 4

0

101. Sáu ngàn sáu trăm người bị cắt cổ nhưng không nghe họ vang lên một tiếng than

            Một binh đoàn Rôma, gọi là binh đoàn “thébaïne”, gồm sáu ngàn sau trăm binh sĩ công giáo rất thiện chiến.

            Hoàng đế Maximianô ra lệnh cho họ phải chối bỏ đức tin. Đoàn quân công giáo anh dũng nầy đều đồng thanh trả lời:

            – “Tâu bệ hạ, những hạ thần đây là binh sĩ, nhưng cũng là những người phục vụ Thiên Chúa. Những hạ thần vâng lời hoàng thượng để ra trận chiến đấu, nhưng cũng phải vâng lời Thiên Chúa trong đức tin. Những hạ thần không thể vâng lời hoàng thượng bằng cách từ chối không vâng lời Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá, Đấng làm Chủ của những hạ thần và của hoàng thượng nữa.”

            Hoàng đế Maxiamianô tức giận, truyền cắt cổ tất cả binh sĩ của binh đoàn nầy.

            Sáu ngàn sáu trăm binh sĩ nầy bị cắt cổ một cách dã man và rùng rợn, nhưng người ta không nghe họ vang lên một tiếng than, chỉ nghe họ vang lên một lời cầu nguyện chung.

102. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII vừa khóc vừa ôm một em bé bị cắt chân

            Năm 1891, một linh mục thừa sai tại Phi Châu mang một đoàn trẻ nhỏ Phi Châu đến Rôma và có mặt trong một buổi triều yết Đức Giáo Hoàng Lêô XIII. Trong đoàn trẻ nhỏ nầy, có một em bị cưa chân.

            Đức Giáo Hoàng nhìn em và nói:

            – “Con đã bị người ta cưa chân, chắc là con không ngoan.”

            Cậu bé Phi Châu lắc đầu:

            – “Tâu Đức Thánh Cha, con ngoan. Người ta đã chặt chân con vì con không chịu bỏ Đạo.”

            Đức Giáo Hoàng Lêô XIII bỡ ngỡ, muốn hiểu rõ sự thật, nên ra hiệu cho em đến gần để kể cho ngài nghe câu chuyện của em.

Đức Giáo Hoàng vừa nghe em kể, vừa khóc.

            Khi nghe xong, Đức Giáo Hoàng liền ôm em vào lòng và cảm động nói trước mặt mọi người:

            – “Cha chưa bao gờ được hân hạnh ôm một vị tử đạo, nhưng ngày hôm nay, Cha có được hân hạnh nầy.”

103. Khoa học chắp tay thờ lạy Thiên Chúa

            Nhà toán học vĩ đại nhất của thế kỷ thứ mười chín, Augustin Cauchy (1789-1857), nói:

            – “Tôi là người kitô-hưu, tôi là người công giáo cùng với tất cả những nhà thiên văn học vĩ đại, những nhà vật lý học vĩ đại, những văn sĩ vĩ đại đã từng làm vinh danh các Hàn Lâm viện.”

            Một trong những nhà bác học vĩ đai, ông Chevreul (1786-1889), đã từng nói: “Tôi không thấy Thiên Chúa tròng chính Thiên Chúa được vì ngài là Đấng hoàn toàn thiêng liêng, nhưng tôi đã thấy Thiên Chúa trong các công trình tạo dựng của Ngài.”

            Một trong những nhà bác học vĩ đại của nhân loại, đến đổi ai nghe đến tên ông, cũng tỏ lòng khâm phục, đó là Pasteur. Pasteur đã từng khiêm nhượng nói rằng:

            – ‘Nhờ học biết giáo lý mà tôi đã có được đức tin của một người đàn ông nông dân xứBretagne. Nếu tôi học giáo lý nhiều hơn nữa, thế nào tôi cũng sẽ có đức tin của một người đàn bà nông dân xứBretagne.”

104. Họ đối xử với kẻ thù thế nào?

            Linh mục Jean Eudes truyền khắc tên những kẻ thù chống đối, những kẻ đã gây thiệt hại vào danh sách các ân nhân của Dòng để cầu nguyện chọ họ như cầu cho những vị ân nhân của Dòng.

            Một người Phi Châu kia rất tận tâm săn soc một người bệnh. Được hỏi lý do, ông ta trả lời một cách đơn sơ:

            – “Người nầy là kẻ thù của tôi. Ông ta đã bán tôi làm nô lệ. Tôi săn sóc ông vì tôi vâng lời linh mục dạy: “Nếu kẻ thù của con đói, con hãy cho họ ăn; nếu kẻ thù của con khát, con hãy cho họ uống.”

105. Cái chổi của Cha Lacordaire hơn những bài giảng của ngài

            Ngày kia, vào tu viện, thấy cha Lacordaire đang quét nhà, nhà báo Veuillot thú nhận rằng điều nầy đánh động ông hơn tất cả những bài giảng rất hay của ngài tại nhà thờ chánh tòa Đức Mẹ ở Paris.

106. Con không ăn thịt cha

            Một vị thừa sai hỏi một người Phi Châu :

            – “Con đang đọc sách gì đó? ”

            – “Thưa cha, con đang đọc sách Phúc Âm.”

            Và người Phi Châu vui vẻ nói tiếp :

            – “ Nhờ đọc sách nầy mà con không ăn thịt cha đó ! ”

107. Dạy giáo lý trên xe lửa

            Cha Manzella, thuộc hội Linh Mục Thừa Sai, đi trên xe lửa. Trong vòng hai giờ, ngài giở sách giáo lý bằng hình ảnh ra và hướng dẫn giáo lý cho nhiều kẻ tò mò đến xem.

            Ngài trình bày ba phần giáo lý: Tin (tín lý), Giữ (điều răn), Chịu (bí tích).

            Nhiều kẻ nói : “ Chưa bao giờ trong đời, tôi học được giáo lý nhiều như lúc đi chuyến xe lửa nầy.”

108. Bổn mạng của các cha sở là một linh mục “vô tài”

            Khi đặt thánh Gioan Maria Vianê, cha sở họ Ars, làm Bổn Mạng Các Cha Sở trong toàn thể Giáo Hội, Giáo Hội muốn mọi linh mục biết rằng kết quả tông đồ vô cùng tốt đẹp của vị linh mục xem ra vô tài nầy, là hoàn toàn phát xuất từ sự kết hiệp chặt chẽ với Chúa Giêsu trong một đời sống nội tâm sâu xa.

            Vị linh mục Gioan Maria Vianê nầy, xem ra vô tài và không có những phương tiện hoạt động nào to tát, đã bỏ xa hàng vạn tông đồ tài ba lỗi lạc với những hoạt động lớn lao của họ lúc bấy giờ.

Nhiều vị cao cấp trong Giáo Hội toàn cầu, nhiều vị danh tiếng phần đời khắp nơi, nhiều nhà thế tộc giàu sang, nhiều kẻ thông thái, và nhất là nhiều người cùng khổ, dốt nát, tội lỗi, không ai bảo ai, đều chạy đến tìm một vị linh mục nghèo, thất học, sống heo hút trong giáo xứ Ars xa xôi của giáo phận Lyon, chỉ vì linh mục nầy, cha sở Gioan Maria Vianê, trổi vượt bởi sự thánh thiện, cầu nguyện và hy sinh, trong một đời sống nội tâm sâu xa.

            Một tối kia, theo lời nhà viết sử Trochu kể lại, ma quỷ hét đựng lên trong phòng ngủ của vị linh mục nầy:

            – “Mi đã ăn cắp của tao đến tám vạn linh hồn rồi. Nếu có bốn linh mục như mi, thì nước tao ở trần gian nầy sẽ bị tiêu diệt nhanh chóng!”

109. Rối đạo trong hành động!

            Đức Hồng T Mermillod lên án thứ tội mà ngài gọi là rối đạo trong hành động. Đó là tội của người tông đồ hoạt động căn cứ theo khả năng cá nhân của mình, cho mình là vai chính, còn Chúa Giêsu chỉ là vai phụ, trong khi Chúa Giêsu phải là nguyên lý duy nhất của mọi sinh lực tông đồ.

110. Nên thánh không khó như con tưởng.

            Ngày kia, cha Dan hỏi một người thợ làm nghề sắp chữ trong nhà in:

            – “Có bao giờ con nghĩ rằng mình phải nên thánh không?”

            Người thợ nầy vừa sắp chữ, vừa trả lời:

            – ” Thưa Cha, con không bao giờ dám nghĩ như vậy vì theo con, nên thánh khó quá. Cha xem: từ sáng đến tối, con phải sắp chữ để in. Con không có thời giờ nghĩ đến việc khác được.”

            Cha Dan ôn tồn nói:

            – “Con đừng lầm, nên thánh không khó như con tưởng đâuu. Để nên thánh, con không cần phải làm điều gì lạ. Khi con sắp chữ, con sắp chữ vì Chúa, vì lòng yêu mến Chúa là đủ.”

            Người thợ trả lời:

            – “Dạ, xin Cha cho con thử xem. ”.

            Vài ngày sau, người thợ nầy đến tìm cha Dan và nói một cách sung sướng:

            – “Lạy Cha, bây giờ con mới biết, nên thánh không khó như con tưởng ”.


111. Lạ thay cho sự trùng hợp!

Ông nghịch đạo khét tiếng Voltaire vung tay nói:

– “Ta không còn muốn nghe nói đến chuyện mười hai người làm bành trướng nước của ông Kitô. Một mình ta, ta sẽ tiêu diệt Giáo Hội.”

Và Voltaire nói tiên tri một cách huyênh hoang lúc năm 1758:

– “Còn hai mươi năm nữa, Giáo Hội sẽ bị tiêu diệt.”

Lạ thay cho sự trùng hợp! Hai mươi năm sau, năm 1778, nhà tiên tri nghịch đạo khét tiếng Voltaire chết. Còn Giáo Hội mà ông lên án thì sao? Vẫn còn cho đến nay, và vẫn còn cho đến tận thế!

 

112. Cuối cùng, phải thú nhận rằng mình nói sai.

Đại hoàng đế nước Pháp, Nã Phá Luân, ngạo nghễ nói:

– “Ta sẽ nghiền nát Giáo Hội.”

Nhưng cuối cùng, đại hoàng đế kiêu căng nầy phải thú nhận:

– “Trẫm đã xây dựng một nước trên gươm giáo và nước đó đã sụp đổ. Giêsu đã xây dựng nước ông trên tình yêu, và nước đó còn.”

 

113. Vợ vác chồng trên vai

Năm 1140, vua CoradoIIIvây hãm thành Weinsberg.

Tức giận vì vây hãm quá lâu mà không chiếm được thành, vua ra lệnh khi nào chiếm được thành, sẽ giết sạch mọi người đàn ông, chỉ còn để lại đàn bà.

Khi chiếm được thành, vua ra lệnh thi hành quyết định. Các người đàn bà liền xin vua cho họ đem ra khỏi thành cái gì quý nhất. Vua bằng lòng.

Vua vô cùng bỡ ngỡ khi thấy các người đàn bà đi ra khỏi thành, vác chồng trên vai, tay thì ôm con, dắt con. Họ cho chồng là quý nhất nên mới vác trên vai. Vua cảm động và bằng lòng tha chết cho những người đàn ông.

 

114. Một bi kịch ba hồi, nhưng hồi thứ ba thì vui!

Hồi thứ nhất: Cuộc đời xem ra không có Chúa.

“Tao sống không tin có Chúa. Tao chết cũng không tin có Chúa”.

Đó là lời tuyên bố của một người thợ mộc ở vùngSeineetMarne, bên Pháp, năm 1860. Ông làm ăn phát đạt. Vợ con đầy đủ. Ông rất nghịch đạo, nghịch Giáo Hội, không tin có Chúa. Để ngạo mạn Giáo Hội, ngạo mạn Chúa, ông đóng cho mình một cái hòm thật đẹp. Ông tuyên bố với con cái:

– “Khi chết, tao muốn được bỏ trong cái hòm nầy. Tao sống không tin có Chúa. Tao cũng sẽ chết không tin có Chúa”.

Lúc nầy, ông 30 tuổi.

Hồi thứ hai: Cuộc đời mà không có Chúa, thì không thể sống nổi!

Năm 1880, ông thợ mộc nầy quá buồn: vợ con chết hết, tiền của hao hụt, gia đình neo đơn. Ông sống thui thủi một mình.

Không tin có Chúa, con người sẽ rơi vào cảnh buồn phiền thất vọng.

Không tin có Chúa, con người sẽ rơi vào sự ngu dốt của loài vật vì không chịu nhận nguyên tắc đầu tiên và thiết yếu của mọi khoa học: “Vô nguyên nhân, bất thành hiệu quả”.

Không tin có Chúa, con người chối bỏ linh hồn vô cùng cao quý của mình của mình.

Không tin có Chúa, con người chối bỏ lương tâm của mình, vì thế mặc sức sống tội lỗi, sống sa đọa, sống hối lộ, tham nhũng…

Lúc nầy, ông 50 tuổi.

Hồi thứ ba: Cuộc đời không thể nào không có Chúa!

Năm 1900, ông thợ mộc nầy già yếu, bệnh tật, buồn phiền, cô đơn. Ông cảm thấy cuộc đời quá cay đắng. Lúc nầy, ông mới mở mắt linh hồn ra và thấy rằng: Không có Chúa, cuộc đời thật là vô nghĩa. Và mặc dầu già yếu, tay run lẩy bẩy, ông vẫn đi kiếm gổ, đóng một cây Thánh Giá. Ông đi vào chổ cất hòm, đóng chặt cây Thánh Giá đó lên nắp hòm. Và từ đó, gặp bất cứ ai, ông vui vẻ phân phô:

– “Khi chết, tôi muốn được đưa vào Nhà Thờ: tôi muốn chết với Chúa”.

Lúc nầy, ông 70 tuổi.

Cuộc đời đã dạy cho ông thợ mộc nghịch đạo xưa kia, và cũng dạy cho tất cả chúng ta hiện nay, biết rằng: người ta không thể sống hạnh phúc mà không tin có Chúa.

 

115. Giấy để lại của bà vợ trước khi chết

Một tờ báo ởPas de Calais, Pháp, đăng một câu chuyện rùng rợn sau đây.

Một người thợ máy, có vợ và ba con.

Chiều đó, ông vào quán rượu: ông cười nhạo Chúa. Ông khoe mình là kẻ đã thành công trong việc làm cho vợ ông bỏ đạo, không còn giữ đạo nữa.

Khi về nhà, thấy người ta đứng rất đông trước cửa, ông vôi rẻ đám đông để vào.

Một cảnh tượng rùng rợn: vợ và ba con ông đang nằm chết ngạt trên giường. Giấy để lại của bà vợ:

– “Bao lâu còn tin Chúa, tôi còn đủ sức mạnh để chịu đựng mọi sự cực khổ trong gia đình. Nhưng hiện giờ, chồng tôi là một tên lý hình. Ông đã bắt tôi bỏ Chúa nên tôi tuyệt vọng. Tôi không muốn con cái tôi cũng vô phước như tôi. Tôi đã cùng chúng nó tự tử.”

Ông chồng vô đạo và nghịch đạo nầy, rùng mình, há miệng, ngơ ngác. Ông thấy mình mất hết. Ông không còn đủ sức để cười nhạo như vừa rồi trong quán rượu nữa!


116. Lựa chọn trước cuộc đời

Hercule trở thành một thanh niên. Chàng đang lưỡng lự trước cuộc đời. Có hai thần nữ đến gặp chàng.

Thần nữ thứ nhất nói:

– “Hãy theo ta, ta sẽ dắt ngươi đi trên con đường rộng, dễ dãi, vui cười, thoả thích, ăn ngon, ngủ kỹ, sung sướng, vô lo.”

Hercule hỏi: “Ngươi là ai?”

– “Ta là thần Khoái Lạc. Kẻ thù của ta gọi ta là Nết Xấu.”

Thần nữ thứ hai – thần Nhân Đức – nói:

– “Hercule, hãy nghe ta. Tất cả những gì tốt đẹp, ngay chính, ngươi phải làm việc chuyên cần mới chiêm được. Ngươi muốn Tổ Quốc ghi ơn? hãy hy sinh vì Tổ Quốc. Ngươi muốn đất sinh nhiều hoa trái, hãy trồng tưới nó.”

Câu chuyện của Hy Lạp nầy dạy các bạn thanh niên hãy khôn ngoan lựa chon trước cuộc đời, như vậy, đới mới tốt đẹp, mới đáng sống!

 

117. Mỗi người trong chúng ta phải giữ nhiều con mãnh thú.

Chiều kia, cha bề trên hỏi một tu sĩ:

– “Hôm nay, con đã làm gì?”

Tu sĩ nầy liền thành thật trả lời:

– “Thưa cha bề trên, hôm nay, cũng như mọi ngày, con phải giữ hai con quạ, hai con chim sẻ, hai con nai, hai con diều hâu, một con cá sấu và một con gấu.”

Cha bề trên lắc đầu, le lưỡi:

– “Ai bắt con phải giữ mệt như vậy?”

Tu sĩ nầy đơn sơ cắt nghĩa:

– “Thưa cha bề trên, con giữ hai con quạ, nghĩa là con phải giữ hai con mắt để chúng khỏi nhìn những sự xấu. Con giữ hai con chim sẻ, nghĩa là con phải giữ hai lỗ tai để chúng khỏi nghe những lời bậy. Con giữ hai con nai, nghĩa là con phải giữ hai chân con để chúng khỏi đi đến những nơi bậy. Con giữ hai con diều hâu, nghĩa là con phải giữ hai tay để chúng khỏi làm bậy. Con giữ một con cá sấu, nghĩa là con phải giữ lưỡi con để khỏi nói lời vô ích, lỡìam bậy. Con giữ một con gấu, nghĩa là con phải giữ trái tim con để khỏi ích kỷ, yêu bậy, khoe khang.”

 

118. Tìm không ra sáu ni cô đồng trinh trong đế quốc La Mã

Để gìn giữ lửa thiêng trong đền thánh thờ các vị thần, chính quyền La Mã ngày xưa dùng sáu ni cô đồng trinh. Họ được ban rất nhiều ân huệ: họ đi đâu, các binh sĩ phải chào, các tướng lãnh phải nhường bước; toà án xử ai, họ xin tha thì toà án phải tha ngay; ai bị chính quyền phạt nặng đến đâu mặc lòng, họ xin tha cũng được. Thế mà trong toàn đế quốc La Mã hằng trăm triệu người, chính quyền không tìm ra được sáu người thanh nữ tình nguyện. Sau cùng, chính quyền La Mã phải dùng vũ lực mà bắt ép: những cô nầy đi đâu, đều bị canh phòng cẩn mật.

Để gìn giữ lửa thiêng của Nước Trời, Chúa Giêsu chọn những thanh niên thanh nữ đồng trinh. Ngài không ép: ai hiểu được thì hiểu, ai muốn đi theo Ngài thì đi. Thế mà có rất đông người đi theo Ngài: các linh mục, các nam nữ tu sĩ trong mọi nước và trên khắp thế giới.

 

119. Biết ơn Chúa tốt lành!

Ngày kia, thánh PhanxicôAssisiđi với một người bạn tên là Massée. Trưa đứng bóng, hai người liền dừng lại, tìm đến ngồi dưới một gốc cây, cạnh một giòng suối. Họ lấy bánh mì cứng người ta mới cho, thấm nước cho mềm rồi ăn và uống nước suối.

Ăn xong, thánh Phanxicô Assisi chảy nước mắt. Massée lấy làm lạ vì không thấy cái gì ngon cả, chỉ có bánh và nước lạnh. Thánh Phanxicô Assisi cắt nghĩa:

– “Chúa tốt lành săn sóc chúng ta quá lạ lùng!Từ thuở đời đời, Chúa đã thấy trước một ngày kia, hai chúng ta sẽ đến đây khi mệt mỏi và đói khát. Ngài đã thương cho một cây mọc lên để cho ta có bóng mát. Ngài đã cho có một giòng suối chảy ngang qua đây. Nhờ vậy, chúng ta được nghỉ khoẻ. Chúng ta lại được ăn báh mà người ta đã cho chúng ta vì lòng yêu Chúa.”

 

120. Con đã biết Chúa rồi!

Một linh mục người Anh kể rằng:

Tôi là một linh mục người Anh. Ngày kia, có một người Ấn Độ nói với tôi: “Lạy Cha, trước khi cha dạy con tin có Chúa thì con đã biết có Chúa rồi.” Tôi bỡ ngỡ: “Làm cách nào mà con biết được? Cha tưởng cha là người đầu tiên nói với con về Chúa.” Người Ấn Độ nầy gật đầu: “Dạ, đúng thế, nhưng con đã biết có Chúa rồi! Số là lúc còn thiếu niên, ngày kia, con mang cung tên đi vào rừng săn. Hôm đó, trời mùa hè, con đến bên một bờ hồ. Xung quanh hồ, có nhiều cây đẹp. Những con vịt trời đang nô đùa trên mặt nước. Mặt trời đang chiếu sáng trên bầu trời không mây. Xa xa, các ngọn núi nổi lên từng bậc. Con nhìn ngắm. Con thích thú quá. Bỗng con tự hỏi: “Ai làm ra được những cái nầy? Không ai làm ra được. Phải có Đấng nào làm ra! Giờ đay, cha dạy con đọc kinh Tin Kính: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất”, con liền hiểu ngay. Vì thế, con nói: “Đó rồi, chính Ngài đó rồi. Tôi đã biết Ngài.”

Thật đúng như lời nhà bác học Diderot nói: “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần.”


121. Chúa Giêsu ban sự bình an cho chúng ta

Khi giáng sinh trong hang đá Bêlem, Chúa Giêsu cho thiên thần phát thanh chương trình bình an cho những ai có lòng ngay chính, cho những ai yêu Chúa và được Chúa yêu.

Khi bắt đầu rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu tuyên bố tám mối phước thật, tám điều đem lại bình an thật cho con người.

Khi ra hành đạo công khai, Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng cho các thành thị,làng mạc, gia đình và căn dặn họ khi bước vào nhà nào, hãy mở đầu câu truyện bằng cách chúc bằng an: “Bằng an cho nhà nầy!”

Khi sắp bước chân vào vòng tử nạn, Chúa Giêsu nhấn mạnh vào hai chữ bình an chân chính mà Ngài muốn trối lại cho môn đệ mình: “Thầy ban bình an của Thầy cho các con”.

Khi sống lại, Chúa Giêsu chúc bình an ngay cho các môn đệ: “Bình an cho các con.”

Và giờ đây, Chúa Giêsu luôn luôn dùng miệng các linh mục để chúc bình an của Ngài cho chúng ta.

 

122. Một tu sĩ đầy tràn bình an của Chúa, làm cho thánh Anphongsô cảm phục

Thánh Anphongsô kể câu chuyện sau đây để nói lên việc ngài hết sức cảm phục một tu sĩ đầy tràn bình an của Chúa, có đời sống nội tâm sâu xa. Ngài thuật.

Cha bề trên hỏi thầy:

– “Thầy chú ý làm việc đạo đức nào nhất?”

– “Dạ thưa cha bề trên, con không làm gì khác người ta. Con chỉ luôn luôn cố ý muốn điều Chúa muốn, và Chúa đã cho con được ơn đặc biệt nầy là: cho ý con hoàn toàn theo thánh ý Chúa. Giàu sang không đưa con lên, khổ cực không đè con xuống, vì cái gì, con cũng nhận do bàn tay của Chúa. Trong tất cả mọi lời cầu xin của con, con chỉ xin ý Chúa được thực hiện trong con mà thôi.”

Cha bề trên lại hỏi:

– “Mấy ngày nay, kẻ xấu đã làm thiệt hại dòng chúng ta. Họ đốt cháy trang trại của chúng ta, làm tiêu tan mùa màng và súc vật của chúng ta, thầy có buồn không?”

– “Lạy cha bề trên, con không buồn, trái lại, con cám ơn Chúa vì con đã nhiều lần cám ơn Chúa trong những tai họa như vậy rôi. Con biết Chúa chỉ cho xảy ra những gì làm vinh danh Chúa và đem lại ích lợi lớn lao cho chúng ta. Vì thế, con luôn luôn bằng an, cho dù việc gì xảy ra đi nữa.”

Và thánh Anphongsô góp ý thán phục:

– “Đây thật là sự bình an thẳm sâu mà các thánh hưởng được.”

 

123. Đệ nhất thi sĩ nước Italia đi tìm bằng an

Có một người đi lang thang giữa trời đông tuyết lạnh. Ông là đệ nhất thi sĩ nước Italia lúc bấy giờ, danh tiếng lừng vang. Tên ông: Le Dante (đọc theo tiếng Italia: Lê Đăng Tê).

Tâm hồn đệ nhất thí sĩ nầy đầy rối loạn vì thời ông sống đang trãi qua những tai họa lớn lao.

Đang đi, bỗng ông nghe tiếng chuông ngân lên từ xa. Ông tưởng đó là tiếng của người bạn đang an ủi ông. Ông đi lần theo tiếng chuông. Ông đến trước một tu viện. Ông gõ cửa. Một tu sĩ mở cửa, chào ông:

– “Chào ngài, xin chúc ngài được bằng an. Ngài muốn tìm gì?”

Sửng sốt vì thấy vị tu sĩ hỏi trúng tim, đệ nhất thi sĩ nầy liền trả lời:

– “Tôi tìm gì à? Tôi đang đi tìm chính sự bằng an mà thầy mới chúc cho tôi, sự bình an mà tôi không tìm được ở đâu cả.”

 

124. Đức Mẹ nhớ ơn.

Một ngày nọ, thánh Gioan Maria Vianê, cha sở họ Ars, gặp trong nhà thờ một người đàn bà có vẻ đang đau khổ nhiều. Bà ta vừa trở thành quả phụ. Ông chồng đã rơi từ cầu xuống sông và bị chết đuối. Ông ta chết khi chưa kịp ăn năn thống hối, trở về với Chúa. Do đó, đối với bà, ông chồng chắc chắn đã mất linh hồn.

Được Chúa soi sáng, cha Vianê nhẹ nhàng đến gần bà và nói:

– “Chồng bà đã được cứu thoát.”

Quá ngạc nhiên và tỏ vẻ không tin, bà ta lại hỏi:

– “Thưa cha, làm sao có thể như vậy được?”

Cha Vianê cắt nghĩa:

– “Có Chúa ở giữa chiếc cầu và giòng sông. Chồng bà đã cùng rơi với Chúa. Và khi rơi, ông đã làm hoà với Ngài.”

Bà vợ vẫn tỏ vẻ không tin:

– “Nhưng thưa cha, làm sao lại có thể như vậy được?”

Cha Vianê trả lời và cắt nghĩa tiếp:

– “Đó là một ơn của Đức Mẹ ban. Vì một hôm, trên đường từ đồng về nhà, chồng bà đã hái một đóa hoa đem chưng trước tượng Đức Mẹ ở bên đường. Đức mẹ có thể quên được cử chỉ tốt đẹp nầy sao?”

 

125. Sự khiêm nhượng lạ lùng của Đức Giáo Hoàng Piô X

Đức Giáo Hoàng Piô X luôn luôn lắng nghe mọi người phát biểu ý kiến, luôn luôn lắng nghe những nhận xét của họ và xin họ cho mình những lời khuyên bảo.

Ngày kia, trong một cuộc triều yết, một đức ông nói thẳng lên Đức Giáo Hoàng những lời phê bình về một phán quyết của Đức Giáo Hoàng trong một vấn đề rất quan trọng. Đức Giáo Hoàn Piô X lắng nghe. Ngài im lặng suy nghĩ, rồi ngước mắt nhìn đức ông nầy và nói một câu làm cho đức ông vô cùng sửng sốt:

– “Đức ông đã hoàn toàn có lý!”

Đức ông nầy kinh khiếp và hết lòng ca tụng sự khiêm nhượng lạ lùng của một vị giáo hoàng.

 

126. “Tôi sẽ còn quả tim để yêu thương ông!”

Cha Vianê thành công trong việc làm cho bà vợ của một người Do Thái trở lại.

Chồng bà ta quá tức tối, chạy ngay đến nhà thờ gặp cha Vianê và nói to:

– “Cha đã làm cho gia đình tôi không còn bằng an nữa. Nay tôi đến đây để móc mắt cha.”

Cha Vianê bình tĩnh hỏi:

– “Ông móc con mắt nào?”

Người Do Thái nầy quá ngạc nhiên trước thái độ lễ phép của cha Vianê. Ông do dự một chút rồi nói:

– “Con mắt phải?”

Cha Vianê vui vẻ nói:

– “Vậy thì tôi còn con mắt trái để nhìn ông và yêu thương ông.”

Người Do Thái nầy không chịu thua. Ông nói ngay:

– “Nếu vậy, tôi móc cả hai con mắt của cha.”

Cha Vianê vẫn dịu dàng nói:

– “Tôi sẽ còn quả tim để yêu thương ông.”

Người Do Thái nầy liền quỳ xuống trước mặt cha Vianê và xin trở lại Đạo Công giáo. Bây giờ, ông mới chịu thua!

 

127. “Ôi, nếu khi nhỏ, con gặp được một linh mục như cha!”

Một thanh niên kia phạm tội sát nhân nặng nề. Anh ta bị lên án xử tử.

Linh mục Cafasso được mời đến gặp anh sát nhân nầy trong tù trước khi anh ta bị điệu đi xử tử.

Gặp được một linh mục lúc sắp chết là một hồng ân lớn lao của Chúa.

Sau buổi gặp gỡ với cha Cafasso nầy, thanh niên sát nhân khóc nức nở, hôn tay cha và thổn thức nói:

– “Ôi, nếu khi nhỏ, con gặp được một linh mục như cha!”

Như vậy, thanh niên sát nhân nầy khi nhỏ đã gặp được nhiều linh mục, nhưng chưa có linh mục nào hiền lành, khiêm nhu, thông cảm và tử tế như linh mục Cafasso nầy.

 

128. Linh mục đừng quên ơn giáo dân

Tại Ấn Độ, cha Planchard đau dịch tả. Giáo dân Sossai lo cho cha lành.

Cha Planchard tiếp tục mắc bệnh thương hàn. Giáo dân Sossai lo cho cha lành.

Cha Planchard lại mắc bệnh đậu mùa. Giáo dân Sossai lo cho cha lành.

Và giờ đây, giáo dân Sossai bị lây bệnh của cha Planchard.

Trong khi hấp hối sắp lìa đời, giáo dân Sossai sung sướng nói:

– “Cha sống là tuyệt vì cha cần cho các linh hồn.”

Nhiều khi anh em linh mục chúng ta quá nhấn mạnh đến sự chủ chăn hy sinh cho đoàn chiên, mà quên ơn đoàn chiên hy sinh rất nhiều cho chủ chăn.

 

129. “Khi lớn lên, em muốn trở thành linh mục”.

Cuối thế chiến thứ nhất tại Âu châu, trong một trường tiểu học ở Bỉ, thầy giáo ra đề: “Khi lớn lên, em sẽ làm gì?”

Một em nhỏ trả lời: “Khi lớn lên, em muốn trở thành linh mục.”

Muốn biết vì sao một em tiểu học còn nhỏ lại có một tư tưởng lạ lùng như thế, thầy giáo hỏi em lý do và em đơn sơ cho biết như sau: “ Khi cha em đi lính, mẹ ở nhà không có gì ăn. Một ngày kia, mẹ em, em và em em quá đói. Cha sở già đến thăm nhà em, mang tặng mấy ổ bánh mì. Nhờ đó, mẹ em, em và em em khỏi chết đói. Vậy khi lớn lên, em cũng muốn làm linh mục để mang bánh lại cho những ai đói.”

 

130. Phép lạ sông Marne

Cầu nguyện luôn luôn là sức mạnh mang lại hy vọng cho những người con của Chúa và làm cho họ đứng vững được trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Tháng 9 năm 1914, khi trận đệ nhất thế chiến bắt đầu thì “Phép lạ sôngMarne” cũng xảy đến.

Số là lúc đó, quân Đức tràn xuống phía bắc nước Pháp. Quân Pháp rút lui hổn loạn. Quân Đức sắp tràn qua sôngMarne. Thống chế Joffre than:

– “Chúng ta mất hết rồi!”

Nhưng tướng Castelnau cải chính:

– “Thưa thống chế, chúng ta chưa mất hết vì chúng ta còn hy vọng vào lời cầu nguyện.”

Thống chế Joffre tức tối, ngắt lời ngay:

– “Ông hãy cầu nguyện đi.”

Tướng Castelnau không chịu thua, ra lệnh:

“Thống chế hãy cùng tôi cầu nguyện.”

Thế rồi hai vị tướng chắp ta cầu nguyện trong hoàn cảnh tuyệt vọng.

Cầu nguyện xong, thống chế Joffre ra lệnh phản công: quân Pháp lên tinh thần, vùng dậy phản công mãnh liệt: quân Đức bị chận lại bên kia bờ sốngMarne, phải rút lui, không tràn xuống được phía bắc nước Pháp.

Sự kiện lịch sử nầy, những ai có đức tin, đều công nhận “Phép lạ sôngMarne”.


131. “Vua là kẻ ngu dại nhất trên đời!”

Ông vua kia nói với tên hề trong cung điện: “Ngươi là kẻ ngu dại nhất trên đời. Ngươi hãy cầm chiếc gậy nầy. Khi thấy ai ngu dại hơn ngươi, ngươi hãy trao chiếc gậy nầy cho người đó.”

Khi vua sắp chết, tên hề hỏi vua:

– “Vua sắp đi đâu?”

– “Sắp đi qua thế giới khác.”

– “Khi nào về? Một tháng sao?”

– “Không.”

– “Một năm sao?”

– “Không! Không bao giờ trở về!”

– “Thế vua có chuẩn bị hành lý gì không?”

– “Không!”

– “Thế thì vua hãy cầm lấy chiếc gậy nầy. Vua là kẻ ngu dại nhất trên đời!”

 

132. Thánh Vinh Sơn định thanh minh…

Bị nghi oan, bị hồ nghi, bị nghĩ xấu, đến độ không thể chịu đựng được nổi, Vinh Sơn liền thảo ra một bức thư thanh minh.

Thảo xong, Vinh Sơn xé đi. Nhìn lên Thánh Giá, Vinh sơn tự nói với mình:

“Ớ Vinh Sơn hèn mọn, ngươi hãy nhìn lên Chúa Giêsu trên thập giá, Ngài có thanh minh như ngươi đâu?”

 

133. Chúng ta hãy nghe những người Cộng sản nói về Thiên Chúa

Người vô thần mà tự phụ, tự đắc thì khinh dễ Chúa. Chẳng hạn như khi biết được phi hành gia Gargarine của Nga bay lên không trung, một người vô thần đắc chí phát biểu: “Đó là thăng thiên không phải của một kẻ bịa đặt, nhưng là thăng thiên của một thanh niên 27 tuổi”. Chẳng hạn như phi hành gia Titov của Nga nói: “Máy móc trên phi thuyền không ghi được dấu hiệu gì về Thiên Chúa và về các thánh ở trên trời. Bổn đạo nói chết rồi mới lên trời được. Còn chúng ta, chúng ta lên trời khi đang còn sống.”

Còn người vô thần mà khiêm tốn thì lại khác. Chẳng hạn như bác sĩ Salmanoff, bác sĩ riêng của Lênin. Lúc 83 tuổi, ông cho xuất xuất bản hai cuốn sách: “Sự Bí mật và sự Khôn ngoan của Thân Xác” (1958) và “Mầu nhiệm của sự sống” (1960). Trong một cuộc phỏng vấn, ông trả lời một cách xác tín như sau: “Môn sinh vật học và môn phân tích tâm lý đã làm cho tôi trở thành một kẻ hữu thần.”

 

134. Yêu người trong ngày Chúa nhật

Một người thợ công giáo kia, trong ngày Chúa nhựt, sau khi đã tham dự thánh lễ về, giúp sửa các đồ cần kíp cho một người láng giềng.

Khi được trả tiền công, người thợ công giáo nầy liền từ chối một cách vui vẻ “Đây là ngày của Chúa. Tôi làm vì Chúa. Anh cũng là người anh em với tôi trong Chúa.”

 

135. “Ông ta cần lời cầu nguyện hơn là hình phạt.”

Moneta, một kẻ nghịch đạo, dùng một tên giả để viết một cuốn sách chống lại Đức Giám mục Sarto ở Mantova (sau nầy là Đức Giáo Hoàng Piô X). Ông ta bị lột mặt nạ. Giáo dân đòi kiện nhưng Đức Cha Sarto dịu dàng nói: “Ông ta cần lời cầu nguyện hơn là hình phạt.”

Khi biết được Moneta bị phá sản, Đức Cha Sarto nhờ một bà đạo đức đem đến giúp ông nầy một số tiền.

 

136. Kho tàng quý báu vô giá cho Giáo Hội

Tháng 3 năm 1960, dịp lễ Thánh Giuse, bổn mạng Công ĐồngVatican2 (19.3.1960), Đức Thánh Cha Gioan XXIII tiếp năm ngàn bệnh nhân tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Ba bệnh nhân, gồm một linh mục, một người đàn ông và một người đàn bà, được mang lên gần Đức Thánh Cha để nói lời đại diện cho bệnh nhân: “Con dâng sự đau khổ của con và sự bất toại của con để cầu xin cho Công Đồng Chung được kết quả.”

Đức Thánh Cha Gioan 23 rất cảmđộng. Ngài nói: “Các con là kho tàng quý báu vô giá cho Giáo Hội.”

 

137. Cộng đoàn tu sĩ nào không thể tồn tại được?

Mỗi lần gặp các tu sĩ, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II luôn nhấn mạnh điểm nầy: “Một cộng đoàn tu sĩ mà không cầu nguyện thì không thể nào tồn tại được.”

 

138. Bền chí cho đến cùng mới thành công

Đại tướng Foch thắng trận thế chiến thứ nhất thế nào?

Binh sĩ mỏi mệt, sĩ quan năn nỉ, nhưng đại tướng Foch vẫn luôn thúc giục họ: “không nghỉ, không ngủ, không ngừng”.

Mặc cho cấp dưới oán thán và rên rỉ, đại tướng Foch vẫn làm lơ. Ông muốn đi ngược lại tất cả. Ông quyết dẹp lòng trắc ẩn. Ông kiên chí đến cùng. Và sự kiên chí đến cùng nầy đã đem lại cho ông cuộc thắng trận vẻ vang trong trận đệ nhất thế chiến.

 

139. Một mạng nhện đơn sơ Chúa cho giăng ra đúng lúc, cũng đủ để cứu sống cả một mạng người

Thánh Félix de Nole chạy thoát quân dữ đang đuổi bắt ngài.

Thấy một cái hang, ngài liền liều lĩnh chui vào. Một con nhện liền giăng ngay một mạng nhện nơi cửa hang.

Quân dủcượt đuổi bắt ngài, dừng lại trước cửa hang vì thấy ngài biến mất vào trong đó. Chúng đoán thế nào ngài cũng có trong hang nầy. Dù vậy, chúng cười với nhau và nói: “Cửa hang có mạng nhện giăng. Ông nầy không thể trốn trong hang nầy được.” Rồi chúng bỏ đi tìm ngài nơi khác, trong khi chính ngài đang nép mình im lặng trong cái hang đó.

Chúa chỉ cần cho có một mạng nhện đơn sơ giăng ra đúng lúc, cũng đủ để cứu sống cả một mạng người.

 

140. Giáo sư danh tiếng của một vị tiến sĩ thông thái

Cha Taulère là một vị tiến sĩ thông thái của Dòng Đa Minh. Trong tám năm liền, ngài xin Chúa cho ngài gặp được một thầy dạy cho mình con đường trọn lành thánh thiện.

Ngày kia, Chúa soi sáng cho ngài biết: tới nơi cửa nhà thờ, sẽ gặp được vị giáo sư đó.

Cha Taulère vui mừng, tới ngay cửa nhà thờ.

Cha đứng đợi vị gíao sư danh tiếng đến, vì cha chỉ thấy một người ăn mày mang áo rách vá, chân không mang dép, đang ngồi nơi cửa nhà thờ.

Cha Taulère vừa đợi vừa thất vọng vì thấy người ăn mày nầy đáng được mình cho của ăn để nuôi phần xác, hơn là giúp mình có những ý kiến cao siêu về đàng trọn lành thánh thiện.

Để giết thời giờ, cha Taulère lân la hỏi chuyện người ăn mày. Và sau đây là những lời đối đáp.

– “Chúc ông vui vẻ!”

– “Thưa cha, con không bao giờ buồn.”

– “Ủa, sao lạ vậy?”

– “Thưa cha, con không bao giờ sống cực khổ vì sống theo thánh ý Chúa thì luôn luôn hạnh phúc. Ngày giờ Chúa ban cho con sống thì luôn luôn tốt lành và mọi sự xảy ra trong đời là đề ca tụng Chúa. Tuy con nghèo khổ, không nơi nương tựa, nhưng con luôn luôn hạnh phúc sung sướng vì khi con không xin được của gì ăn, phải nhịn đói, con cũng ngợi khen Chúa; vì khi người ta nhờm gớm con, khinh miệt con, con cũng ngợi khen Chúa. Ngày nào, giờ nào cũng tốt đối với con vì ngày nào, giờ nào, con cũng luôn sống theo thánh ý Chúa. Chúa là Cha vô cùng yêu thương con, con luôn sung sướng. Dù cho những sự gì xảy đến trong đời con, trái ý hay thuận ý con, kèm theo sung sướng hay pha lẫn đắng cay, có lợi hay có hại cho con, được người ta quý chuộng hay bị người ta khinh chê, trong mọi hoàn cảnh đó, con luôn luôn vui sướng hạnh phúc vì tất cả đều do Chúa mà ra.”

Cha Taulère rất ngạc nhiên về sự khôn ngoan sâu xa của người ăn mày về con đường trọn lành thánh thiện. Cha hỏi thêm:

– “Con bởi đâu mà tới?”

– “Con bởi Chúa mà tới.”

– “Con gặp Chúa ở đâu?”

– “Con gặp Chúa trong tâm hồn sạch tội và thiện chí của con.”

Cha Taulère kính cẩn chào cám ơn và từ giả người ăn mày.

Trên đường trở về dòng, cha Taulère sung sướng cám ơn Chúa vì đã nhậm lời ngài cầu nguyện trong vòng tám năm để xin cho được gặp một vị giáo sư danh tiếng dạy cho mình con đường trọn lành thánh thiện, và nay, ngài đã gặp: đó là một người ăn mày!

141. Ba người bạn

            Ông kia có ba người bạn. Người bạn thứ nhất và người thứ hai thì rất thân, còn người bạn thứ ba thì không thân lắm.

            Ngày kia, bị toà xử án, ông liền xin ba người bạn đi theo để biện hộ cho ông.

            Người bạn thân thứ nhất từ chối, viện cớ mắc việc không đi được. Người bạn thân thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại sợ nên rút lui, không dám vào toà án để biện hộ cho ông. Chỉ có người bạn thứ ba, tuy không được ông yêu thích gì, nhưng lại tỏ ra hết sức trung thành, vào tận toà án biện hộ cho ông, làm cho ông không những được trắng án, mà còn được thưởng nữa.

            Người bạn thân thứ nhất trong đời sống của ta, là TIỀN BẠC: khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta ngay để vào tay người khác, họa may nó chỉ để lại cho ta một cái áo và một chiếc hòm.

            Người bạn thân thứ hai trong đời sống của ta, là CHA MẸ, VỢ CHỒNG, CON CÁI, BẠN BÈ, …: khi ta chết, họ khóc lóc, nhưng cũng chỉ đưa ta đến cửa huyệt rồi về.

            Người bạn thứ ba mà trong khi sống, ta thường ít ưa thích, đó là CÁC CÔNG VIỆC LÀNH: các công việc lành nầy theo ta đến Toà Chúa phán xét, biện hộ cho ta và làm cho ta được Chúa thưởng vào nước thiên đàng.

142. Một câu trả lời quá đúng và quá hay!

            Cuối thế kỷ XVIII, chính phủ cách mạng nghịch đạo ở Pháp tàn sát các linh mục, triệt hạ các nhà thờ. Ông La Raveillère Lepaux, một người trong chính phủ cách mạng của Pháp lúc đó, thoả mãn, xoa tay: “Đây là lúc phải thay thế ông Giêsu. Ta sẽ lập một đạo mới.”

            Ông hăng hái bắt ta vào việc lập một đạo mới để thay thế đạo Công giáo.

trong thời gian tìm cách lập đạo mới nầy, ông chỉ gặp thất bại và thất bại.

            Ông quá sức chán nản. Ông thứ thật điều nầy với Nã Phá Luân lúc đó đang còn làm đại tướng. Đại tướng Bonaparte nầy trả lời: “Bạn muốn cạnh tranh với Đức Giêsu sao? Bạn chỉ có một cách: bạn để cho người ta đóng đinh bạn chết vào ngày thứ sáu, và sau đó, bạn tự mình sống lại vào ngày Chúa Nhựt.”

            Thật là một câu trả lời quá đúng và quá hay!

            Ông tổ đạo nào trên trần gian nầy cũng chết rồi hết, không sống lại được vì ông lập một Đạo Đất: ông chỉ là một con người.

            Đức Giêsu chết nhưng rồi sống lại vì Ngài lập một Đạo Trời: Ngài là Con của Đức Chúa Trời, Ngài chính là Thiên Chúa.

143. Một bà mẹ quá hạnh phúc!

            Đó là bà Arthur Roy. Bà qua đời lúc 90 tuổi. Bà đã dâng cho Chúa 11 người con: hai con làm giám mục, năm con làm linh mục triều, một con làm tu sĩ nam, ba con làm nữ tu.

144. Nhờ thấy đàn kiến kiên nhẩn mà thành công thắng trận

            Vua kia bại trận, phải chạy trốn thảm não và nhục nhã.

            Vua đi một mình thất thểu trong rừng vắng, và vì quá mệt, vua nằm vật xuống, ngủ say.

            Khi tỉnh dậy, vua để ý đến mấy con kiến đang tha mồi gần đó. Vua thấy chúng trèo lên dốc rồi trụt xuống. Vua thấy chúng ngã lên ngã xuống, lăn xuống lỗ sâu rồi lại bò lên. Cuối cùng, vua thấy chúng tha mồi đi được rất xa.

            Vua rất phục sự kiên nhẫn của những con kiến nầy.

            Xét đến thân phận mình, vua tự nhủ: “Nếu ta cứ kiên nhẩn như mấy con kiến nầy, thế nào cuối cùng ta cũng sẽ thắng trận.”

            Và thật y như ý vua nghỉ: thất trận nầy, vua cố gắng tìm cách đánh trận khác, chư không chịu bỏ cuộc. và cuối cùng, nhờ kiên nhẫn, vua đã thắng trận.

145. Ai cản trở ơn Chúa kêu gọi, sẽ bị Chúa phạt.

            Thánh Chiara đi tu. Em gái là Anê cũng xin đi theo.

            Thấy hai con mình đi tu, cha mẹ tức tối, nên nhờ ông cậu     Mônanđô đem bốn binh sĩ đến lôi Anê ra khỏi dòng.

            Bốn tên lính lôi Anê ra giữa đường, nhưng chúng le lưỡi vì Anê quá nặng, chúng lôi đi không nổi.

            Mônanđô tức tối, xông vào lôi, bị Chúa phạt cho hai tay bị bại tức khắc.

            Đau đớn quá, Mônanđô xin hai cháu Chiara và Anê cầu nguyện.

            Được lành bệnh khỏi bại tay, Mônanđô không dám can thiệp vào ơn gọi của hai cháu mình nữa.

146. Không nghe được Lời Chúa nhưng vẫn hưởng được ơn của Lời Chúa

            Ngày kia, giảng xong, thánh Anphôngsô được một kẻ tội lỗi xin xưng tội. Ban Phép Giải Tội xong, thánh Anphôngsô hỏi: “Điều gì trong Lời Chúa con nghe vừa rồi, đánh động con nhất?”

            – “Thưa cha, con không nghe được Lời Chúa vì nhà thờ quá chật và vì con đứng ngoài nhà thờ thật xa, lời cha giảng không thấu đến tai con. Con chỉ thấy miệng cha nhóp nhép, tay cha đưa lên đưa xuống. Như vây, con “thấy” Lời Chúa nơi cha và con được ơn ăn năn trở lại.”

147. Bức gương soi của bác ái

            Thánh Phanxica Chantal, bề trên Dòng Đi Viếng, cho viết nơi tường câu thánh Phaolô khen ngợi đức ái: “Người có đức ái thì nhẫn nại, nhân từ, không ghen tỵ, không khoe khoang, không hiếu kỳ, không tham lam, không tìm tư lợi, không mưu mô gian ác, không vui khi thấy sự bất công, chỉ vui khi thấy sự thật. Người có đức ái thì tha thứ mọi sự, tin tưởng mọi sự, trông cậy mọi sự, chịu đựng mọi sự ” (1 Cr 13,4-7).

            Khi có chị em nào trong dòng tự ý cáo mình về lỗi đức bác ái, thánh Phanxica Chantal xin chị đó đền tội bằng cách đọc câu Lời Chúa nầy trên tường.

            Bà thánh nầy gọi câu đó là bức gương soi của bác ái.

148. Chúa lo cho một chiếc hoa, huống hồ là tôi!

            Một giáo sư người Đức đi quan sát bờ biển Phi Châu.ỉtong nhiều ngày, ông hết lương thực và lâm cảnh đói khát cơ cực, chỉ chờ ngày chết. Bỗng ông thấy một bông hoa đẹp mọc lên giữa bãi các khô cằn. Ông nói: “Chúa lo cho một chiếc hoa sống tử tế, huống hồ là tôi. Lẽ nào Chúa lại bỏ rơi tôi trong cơn hoạn nạn nầy.”

            Ông cố gắng tiến thêm lên. Bỗng ông thấy một Nhà Dòng. Ông bấm chuông. Ông được mời vào, và ông được thoát chết.

149. Cả hai phải góp sức vào công việc giáo dục con cái

            Người cha và người mẹ trong gia đình phải cộng tác chặt chẽ với nhau trong việc giáo dục con cái mình.

            Ngày kia, có hai vợ chồng tìm cách làm đẹp lòng nhau. Người chồng thì bí mật cuốc một góc vườn cho sạch và trồng cải để tặng vợ. Người vợ cũng bí mật trồng ở đó những cây mè để làm đẹp lòng chồng. Cả hai đều chăm sóc giống mình đã gieo: người chồng tưởng cây mè của vợ là cỏ nên nhổ sạch; người vợ tưởng cây cải của chồng là cỏ nên cũng nhổ sạch. Rốt cuộc đám đất nầy không nẩy nở được gì.

            Trong gia đình, nhiều khi người mẹ dạy con cái nhưng gương xấu của người cha phá đổ tất cả cả công trình của người mẹ. Hoặc có khi là ngược lại.

150. Biết nghe sẽ chiếm được lòng kẻ thù

            Khi có ai tức tối phản đối lại chúng ta, chúng ta hãy thành thật lắng tai nghe họ nói, và cuối cùng, thế nào họ cũng không còn thù hằn tức giận chúng ta nữa.

            Người kia thuật câu chuyện sau đây.

            Tôi mua một bộ áo về. Khi mặc, màu đen lan ra nhớp cả cổ áo trong. Tôi đem áo đến tiệm mua và phân phô.

            Cô bán hàng thứ nhất, không chịu nghe tôi nói cho hết, trả lời xẳng: “Ai mua áo ở đây về cũng tốt cả, không thấy ai phàn nàn.”

            Cô bán hàng thứ hai, cũng không biết nghe, lên tiếng chê tôi: “Tại mới nhuộm như vậy đó, ông không biết sao?”

            Tôi tức tối, định liệng bộ áo lại trước mặt hai cô bán hành nầy và đùng đùng ra về. Thình lình, ông chủ đến. Ông xin tôi nói, và ông lằng nghe tôi từ đầu đến cuối, không ngắt một lời nào. Hai cô kia cũng nói xen vào nhưng ông bẻ lý họ và bênh vực tôi. Rồi ông xin lỗi tôi: “Xin ông cho chúng tôi biết ý ông thế nào để chúng tôi làm theo.”

            Trước, tôi định sừng sộ, Nay, tôi mềm dịu: “Tôi chỉ muốn hỏi ông nó còn ra màu đến lâu mau nữa?”

Ông chủ khuyên tôi về bận thử một tuần.

Tuần sau, nó không còn ra màu nữa. Và từ đó, tôi hết sức tín nhiệm tiệm nầy.

XHV Sưu tầm

Comments are closed.