Ánh sáng của ngọn đèn dầu

0

Nói đến ánh sáng là nói đến mặt trời. Ngày nay, trong một xã hội công nghiệp hoá, nói đến ánh sáng là nói đến điện. Điện cần cho cuộc sống, cho mọi sinh hoạt và mọi ngành nghề. Do vậy, nói đến điện còn là nói đến văn minh, nên con người mọi thời vẫn luôn khao khát được tiếp cận với ánh sáng của điện. Nhưng ở đây, giữa muôn vàn ngọn đèn điện đang chiếu những tia sáng rực rỡ và kiêu sa, tôi lại muốn tìm về với một ngọn đèn dầu: tầm thường, nghèo nàn, đơn sơ, giản dị. Ngọn đèn ấy là cuộc đời khiêm nhu, nhỏ bé của Dì Maria Trần Thị Chiên, một nữ tu suốt một đời sống âm thầm trong của tu viện, nhưng cuộc đời của Dì vẫn không ngơi tỏa sáng.

Những ngày đầu khi tôi mới vào tu, cũng là những ngày tôi được biết đến Dì. Dì sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo nghèo thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngay từ thưở nhỏ Dì đã có lòng ước ao được dâng hiến trọn đời trong nhà Chúa. Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, cha mất sớm, mẹ tần tảo nuôi 5 chị em: một gái, bốn trai. Là con gái duy nhất và cũng là đứa con gái lớn nhất trong nhà nên mọi việc mẹ đều phải trông nhờ vào Dì. Vì vậy, ước muốn được đi tu tuy có từ rất sớm nhưng không thể thành hiện thực. Mãi đến năm 16 tuổi, khi có quá nhiều người đến dạm hỏi, Dì mới dám thưa với mẹ: “Xin mẹ cho con đi tu vì nếu không đi tu con cũng không thể ở mãi với mẹ được”. Dù không muốn nhưng vì không cản được nên bà cụ đành gật gù đồng ý. Thế là năm 1953, Dì vào Nhà dòng Đa Minh Bùi Chu. Vào Dòng chưa bao lâu thì biến cố đất nước xảy ra, Dì cùng với mẹ Êmilia Nguyễn Thị Sê và một số đông chị em trong dòng di cư vào Nam tìm đất cắm dùi. Ngày 4 tháng 8 năm 1961 Dì được tuyên khấn lần đầu tại Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp. Ngày 30 tháng 4 năm 1968 trước sự hiện diện của Đức Giám Mục Giáo phận Xuân Lộc Giuse Lê Văn Ấn và trong tay Mẹ Bề trên Angès Đỗ Thị Sâm, Dì đã long trọng đọc Lời giao ước Vĩnh Thệ. Từ đó, trong những buổi đầu đầy khó lửa và gian truân của thời cuộc đất nước, mảnh đất Mẹ Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp đã ghi dấu biết bao mồ hôi, công sức của các Mẹ, các chị em, trong đó có cả sức lực và những giọt mồ hôi của Dì. Khi Nhà dòng tưởng như đã đi vào ổn định và phát triển, thì biến cố năm 1975 bất ngờ xảy đến khiến chị em trong Dòng mỗi người mỗi nơi. Tuy nhiên một số chị em vẫn bám chặt lấy Nhà dòng và trong số những con người can đảm và kiên cường đã có Dì. Không được làm việc tại Nhà Mẹ, nhưng Dì được sai đi truyền giáo và phục vụ trong một số cộng đoàn vòng 12 năm. Sau đó, suốt từ năm 1986 thì cuộc đời của Dì hầu như chỉ gắn bó với một nơi duy nhất là Nhà Mẹ, thuộc Tu viện Truyền Tin. Công tác được giao cho Dì là phụ nấu ăn cho các Dì nhà An Dưỡng, chăm sóc mấy luống rau và những bầy heo nái. Năm tôi vào tu chính là những nằm Dì căm cụi với những con heo nái trong chuồng.

Ngày ấy, nhà heo là một khoảng đất rộng và nằm sâu phía trong khu vực của Nhà dòng nhưng lại ngay sát dãy hành lang nối liền khu vực nhà Đệ tử với nhà Khấn. Trước cánh cổng đi vào nhà heo có một cây mận già quanh năm ra hoa kết trái, những trái ngon và ngọt. Vì vậy, chẳng mấy buổi chiều mà Đệ tử chúng tôi không tụ tập chung quanh để tìm mận chín. Tôi cũng vậy, hầu như mọi buổi chiều sau giờ cơm tối bao giờ tôi cũng thơ thẩn dạo quanh gốc cây mận đến vài vòng. Chẳng phải để kiếm mận, nhưng là để mặc sức nhớ nhà. Rồi một lần, lúc ấy trời cũng đã nhá nhem tối, trong ánh đèn điện lờ mờ dường như chẳng đủ để thắp sáng mọi chỗ.

– Con chào Dì. Muộn rồi mà Dì còn làm gì thế? Hỏi cho vui chứ ngày nào mà tôi chẳng thấy Dì cặm cụi ở đây.

– Đâu có làm gì đâu. Dì phân trần.

– Chỉ quét mấy cái lá cho có chỗ thoát nước. Dì lại cười.

Nghe vậy tôi bắt đầu thấy áy náy và xấu hổ vì câu hỏi vô ý của mình. Thật ra, những việc Dì làm hàng ngày làm gì có tên. Sáng sớm thì xách một cái rổ với một cái liềm ra vườn để tìm rau mang về nấu cám cho heo. Nấu xong thì cho heo ăn, quét dọn chuồng trại… Cả 5 chuồng có đến gần 30 chục con. Con nào con đấy cứ béo tròn. Vất vả cho Dì là những ngày heo bệnh hoặc heo đẻ, Dì ra vào thức suốt đêm. Nhưng lạ một điều là Dì chẳng bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Dường như đối với Dì cuộc sống như vậy là bình yên, hạnh phúc.

– Dì ơi, con chán tu rồi. Tôi tiến lại gần Dì hơn và bắt chuyện.

– Sao? Mỗi người chỉ có một cái trán mà sao cứ chán hoài thế!  

Tôi bật cười khanh khách. Dì già rồi mà lúc nào cũng hóm hỉnh, thích đùa.

Dì ơi, làm cách nào để biết mình có ơn gọi vậy Dì? Tôi làm ra bộ quan trọng và gấp gáp. Đến lúc này Dì mới ngừng tay và hỏi lại.

– Làm cách nào biết mình có ơn gọi à?

– Vâng, có dấu chỉ nào để nhận ra mình được Chúa gọi? 

Dì suy nghĩ một giây rồi trả lời.

Là… sống hết mình với Nhà dòng và được chị em yêu thương đón nhận.

– Đơn giản vậy hả Dì?

– Ừ.

– Chỉ cần yêu mến Nhà dòng, không cần yêu Chúa được không? Tôi bắt đầu có ý trêu ghẹo Dì.

– Yêu mến Nhà dòng nghĩa là yêu mến Chúa rồi đấy. Không yêu mến Chúa thì cũng chẳng yêu mến Nhà dòng được.

– Nhưng đi tu suốt đời chỉ ở nhà heo và làm những việc không tên tuổi thì buồn chết.

– Ơ! Dì tỏ ra ngạc nhiên vì câu nói của tôi. Dì tiếp.

– Ở trong nhà Dòng chẳng có việc gì thấp hèn cả. Vả lại đi tu là đi theo Chúa, sống với Chúa chứ có phải đi tu để làm cái này hay làm cái kia đâu.

– Vậy Dì có hạnh phúc không?

– Có chứ.

Dì có bao giờ chán tu không?

– Không. Lúc đầu chỉ có nhớ nhà chút chút, nhưng dần dần sẽ quen. Hơn nữa, mọi người trong gia đình chẳng mong ở mình cái gì đâu. Chỉ mong cầu nguyện thôi.

– Thật không Dì?.

– Thật chứ sao. Dì cười, nụ cười hóm hỉnh.

– Dì cầu nguyện cho con, con đừng dại dột mà bỏ tu đấy. Dì nói tiếp.

– Vâng, Dì nhớ cầu nguyện cho con đấy. Dì đừng quên con đó nghe.

Câu chuyện của tôi và Dì chiều nào cũng tương tự như vậy. Lắm lúc tôi thật lòng muốn trải hết nỗi lòng cùng Dì, nhưng cũng có lắm lúc giả bộ đặt ra những câu hỏi hóc búa để được nghe những câu trả lời thánh thiện, đơn sơ của Dì. Dì đúng là bạn của tôi.

Ít lâu sau, tôi được chuyển lên Sài Gòn để bước vào giảng đường đại học. Trong một môi trường mới và với bổn phận mới, tôi dường như đã quên mất hình bóng của Dì. Nhiều lần cũng được về Nhà Dòng để tĩnh tâm tháng, nhưng cứ xong tĩnh tâm là vội vàng ra đi chứ không còn giờ gặp gỡ hay thăm hỏi Dì. Rồi thời gian học cũng hết, tôi được gọi quay trở về Nhà Mẹ để chuẩn bị lên Tiền Tập. Cũng là nơi xưa chốn cũ, nhưng hôm nay sau những năm tháng xa cách, tôi trở về với một tâm hồn chất chứa bao nỗi ưu tư: “Tôi có tu được không?”, “Có nên tu nữa hay không?”… Đó là những câu hỏi đang giằng xé tối. Trước khi đi tu tôi đã không còn mẹ, nhưng ít ra tôi cũng còn có bố. Bố là chỗ dựa duy nhất cho tôi và các em. Nhưng bây giờ bố cũng chẳng còn. Chúa đã gọi bố tôi, Người để lại cho tôi gánh nặng cuộc sống và gánh nặng một đàn em. Tôi phải làm gì đây? Làm sao mà tôi có thể tu được?… Nhiều người tư vấn cho tôi cũng cảm thấy khó lòng để có thể đưa ra câu trả lời. Tôi đành tự hỏi mình rồi tôi lại hỏi Chúa. Nhưng vẫn lặng im, rồi một thứ bóng tối dày và đặc bao trùm tôi khiến lòng tôi thêm trĩu nặng. Tôi nén nỗi đau vào trong và nhắm mắt lại để mặc cho bước chân dẫn đi đâu tuỳ ý. Một lúc sau, mở mắt ra tôi thấy mình đang đứng ở một nơi quen quen. Tò mò, tôi ép sát người vào cánh cổng và cố gắng nhìn vào trong. À, nhà heo. Nhưng nhà heo không còn giống như xưa, một dãy chuồng heo năm nào bây giờ đã chất đầy củi, cả cây mận ngày xưa cũng không còn. Vắng quá! một cảm giác trống trải, buồn buồn xen lấn tâm hồn tôi. Đúng lúc đó, một tiếng chó sủa làm tôi giật mình. Tôi phát hiện không phải một con mà có đến cả hai con, chúng đang tiến dần về phía tôi, miệng sủa liên hồi. “Chết tôi rồi, biết chạy đường nào?”. Sẵn có hòn đá ngay dưới chân, tôi khom người xuống tính liệng cho nó một cái rồi bỏ chạy. Nhưng may quá, một bước chân lẹp xẹp, chậm rãi đang bước dần về phía tôi vừa đi vừa dằn hai con chó:

Sol! Đôni…!  Đó là tên của hai con chó.

– Dì, Dì Chiên! Tôi mừng quýnh.

– Sao con lại ra đây giờ này?

– Con đi tìm Dì. Tôi nói dối.

– Dì khoẻ không Dì? Bữa nay Dì không còn nuôi heo nữa hả Dì?

– Không, mấy năm nay rồi, nhà mình không còn nuôi heo nữa. Chuồng heo bây giờ đã thành chuồng để củi rồi. Với lại, Dì cũng không còn khoẻ nữa nên cũng không làm nổi.

Nghe nói vậy tôi mới bắt đầu quan sát Dì. Dì già rồi, khuôn mặt cũng nhiều nếp nhăn hơn trước, cái lưng của Dì khom khom như sắp muốn còng xuống đất.

– Vậy, giờ Dì đang ở Nhà an dưỡng hả Dì?

– Không, Dì vẫn còn ở Tu viện Truyền Tin. Không nuôi heo nữa, nhưng nuôi hai con chó.

– Hihi… Hèn chi hai con chó nghe lời Dì.

– Con tu đến đâu rồi?

Con vẫn còn là Đệ tử Dì ạ. Nhưng con học xong rồi. Con về đây là để chuẩn bị lên Tiền Tập. Dì cầu nguyện cho con nhé.

– Ừ. Trông em cũng cứng cáp rồi đó. Em cố gắng lên. Đừng lo lắng, đừng bỏ tu nhé. Dì cầu nguyện cho. Ngày nào Dì cũng cầu xin Chúa cho các em được ơn bền đỗ đến cùng.

Nói rồi Dì nhìn thẳng vào khuôn mặt tôi. Hình như Dì muốn nói nhiều với tôi, nhưng một người ít học, lại chẳng bao giờ đi đến đâu nên thật khó khăn để ban cho tôi những lời khuyên nhủ. Tuy nhiên, tôi lại thực sự cảm động đến nghẹn ngào. Tôi hỏi Dì thêm một câu giống hệt như năm nào

Dì có hạnh phúc không Dì?

– Có chứ.

– Nếu cho Dì được chọn lại, Dì có chọn đời tu không?

– Có, Dì vẫn chọn đi tu vì chẳng có đâu tốt bằng Nhà Chúa. Con cũng cố gắng lên. Hãy phó thác cho Chúa, đừng lo. Bố mẹ ở trê thiên đàng cầu nguyện cho con.

– Vâng. Dì cầu nguyện cho con nhé. Con cảm ơn Dì.

Thế rồi tôi và Dì chia tay nhau. Dì đi về phía Nhà Khấn, còn tôi quay lại nhà Đệ tử. Từ đằng xa tôi thấy các chị đang học bài dưới ánh đèn điện sáng trưng nhưng tôi không muốn vào nhà, mà tiếp tục lang thang trên sân cỏ. Trăng bắt đầu lên cao, hình bóng Dì quyện vào tâm trí tôi. Dì, một nữ tu tầm thường, bé nhỏ và dường như nhỏ bé và tầm thường nhất trong Nhà dòng. Nhưng điều làm tôi cảm phục là từ ngày tôi biết Dì đến nay chưa bao giờ tôi thấy Dì buồn bã hay chán nản. Cả cuộc đời của Dì, Dì cũng không làm được việc gì to lớn, nhưng lại có một tấm lòng với Hội dòng và với chị em. Cái đó theo tôi là cái lớn lao, cao cả nhất. Chẳng vậy mà lúc nào Dì cũng thanh thoát, bình an và hạnh phúc. Còn tôi, tại sao không sống một cuộc sống như Dì để được hạnh phúc? Tại sao tôi không dám phó thác cuộc đời tôi và tất cả những gì là của tôi cho Thiên Chúa? “Đừng bỏ tu nhé. Dì cầu nguyện cho”. Lời Dì đó! Dì đang khuyến khích tôi, động viên tôi. Tôi như thấy lòng mình trải rộng hơn, ấm áp hơn,tưởng hơn.

Vậy là cuối mùa hè năm ấy, tôi lên Tiền Tập, một năm sau thì vào Nhà Tập, sau đó thì khấn Dòng. Còn Dì theo tháng năm, sức khỏe của Dì thêm suy yếu, Dì đã nghỉ hưu tại Nhà An Dưỡng của Mẹ Hội Dòng. Mỗi lần có dịp tôi đều tìm đến thăm Dì để tìm lại kỷ niệm năm nào, nhưng Dì không còn nhớ gì về tôi nữa. Tuổi già đã làm Dì quên khá nhiều chuyện năm xưa để chỉ còn lại một điều duy nhất là lòng yêu mến Chúa, yêu mến Hội Dòng. Có lẽ vì vậy mà Chúa đã thưởng cho Dì ngay ở đời này để Dì sống thật dễ thương, hiền hòa và can đảm chịu đựng căn bệnh cuối đời mà không một lời kêu van. Và rồi vào lúc 15g55′ ngày 27 tháng 11 năm 2013 tại Nhà Mẹ Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp, Dì đã được Chúa thương gọi về trong ơn nghĩa Chúa, hưởng thọ 76 tuổi và 52 năm Khấn Dòng.

Nhìn lại toàn bộ những chặng đường đã qua, tôi thầm tạ ơn Chúa đã đưa tôi vượt qua những quãng đường tăm tối. Bên cạnh đó, tôi cũng nhận ra rằng, nếu trên những quãng đường ấy giả như không có ngọn đèn dầu cho dù là một ngọn đèn dầu rất tầm thường, mỏng manh và yếu đuối thì đời tôi sẽ đi về đâu? Biết rằng Chúa luôn có cách của Chúa. Nếu Ngài không dùng cách này thì Ngài sẽ dùng cách khác để lôi cuốn tôi. Nhưng cách mà Thiên Chúa đã làm cho tôi qua cuộc đời của một cây đèn dầu vẫn là cách mà tôi thấy ấm lòng nhất. 

Xin Thiên Chúa thương và đón nhận linh hồn Dì Maria để Dì sớm được hợp hoan cùng các thánh trên Thiên quốc.

Sr. Lan Hương  

Comments are closed.