Giáo án khối Vào đời – Năm I – Bài 7

0

Bài 7:  XỨ PA-LÉT-TIN THỜI CHÚA GIÊSU

I.  ỔN ĐỊNH:

1. Thánh hoá:
2. Ôn bài cũ:
3. Dẫn vào bài mới:

Nói đến quê hương của Chúa là nói đến một vùng đất được xem là “Thánh địa”, nơi xảy ra nhiều sự kiện được ghi chép trong Kinh Thánh. Quê hương và lịch sử dân tộc Do Thái cũng là cội nguồn “Lịch sử cứu độ”, vì Do Thái và Kitô giáo cùng chung nguồn lịch sử Kinh Thánh. Trong bài này, chúng ta cùng viếng thăm đất nước thời Chúa Giêsu.

II. CÔNG BỐ LỜI CHÚA: Mt 2,1-6  (thinh lặng –gợi ý)

Cảm tạ Chúa đã nhập thể làm người như chúng con ngoại trừ tội lỗi. Chúa đã trở nên một người Do Thái, đảm nhận toàn bộ dòng lịch sử của dân tộc Chúa. Và như thế, Chúa cũng có một quê hương – mà hôm nay chúng con được học hỏi về mảnh đất, nơi đã ghi lại nhiều sự thăng trầm trong lịch sử của dân tộc Do Thái, và nhất là nơi đã ghi dấu ấn của Chúa khi đi vào trần gian. 

III. DIỄN GIẢNG:

1.  XỨ PA-LÉT-TIN (hay còn gọi là Đất Hứa – Thánh địa Pa-lét-tin)):

Pa-lét-tin, một vùng đất lịch sử nhỏ bé, nằm dọc theo bờ biển Địa Trung Hải, là điểm thông thương tiện lợi nối liền châu Á và Bắc Phi. Nơi phần đất này từng xuất hiện những giống dân Amôrít, Canaan và những dân Sêmít (khoảng 3000 trước CN). Tên khởi đầu của nó là Canaan. Tổ phụ Abraham đã vâng lời Thiên Chúa đưa con cháu mình từ thành Ur (vùng vịnh Ba Tư) đến Canaan định cư. Tuy nhiên, tên gọi và biên giới thì thay đổi tùy theo thời cuộc:

Thời Tổ Phụ Abraham gọi là Canaan…; Khi dân Philitinh đánh chiếm những vùng tây nam vùng Canaan, họ đặt tên Canaan thành Pa-lét-tin; vào khoảng thế kỷ XII, dân PHILITINH chiếm cứ vùng duyên hải Địa Trung Hải ở mạn Nam. Vài thế kỷ trước công nguyên, người Hy Lạp lấy tên của dân ấy mà đặt cho xứ này; xứ Palestina, nghĩa là “xứ của dân Philitinh”

Khoảng năm 1029 TCN. 12 chi tộc Israel thống nhất lại, lập quốc dưới sự cai trị của Vua Saun (Saule) Rồi David làm vua, đặt tên nước là Israel, lấy Giêrusalem làm thủ đô vào năm 1000 TCN. Israel đã muốn có một vua và nên một vương quốc như các dân tộc khác. Họ đã có Saun lên làm vua, nhưng không thành công. Khoảng năm 1000, Đavít chiếm Giêrusalem và đặt nó làm thủ đô của một vương quốc quy tụ các chi tộc cả phía Nam lẫn phía Bắc. Sau đó con ông là Salômon lên kế vị.

Sau khi Salômon mất năm 928 TCN, Israel bị chia làm hai: Miền Bắc gọi là Israel và miền Nam gọi là Giuda.

Nam 721 TCN, vương quốc Israel bị quân Asyria tàn phá. Từ thời gian này người ngoại quốc đến cư ngụ ở miền Trung làm thành một dân pha trộn gọi là Samaria.

Năm 587 TCN, Vua Nabuchodonoso xâm chiếm miền Giudea, phá hủy Đền Thờ Giêrusalem, vua quan và một số dân Do Thái bị bắt đi lưu đày ở Babylon. Tiếp đến khoảng năm 530-331 TCN, Đế quốc Ba-Tư thống trị gần hết vùng Trung Đông. Dân Do Thái được lệnh hồi hương – Tiếp theo Alexanđro đại đế hạ gục đế quốc Ba Tư…

Năm 63 TCN, tướng Pom-pê đánh chiếm Giêrusalem, chấm dứt nền độc lập Do Thái, mở đầu cho giai đoạn Roma đô hộ. Quyền lực tuy trong tay, nhưng tiếp tay với Đế quốc Roma vẫn là các vua chúa địa phương …

2. THỜI CHÚA GIÊSU:

Vùng đất Pa-lét-tin có diện tích khoảng 30.000 km vuông – gồm có ba phần: Galilê ở phía bắc, Sa-ma-ri ở giữa, và Giu-đê ở phía nam. Phía Tây là Địa Trung Hải, phía đông là dòng sông Gio-đan chảy từ hồ Galilê xuống biển chết.

a/ Miền Bắc: gọi là Galilea, miền cao nguyên, có nhiều hoang địa và đồi núi; có núi Tabore. Có các thị trấn nổi tiếng như: Nazaret, Cana, Carphanaum, có biển hồ Teberia. Phần đông dân chúng làm nghề chài lưới trên biển Hồ; có người Do Thái và dân ngoại sống chung, buôn bán thịnh vượng.

b/ Miền Trunggọi là Samaria, vùng đồi núi trùng điệp Ephraim. Nổi tiếng có núi Ebal, nơi Mose cho dựng đài kỷ niệm ngày dân Israel tới đất Hứa. Núi Garizim, nơi Israel đã đọc lời chúc tụng Giave; và cũng là nơi người Samaria thờ phượng TC ở đó. Hai thị trấn nổi tiếng là Samaria và Sikem. Miền này do dân ngoại chiếm ngụ, không đồng tôn giáo với người Do Thái.

c/ Miền Nam: gọi là Giudea , miền núi non và thung lũng. Thị trần nổi tiếng là Bersabe, Hêbrong, Belem và Gierusalem. Miền này người Do Thái chính tông cư ngụ.

3. VỀ CHÍNH TRỊ:

Đức Giêsu mở mắt chào đời khi hoàng đế Au-gút-tô trị vì đế quốc Roma được 20 năm. Ông này khai mở một thời kỳ tương đối ổn định trên toàn phần đất của đế quốc rộng hơn ba triệu cây số vuông.

Riêng ở Pa-lét-tin, nghị viện Roma đã đặt Hêrôđê còn gọi là Hêrôđê Cả, làm vua từ năm 40 TCN. Ông này có tính đa nghi nên đã giết vợ là người Do Thái và 3 con trai. Khi Đức Giêsu sinh ra (vào năm 6 hay 7 TCN), Người đã phải trốn sang Ai Cập vì bị Hêrôđê  lùng bắt (Mt 2,13).

Năm 4 TCN: Vua Hêrôđê Cả qua đời, Vương quốc được chia cho 3 người con:

  • Hêrôđê Antipa (4-39 sau CN) (Lc 3, 1): Tiểu vương vùng Galiê và vùng Pêrê (miền Bắc). Chính ông này đã giết Gioan Tẩy giả & có nhúng tay vào vụ án của Chúa Giêsu.
  • Philipphê: Tiểu vương các vùng Đông Bắc của Hồ Galilê
  • Ac-kê-lao (Mt 2, 22): Cai quản vùng Giuđê – Samaria và Iđumê. Năm 6 sau CN: Ac-khê-lao bị truất phế – Người Roma cai trị trực tiếp qua các tổng trấn Roma. Trong số này phải kể đến Ponxiô Philato (26-36 sau CN), là người bài Do Thái. Với tư cách là tổng trấn, ông có quyền tối cao trong việc cai trị và xử án. Ông chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Giêsu xảy ra vào năm 30. Ông bị người Do Thái căm ghét vì có những hành vi khiêu khích, coi thường tôn giáo của họ. Sau vụ ra lệnh tàn sát nhiều người ở Samaria, Philato bị cách chức.


4. Những SÔNG – BIỂN cần lưu ý:

  • Sông Giođan:  Chảy dài từ Bắc xuống Nam, dài 215 km (đường chim bay) hay 400 km đường uốn khúc. Sông không rộng, không sâu, nước đục, hai bên bờ cây cối xanh tươi.
  • Hồ Tiberia: Cũng gọi là Biển Hồ Giênêzaret, thuộc xứ Galile (Bắc). Hồ dài 21 km, rộng 12 km, sâu 48 m. Biển Hồ là nơi sinh sống của nhiều cư dân Galilea, va là nơi xảy ra nhiều biến cố trong thời Tân Ước.
  • Biển chết: Tục gọi là Bể Lot, nơi bà Lot biến thành tượng muối trong trận Chúa thiêu hủy Sôđoma. Biển dài 80 km, rộng 16 km, sâu 400 m. Nước mặn và đặc hơn nước biển thường gấp 6 lần nên không sinh vật nào có thể sống được, vì thế gọi là biển Chết.


5.  TÔN GIÁO:

Vào thời Đức Giêsu, có những cách biệt khá lớn giữa những thành phần trong xã hội:

a/ Giới tư tế:

Đứng đầu giới tư tế là vị thượng tế, vị này là thủ lãnh của dân, là tác viên chính trong phụng tự và chủ tọa thượng hội đồng Do Thái gồm 71 thành viên. Mỗi năm một lần vị thượng tế được vào Nơi Cực Thánh trong đền thờ để làm lễ xóa tội cho toàn dân. (Như Zacharia, cha của Gioan tiền hô).

Các tư tế khác sống ở thánh đô hay rải rác trong nước. Họ sống nhờ của lễ dâng cúng.

Các Thầy Lêvi: Họ không phải là tư tế nên không được cử hành phụng tự. Họ lo phận vụ ca hát, sử dụng nhạc khí, giữ cửa và bảo vệ đền thờ.

b/ Giới Kinh sư:

Những nhà chuyên môn về Kinh Thánh, giải thích và áp dụng luật cho dân chúng. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Họ thường có mặt ở các Hội đường. Họ đưa ra nhiều luật lệ chi li và nhiều khi cũng rơi vào một thứ óc nệ luật hẹp hòi, khiến cho việc giữ luật trở thành gánh nặng và làm cho người ta quên đi cái cốt yếu của lề luật. Dù sao chính nhờ các Kinh sư mà Do Thái tồn tại sau biến cố năm 70.

c/ Nhóm Pharisiêu (Biệt phái)

Có lối sống cách biệt nên gọi là biệt phái. Vào thời Đức Giêsu, nhóm này rất được kính trọng vì chính đời sống đạo đức của họ. Họ họp thành những cộng đoàn nhỏ, đóng kín. Họ chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và quyết tâm giữ tỉ mỉ mọi khoản luật, thành văn cũng như truyền khẩu. Có lẽ Đức Giêsu khi còn bé đã được các người Pharisiêu dạy giáo lý và cầu nguyện ở Hội đường Nazaret.

Về Giáo lý: Tin linh hồn bất tử, xác kẻ lành sống lại / Tin Chúa độc nhất quan phòng / Hy vọng tương lai đất nước.

d/ Nhóm Xa-đốc (Saduceo):

Được thành lập thời đế quốc Ba Tư đô hộ, họ có thế lực lớn về chính trị và tôn giáo vào thời Roma đô hộ. Họ chống lại Chúa Giêsu.

Về Giáo lý: Không tin phủ nhận sự thưởng phạt đời sau và sự phục sinh (Mt 22,23; Cv23,6-8). Họ không coi trọng luật truyền như nhóm Pharisiêu, nhưng trung thành với nghĩa đen của Kinh Thánh, đặc biệt quý trọng Ngũ Thư.

6. CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa,

Qua bài học Kinh Thánh hôm nay, xin Chúa củng cố niềm tin của chúng con, niềm tin vào Con Một Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã làm người và ở giữa chúng con. Xin cho chúng con, giữa những long đong và bấp bênh của phận người, vẫn tin rằng có Chúa đồng hành với chúng con và luôn nâng đỡ chúng con. Cũng xin Chúa giúp chúng con biết quảng đại đón nhận trong cuộc đời, với bao điều không như ý. Và xin cho chúng con dám sống như Chúa, vì Chúa đã làm người để cứu chuộc chúng con.

III.  SỐNG LỜI CHÚA

1. Bài học: theo sách thủ bản hay do GLV.

2. Gợi ý thực hành: Theo gương Chúa Giêsu, em luôn yêu mến quê hương Việt Nam, ý thức trách nhiệm sống và làm đẹp xã hội này bằng một cuộc sống tốt với gia đình, xã hội và Giáo Hội.

V. KẾT:….       

(Soạn theo: “Dẫn Vào Tân Ước” của GKPV; Quê hương Chúa Giêsu” của Đình Vượng; “Kinh Thánh sơ cấp” của Lm Anton Hoàng Văn Tấn)

 Sr. Têrêsa Nguyễn Thị Phượng

Comments are closed.