Đồng tâm

0

 Chúa Nhật III Thường Niên – Năm A

(Is 9, 1-4; 1 Cor 1, 10-13. 17; Mt 4, 12-23)
Mẹ Têrêxa kể câu truyện xảy ra tại Melbourne, Úc Đại Lợi: Tôi tới thăm viếng một cụ già cô đơn vì chẳng có ai để tâm ngó dòm. Tôi thấy ông cụ cư ngụ trong một căn phòng tối tăm và bẩn thỉu. Sàn nhà phủ đầy cát bụi và rác rưởi. Màng nhện giăng khắp nơi. Không có chút ánh sáng trong phòng. Cụ già sống trong đêm tối sau bức màn. Tình trạng bên ngoài không khác gì tâm trạng của tâm hồn. Cụ sống trong chán chường, thất vọng và buồn tủi đơn côi. Cụ không có bà con bạn bè trong cuộc sống. Tôi hỏi: Tôi có thể giúp gì cho ông? Tôi bắt đầu lau chùi và sắp đặt ngăn nắp các đồ đạc trong phòng. Lúc đầu, cụ nói: Thôi cứ để vậy, mọi sự tốt mà! Nhưng tôi cố tình thuyết phục và cuối cùng, cụ đã để tôi dọn dẹp.
Tôi lau chùi cẩn thận mọi chỗ và tôi phát hiện ra một cái đèn dầu. Đèn hết sạch dầu và bụi phủ dầy. Tôi có thể nhìn thấy chiếc đèn còn tốt. Tôi đã rửa ráy, đánh sáng và châm dầu. Tôi hỏi: Sao cụ không đốt đèn? Cụ trả lời: Tại sao tôi phải đốt đèn chứ? Chính tôi không cần đến nó. Tôi sống quen với màn đêm rồi. Chẳng có ai đến gặp tôi cả. Vậy cụ có hứa với tôi là sẽ đốt đèn sáng khi có một trong các Dì của tôi đến thăm cụ không? Cụ trả lời: Tôi hứa. Nếu tôi nghe có tiếng người đi vào nhà, tôi sẽ thắp đèn sáng. Một nữ tử dòng Bác Ái đã bắt đầu đến viếng thăm ông. Cụ đã bắt đầu có một cuộc sống mới. Cuộc sống được soi dọi bởi ánh sáng không chỉ là đèn dầu mà là ánh sáng của niềm hy vọng và tình yêu được thắp lên trong trái tim của ông.
Ánh nắng mặt trời dọi sáng khắp nơi và là nguồn sưởi ấm cho mọi loài. Tiên tri Isaia đã dùng hình ảnh ánh sáng và đêm tối để diễn tả về nguồn ơn giải thoát. Ánh sáng đã dọi chiếu vào thế gian mang lại niềm hy vọng cho muôn dân. Isaia đã đồng hành cùng Dân Thánh qua mọi thăng trầm của cuộc sống. Cả những ngày lưu đầy xa xứ trong cảnh nô lệ và bị áp bức. Với niềm hy vọng vào một tươi lai tươi sáng, Isaia có tư tưởng rất tích cực để khích lệ và nuôi ý chí phấn đấu. Phấn đấu với những ảnh hưởng dị dạng của ngoại bang và đời sống dung tục của con người xã hội. Isaia đã nhắc nhớ cho Dân về chương trình cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ. Ánh sáng công chính sẽ soi dọi vào tâm tư mọi người để đốt nóng lên niềm cậy trông và hy vọng cứu độ: Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết (Is 9, 1).

Lịch sử của Dân Do-thái cũng là lịch sử của ơn cứu độ. Dân Thánh được Thiên Chúa ưu ái, giữ gìn và bảo vệ. Ngay từ thời lưu lạc tại Ai-cập, con dân phát triển không ngừng. Vua Pharaôn đã phải diệt trừ các trẻ trai mới sinh ra để giảm bớt dân số. Trong cuộc lữ hành sa mạc về Đất Hứa, hầu hết những người rời Ai-cập đã chết trong hoang địa. Dân Thánh vẫn tồn tại và sinh xôi nẩy nở thêm đông. Cho dù dân Do-thái bị tản mát khắp nơi và bị vùi dập, nhưng họ vẫn có thể đứng dậy và thiết lập cơ đồ. Isaia đã diễn tả sự phú túc và phát triển của dân tộc: Người đã gia tăng dân số, đã ban một nguồn vui lớn; thiên hạ hân hoan trước mặt Người, như hân hoan khi được mùa, nhảy mừng như khi phân chia chiến lợi phẩm (Is 9, 2). Isaia đã khơi dậy sự phấn chấn và an ủi lớn lao cho toàn dân. Họ hãnh diện là Dân được chọn và một Dân có lề luật hướng dẫn. Họ tôn thờ một Thiên Chúa độc thần.

Khởi đầu sứ vụ rao giảng, Chúa Giêsu đã kêu gọi: Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!” (Mt 4, 17).Chúa muốn một sự đổi mới thật sự trong tâm hồn, chứ không phải chỉ có thái độ ỡm ờ. Cần có một thái độ dứt khoát để hưởng nhờ ơn cứu độ. Một sự đụng chạm nội tâm sâu thẳm. Sự hối cải phải là một sự đổi đời thực sự. Bỏ lại qúa khứ sai lầm và tội lỗi để sống một đời sống mới trong Nước Trời. Những lời mời gọi về sự sám hối, thống hối, hối cải, sửa đổi hay thay đổi là lời mời khẩn thiết cho mọi người ở mọi thời. Thường thì tâm tình yếu đuối của con người là ưa dễ dãi, thích khất lần, sống hời hợt và che lấp bằng lớp vỏ đạo đức nào đó. Tất cả những việc đạo đức biểu tỏ bên ngoài sẽ không xóa nhòa hay khỏa lấp cuộc sống hai mặt phía sau. Thái độ dứt khoát với sự dữ, sự tội và sự xấu không luôn dễ, vì chúng ta quá quen chung sống với đêm tối. Hối cải là đối diện thật với lòng và với cuộc sống. Soi mình trước lương tâm, huấn lệnh, các giới răn và luật Chúa và luật Hội Thánh để canh tân đời sống.

Chúa Giêsu đã bắt đầu thành lập Giáo Hội trên trần gian để tiếp tục sứ vụ của Ngài. Chúa đã chọn những môn đệ đầu tiên để huấn luyện, dạy dỗ và sống niềm tin. Chúa đã chọn gọi các thợ chài lưới ít học nhưng có tâm hồn đơn sơ chân thành. Với lời mời gọi nhẹ nhàng và trìu mến: Người bảo hai ông Phêrô và Anrê rằng: “Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta” (Mt 4, 19). Các ông đã đi theo Chúa và đi theo tới cùng: Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người (Mt 4, 20). Chúa gọi đích danh từng người và chọn gọi họ làm môn đệ của Chúa. Các ngài là những người rường cột của một Hội Thánh: Người cũng gọi hai anh là Giacô bê và em là Gioan con ông Giêbêđê. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người (Mt 4, 22).

Bốn môn đệ đầu tiên đã dứt khoát bỏ mọi sự đi theo Chúa. Chúa đã làm cho các ngài trở thành những kẻ chài lưới người. Những con người bình thường đã thực hiện những việc khác thường và phi thường. Chúa cũng mời gọi mỗi người chúng ta hãy trở nên nhân chứng của sự sáng. Niềm tin vào Chúa Kitô là nguồn ánh sáng sẽ dẫn dắt chúng ta bước vào con đường sự sáng. Đèn sáng của chúng ta phải đặt trên giá và chiếu tỏa cho mọi người chung quanh. Góp phần tích cực vào sứ vụ truyền rao tin mừng nước trời, chúng ta phải đứng về phía ánh sáng và sống như con cái sự sáng.

Chúa Kitô, mặt trời công chính và là ánh sáng đã đến trong thế gian. Ánh sáng của Chúa Kitô soi dọi vào đêm tối của tội lỗi và sự dữ. Chúa đã đến cứu thoát con người ra khỏi vùng âm u sự chết và dẫn vào ánh sáng vĩnh cửu. Thánh Phaolô đã mời gọi các Kitô hữu hãy biết đồng tâm hiệp ý liên kết trong một niềm tin: Anh em thân mến, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình (1 Cor 1, 10). Sự giao thời giữa Cựu Ước và Tân ước đã tách biệt dân Do-thái ra nhiều nhóm khác nhau. Ngay cả trong các nhóm Kitô hữu tiên khởi đã nhen nhúm sự phân rẽ vì niềm tin.

Chỉ có một Chúa Giêsu Kitô. Chỉ có một Đấng cứu độ là Con Một Thiên Chúa. Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta. Ngay từ thời các Tông đồ bắt đầu sứ mệnh rao giảng tin mừng, các tín hữu đã có sự tranh dành, gây ảnh hưởng và chia rẽ nội bộ vì qúa để tâm đến quyền tư lợi. Thánh Phaolô phải lên tiếng nhắc nhở: Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: “Tôi, tôi thuộc về Phaolô; “Tôi về phe Apollô”; “Còn tôi, tôi về phe Kêpha”; “Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô” (1 Cor 1, 12). Chúa Kitô là trung tâm của tất cả niềm tin. Chúa Kitô duy nhất không thể phân rẽ. Sứ mệnh của Chúa Kitô là đem tin mừng giải thoát nhân loại. Chúa cứu độ tâm hồn con người khỏi sự ràng buộc của ma quỷ, tội lỗi và sự dữ.

Lạy Chúa, ngày qua ngày đèn tâm hồn của chúng con bị bụi mù vây phủ. Xin cho chúng con biết can đảm lau sạch, đánh bóng, châm dầu và khơi đốt ánh đèn để tâm hồn chúng con được tỏa sáng và sưởi ấm trong tình yêu của Chúa.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Comments are closed.