Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa

0

ĐỨC GIÊSU LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA   

Ga 1,29-34

I. Bối cảnh

Tin Mừng thứ tư không thuật lại phép rửa của Đức Giêsu, nhưng nhắc tới phép rửa này dưới dạng một lời chứng của Gioan về Đức Giêsu, dựa theo sự hướng dẫn của Thánh Thần: Tôi đã thấy, nên xin chứng thực. Đối với thánh sử Gioan, không phải là tiếng nói của Chúa Cha giới thiệu Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng là sự hiện diện của Thánh Thần trong Người. Chính vì thế, thánh sử Gioan xác định tính chân thực của phép rửa của Đức Giêsu mang lại là phép rửa ban sự sống của Thần Khí.

Đoạn Tin Mừng này diễn ra vào ngày thứ hai trong “Tuần lễ đầu tiên” của Đức Giêsu. Sau phần lời tựa (Ga 1,1-18) là một hình thức thi ca về Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, thánh sử Gioan mô tả “Tuần lễ đầu tiên” của Đức Giêsu, nhắc lại tuần lễ cao trọng đầu tiên của việc Sáng Thế:

  • Ngày đầu tiên (Ga 1,19): chứng từ tiêu cực của Gioan Tẩy Giả: tôi không Phải là Đấng Kitô… nhưng kìa người đến ở giữa các ông”.
  • Ngày thứ hai (Ga 1,29): chứng từ tích cực của Gioan Tẩy Giả đây là một đoạn Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay.
  • Ngày thứ ba (Ga 1,35): theo sự chỉ dẫn của Gioan Tẩy Giả, bốn môn đệ của ông đi theo Đức Giêsu.
  • Ngày thứ tư (Ga 1,43): ơn gọi của Philípphê và của Nathanael.
  • Ngày thứ bảy (Ga 2,1): “Ba ngày sau những cảnh diễn ra ở bờ ông Giođan gần với Gioan Tẩy Giả, có tiệc cưới ở Cana miền Galilê và Mẹ Đức Giêsu cũng ở đó, và Đức Giêsu cũng được mời các môn đệ “Dấu chỉ” đầu tiên.

II. Bố cục

Bản văn được kết cấu theo dạng đối xứng như sau:

a. (c. 29): Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. a’. c. 34: Gioan làm chứng Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.
b. (c. 30): Đức Giê su lớn hơn Gioan Tẩy Giả. b’. c. 33b: Chứng nhân thứ ba
c. (c. 31): Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Israel, tôi đến làm phép rửa trong nước. c’. (c. 33a): Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi.

d. (c. 32): Gioan còn làm chứng: Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.

Bản văn có tính thống nhất nhờ sự đóng khung của hai câu 29 và 34, bắt đầu với thành ngữ “Chiên Thiên Chúa” và kết thúc với “Con của Thiên Chúa”. Đỉnh cao là câu 32. Cấu trúc này cho thấy bản văn tập trung vào thị kiến về Chúa Thánh Thần từ trời xuống và ngự trên Đức Giêsu.

III. Tìm hiểu bản văn

Đức Giêsu là Đấng Messia. Điều này được nói bằng 3 cách khác nhau ở cc. 29. 32. 34.

Câu 32: Gioan cho độc giả thấy Đức Giêsu là Đấng Messia bằng cách bảo chính Gioan Tẩy Giả quả quyết rằng ông đã thấy Đức Giêsu được Thần Khí xức dầu. So sánh c. 32 với Is 11,1-2 người ta hiểu Đức Giêsu là Đavit mới vì được Thần Khí đậu xuống và lưu lại với nhiều ơn.

Câu 34: Gioan dùng kiểu nói khác để giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Messia: Con Thiên Chúa hay người Chúa chọn. So sánh câu 34 với Is 42,1 ta hiểu thêm rằng Đức Giêsu chẳng những là Đấng Thiên Sai được xức dầu với nhiều nhân đức và được sai đến với những người khốn cùng mà còn là Đấng Messia hiền lành và đầy lòng thương xót.

Câu 29: Đức Giêsu được giới thiệu là Chiên Thiên Chúa.

Tại sao Gioan không dùng một con vật khác để chỉ Đức Giêsu mà lại dùng con chiên?

Không chỉ qua đoạn Tin Mừng hôm nay chúng ta mới thấy Đức Giêsu được gọi là con chiên. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan đã gọi Đức Giêsu là con chiên đến 27 lần, ngoài ra thánh Gioan còn xác quyết: Đức Giêsu đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta.

Giáo Hội ngay từ thời sơ khai cũng đã nhiều lần dùng hình ảnh con chiên để nói về Đức Giêsu trong những tác phẩm của mình. Đặc tính của con chiên là sự ngây thơ, hiền lành, nhẫn nhục, trong sạch. Đó là những đức tính quý báu của Đức Giêsu, con chiên không tì vết.

Với người Do Thái thời bấy giờ, con chiên trong Cựu Ước thường được dùng làm hy tế. Đó là hình ảnh những con chiên bị sát tế mỗi ngày trong đền thờ, làm lễ vật dâng tiến cho Thiên Chúa như Môsê đã quy định: Mỗi ngày các ngươi hãy hiến tế trên bàn thờ hai con chiên được một tuổi. Một con vào buổi sáng còn một con vào buổi chiều. Máu của chiên đổ ra có sức tẩy xoá tội lỗi cho dân chúng (Xh 29). Khi Gioan giới thiệu Chúa Giêsu là Con Chiên, nghĩa là Ngài sẽ trở thành lễ vật hiến tế để giao hòa con người với Thiên Chúa. Hình bóng của Cựu Ước đã được nên trọn vẹn nơi Tân Ước.

Lời chứng của thánh Gioan: “Tôi đã thấy và tôi làm chứng, chính Ngài là Con Thiên Chúa”. Lời chứng này phù hợp với lời chứng của Thiên Chúa Cha về Chúa Giêsu trong biến cố phép rửa, trong biến cố Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa trước đó có tiếng từ trời phán: “Này là Con Ta yêu dấu”.

Vậy, lời chứng của người làm chứng cho Chúa Giêsu phải phù hợp với lời chứng của Thiên Chúa Cha về Ngài. Chỉ có một sự thật về Chúa Giêsu, sự thật mà Thiên Chúa đã mạc khải, và người làm chứng cho Chúa Giêsu nếu muốn thật sự lời chứng của mình có giá trị thì phải nói lên sự thật đó, không làm méo mó nó bằng những ý kiến riêng tư của mình. Nghĩa là chứng nhân cần phải trình bày giáo lý tinh tuyền của Giáo Hội căn cứ trên lời chứng của Thiên Chúa Cha, chứ không phải là giáo lý do sáng kiến riêng của mình suy diễn. Thánh Gioan vâng lời Thiên Chúa Cha và trung thành với lời chứng của Thiên Chúa Cha, dù phải chấp nhận hy sinh trở nên bé nhỏ đi để Chúa Giêsu lớn lên trong tâm hồn người nghe.

“Tôi không phải là Đấng phải đến”. Người làm chứng không cho mình chiếm chỗ của Chúa Giêsu, không che khuất Ngài, nhưng ngược lại chỉ cho mọi người nhìn thấy Chúa Giêsu: “Ngài đến sau tôi nhưng đã có trước tôi và cao trọng hơn tôi”. Qua đây, Gioan Tẩy Giả nhìn nhận sự thấp hèn của mình trước Chúa Giêsu và đó cũng là thái độ nêu gương cho những ai muốn làm chứng cho Ngài.

Thánh sử Gioan nhấn mạnh đến việc Gioan Tẩy Giả làm chứng cho Đức Giêsu.

Trong Ga 5,33-37 Đức Giêsu bảo Ngài không nại đến chứng của người nào cả vì Ngài có chứng lớn hơn chứng của Gioan. Tại sao Gioan lại nhấn mạnh đến chứng của Gioan Tẩy Giả? Những người Do Thái chưa tin Đức Giêsu thì họ dễ tin vào Gioan Tẩy Giả và Cựu Ước hơn là Đức Giêsu. Ngay cả các môn đệ của Đức Giêsu, trước khi tin Ngài đã phục sinh họ cũng dễ tin Thánh Kinh hơn Ngài, chính vì thế, Thiên Chúa đã dùng Môsê và Elia để giúp 3 tông đồ tin vào lời Đức Giêsu khi Ngài nói về cái chết của Ngài. Khi Phục sinh, chính Đấng phục sinh cũng phải dùng Cựu Ước mà giúp các môn đệ hiểu và tin Ngài phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba sống lại từ cõi chết.

Đối với các môn đệ của Gioan, thì có lẽ không có chứng nào lại hùng hồn bằng chứng của Gioan Tẩy Giả khi muốn khẳng định Gioan Tẩy Giả không phải là Đức Kitô. Đức Giêsu mới là Đức Kitô.

Chứng của Gioan có giá trị như thế nào? Ngoài việc chứng của Gioan Tẩy Giả có giá trị đối với người Do Thái, thánh sử Gioan còn cho chúng ta thấy chứng của Gioan Tẩy Giả là chứng của Thiên Chúa: “… nhưng Đấng sai Người đến thanh tẩy bằng nước đã chỉ cho Người biết Đức Giêsu là ai để Người đoan chứng”.

Suy thêm

1/ Tôi có suy nghĩ gì về hành trình làm chứng của Gioan Tẩy Giả?

2/ Con người hôm nay đang đợi ai? Đức Giêsu do tôi  trình bày và sống có đáp ứng những khát vọng sâu thẳm của họ không?

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh

————–
Tài liệu tham khảo

1/ Chú giải của Noel Quesson.

2/ Phạm Hữu Lai, “Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa”, Chia sẻ Tin Mừng Chúa Nhật năm A, tr. 113-117.

Comments are closed.