Nữ thần A-sê-ra, Át-tô-rét và Át-ta-rốt

0

NỮ THẦN A-SÊ-RA,  ÁT-TÔ-RÉT và ÁT-TA-RỐT

(1V 11,5.16,3.18,19; Gr 7,18)

Tên A-sê-ra (số nhiều là A-sê-rim) hoặc các hình thức khác như Át-tô-rét (số nhiều là Át-ta-rốt) hoặc A-ta-te, xuất hiện thường xuyên trong Cựu Ước. Nữ Thần Mẹ này dáng vẻ giống như Diana hoặc Venus của người La Mã và Ishtar của người Babylon, là một nhân vật có khả năng sinh sản, một loại Mẹ Trái đất. “Công nương của Byblos: thành phố cổ” là một trong những hình ảnh lâu đời nhất của “Nữ thần vĩ đại ở Trung Đông, đã đồng hóa với nữ thần niềm vui Hathor của Ai Cập, Nữ thần mùa màng Demeter của Mycenae, và nữ thần tình yêu Aprhrodite của Cyprus” (Barbara Walker 1983, 69). Các nữ thần Syria tương đương xuất hiện với dáng vẻ như người mẹ/ người vợ trong đền thờ của các vị thần, trong đó gồm có thần El và thần Baal. Tại Palestine, bà được cho là vợ của thần Baal.

Bản Tính của Nữ Thần và Việc Sùng Bái Nữ Thần

Nữ thần Asherah

Nữ thần thường được vẽ hoặc mô tả như đang mang thai, trong khi cũng được coi là một trinh nữ. Bà được cho là đã sinh ra một gia đình khá lớn: gồm bảy mươi vị thần và nữ thần (G. Ernest Wright 1996, 107). Bà cũng là nữ thần tạo dựng và hủy diệt sự sống, đã là điển hình phù hợp với nữ thần bóng tối Kali, một biểu tượng của bản chất. Đền thờ của A-sê-ra ở trung tâm của sự trụy lạc được hợp pháp hóa, nơi các cô thầy cúng tham gia và dính líu trong mại dâm thần thánh. Một học giả lưu ý rằng sự sùng bái của người Ca-na-an là “khiêu dâm cao”, với việc ban hành nghi lễ hôn nhân thiêng liêng giữa thần Baal và Nữ thần A-sê-ra là điểm chính của hành động ma thuật về khả năng sinh sản. Những người thờ cúng sẽ tự đồng nhất mình với thần Baal và cô gái điếm sẽ tượng trưng cho nữ thần A-se-ra (Bernhard Anderson 1966, 103).

Con dấu của Asherah

Đôi khi còn được gọi là “Nữ thần Do Thái” hay “Nữ Vương Thiên Đàng”, hình dáng con người không rõ rệt này dường như có những lăng mộ tại những nơi khác nhau ở Palestine, một số trong đó đã được khai quật bởi các nhà khảo cổ học. Trong nguyên bản Ras Shamara, Bà được mô tả như là một nữ thần của biển và vợ của thần El, trái với các tài liệu tham khảo Cựu Ước về Nữ thần và mối quan hệ của Nữ thần với thần Baal. Sự khác biệt về khả năng viết chính tả và trong lịch sử có thể giải thích dễ dàng y như kết quả của các giáo phái tôn giáo địa phương hóa, họ phát triển các mô hình độc lập về việc thờ phượng và tạo ra thần thoại học của riêng họ.

Một khuôn đá thời sơ khai đã được phát hiện cho thấy rằng Nữ thần Mẹ có hình dáng cao với một chiếc mũ có sừng. Hàng trăm các mảng đất sét cũng đã được phát hiện; một trong số những mảng đất sét này được tìm thấy tại La-ki, có niên đại từ khoảng năm 1000 trước Công nguyên (Madeleine S. Miller và J. Lane Miller, 1961, 47).

Kitô Giáo và Nữ Thần Mẹ

Một số học giả nữ quyền tin rằng các Kitô hữu cảm nhận một mối đe dọa đối với niềm tin mới của họ trong nữ thần A-ta-te-Át-to-rét và biến Bà thành ma quỷ. ảnh hưởng của Bà tỏa khắp nơi và vẫn có thể được nhìn thấy trong Tân Ước, trong kinh nghiệm của thánh Phaolô với các thợ bạc ở Ê-phê-sô. Họ rất phiền khổ vì mối đe dọa gây hoang mang cho tôn giáo Kitô giáo mới này, đặt ra việc thờ phượng nữ thần sinh sản và việc bán các bức tượng nữ thần. Khi Thánh Phaolô rao giảng trong các giảng đường ở đó, họ la lên, “Diana muôn năm!” và buộc ông phải trốn đi để bảo đảm cho mạng sống của ông.

Trong sách Khải Huyền của thánh Gioan, Nữ thần Mẹ của người ngoại giáo được chuyển hóa thành hình ảnh xinh đẹp của Nữ Vương Thiên Đàng, người phụ nữ với chân đạp mặt trăng. Trong cả hai miền Xy-ri và Ai Cập, những vở kịch thánh thiện thời cổ đại tôn vinh Nữ Vương Thiên Đàng đã kỷ niệm sự hồi sinh của thần mặt trời bắt nguồn từ Đức Trinh Nữ thiên giới mỗi năm vào ngày 25 tháng 12. “Một trẻ thơ đã xuất hiện, trong khi tiếng kêu thốt lên rằng Đức Trinh Nữ đã sinh ra” (Barbara Walker 1983, 70). Các Kitô hữu bị bắt buộc phải thay thế việc thờ phượng Nữ thần vĩ đại trước đây đến một niềm tin mới. Qua nhiều thế kỷ, tự bản thân Giáo Hội đã có thể pha trộn các nghi lễ cổ tính theo lịch mặt trời vào lịch của đời sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, làm cho Giáng sinh trở thành một kỷ niệm vui vì sự ra đời của Đấng Cứu Độ. Mối quan hệ giao ước của các thần được miêu tả như một cuộc hôn nhân, như mối quan hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Thánh Gioan đã nói đến tất cả những hình ảnh xúc tích về người phụ nữ trong mặc khải lớn lao của mình: thánh nhân đã khẳng định rằng Nữ hoàng Thiên Đàng là một điển hình tiêu biểu cho hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria, là người thu hút sức mạnh của trái đất. Trong câu chuyện của Khải Huyền, người trinh nữ kết hợp chàng rể của mình trong Hôn Lễ Chiên Con, là sự hợp nhất của Đức Kitô và Giáo hội của Người.

Đọc thêm

– Anderson, Bernhard W. Understanding the Old Testament. Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1966.

– Walker, Barbara G. The Woman’s Encyclopedia of Myths and Secrets. San Francisco: Harper San Francisco, 1983.

– Miller, Madeleine S., and J. Lane Miller. Harper’s Bible Dictionary. New York: Harper and Row,1961.

– Smith, William Robertson. Lectures on the Religion of the Semites. Sheffield, England: Sheffield Academic Press, 1995.

– Tischler, Nancy M. Legacy of Eve: Women of the Bible. Atlanta, Ga.: John Knox Press, 1977.

– Wright, G. Ernest. Biblical Archaeology. Philadelphia: The Westminster Press, 1966.

Sr. Maria Ngô Liên trích dịch trong tác phẩm All Things In The Bible, tác giả Nancy M. Tischler

Comments are closed.