Phân tích Tin mừng Ga 13,1- 32

0

 PHÂN TÍCH  Ga 13,1-32 

I.  DẪN NHẬP

Có thể nói rằng Ga13,1-32 là một đoạn văn có nhiều chủ đề và giàu ý nghĩa trong Tin Mừng thứ tư. Đoạn văn này là một trình thuật về bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ. Nổi bật trong đoạn văn này là hành động rửa chân của Đức Giê-su, qua đó thể hiện tình yêu thương đến cùng của Ngài dành cho các môn đệ. Bên cạnh đó, qua “cái biết” của Ngài và sự “không biết” của các môn đệ – được bộc lộ qua những chi tiết của bản văn, cho ta thấy thái độ chủ động của Đức Giêsu bước vào cuộc thương khó, cũng như sự khủng hoảng của các môn đệ trước một bước ngoặt lớn trong sứ vụ của Ngài. Vậy qua việc quan sát và phân tích bản văn về cái “biết” của Đức Giêsu và “không biết” của các môn đệ, cũng như ý nghĩa hành động rửa chân của Đức Giêsu, chúng ta sẽ có được một cái nhìn sâu sắc hơn về những vấn đề này.

II. QUAN SÁT BẢN VĂN

1. Giới hạn đoạn văn

Đoạn Ga 13,1-32 là phần trình thuật để bắt đầu các diễn từ. Đoạn này mở đầu bằng một lời dẫn trang trọng nối kết yếu tố giờ tôn vinh trong chương 12 (Ga 12,23) và cũng chính là giờ bắt đầu các biến cố thương khó, phục sinh được đề cập trong những chương tiếp theo. Khi đọc chương 13, chúng ta dừng lại ở câu 32 để hiểu hết ý nghĩa câu chuyện và giữ nguyên đoạn 13,1-32 thành một đoạn thống nhất, xuyên suốt, để thấy được một hình ảnh lạc quan hơn, tức là nhìn cái chết của Đức Giêsu là sự tôn vinh. Sau đây là lý do chọn giới hạn đoạn văn này.

– Cuối chương 12: kết thúc giai đoạn rao giảng công khai của Đức Giêsu, qua việc Người nói về căn tính của Người và mối quan hệ của Người với Cha (12,49-50). Đầu chương 13 là mở đầu diễn từ từ biệt.

– Đầu chương 13 xuất hiện cụm từ “trước lễ Vượt Qua”: bắt đầu bằng một trạng từ chỉ thời gian, giới thiệu một biến cố mới sắp xảy ra.

– Trong 13,1-32 là việc giải thích ý nghĩa biến cố sắp xảy ra – đó là cuộc Thương Khó – qua việc Người rửa chân cho các môn đệ, và Giuđa ra đi để thực hiện việc trao nộp Thầy.

– Câu mở đầu của chương 13 là lời thông báo của người thuật truyện: “giờ đã đến”- Giờ Đức Giêsu về với Cha; câu kết (13,32) là “giờ tôn vinh” do chính Đức Giêsu nói.

– Câu 33: bắt đầu chuyển sang đề tài mới: Đức Giêsu mạc khải cho các môn đệ về việc Người sắp ra đi mà lúc này không có sự hiện diện của Giuđa, với kiểu xưng hô mới “hỡi những người con bé nhỏ…

2. Bối cảnh văn chương

Nếu chương 12 nói về xung đột giữa Đức Giêsu với giới lãnh đạo Do Thái thì trình thuật 13,1-32 mở đầu các diễn từ từ biệt, Đức Giêsu cho các môn đệ biết ý nghĩa biến cố thương khó sắp tới. Bối cảnh trình thuật là “trong bữa ăn” (13,2), nhưng không cho biết bữa ăn diễn ra ở đâu. Bản văn nằm trong một khối lớn của các chương 13-17, tức là trong những lời “từ biệt” của Đức Giêsu. Yếu tố thời gian được chia làm hai giai đoạn: “bây giờ” (trước cuộc Thương khó) và “sau này” (sau biến cố Phục sinh). Cuộc Thương khó chưa xảy ra, nhưng người thuật chuyện lại dùng các động từ ở thì quá khứ như thể biến cố ấy đã xảy ra rồi. Có thể hiểu cách trình bày này nhắm đến các cộng đoàn đón nhận Tin Mừng cuối thế kỉ I, lúc đó Hội thánh đang sống và cử hành biến cố Vượt qua của Đức Giêsu. Kiểu chia động từ ở thì quá khứ là nhắc lại biến cố nền tảng, biến cố sinh ra cộng đoàn[1].

3. Cấu trúc đoạn văn

Đoạn văn 13,1-32 có cấu trúc theo dạng đồng tâm A, B, C, C, B, A với một lời mở và một lời kết song song với nhau[2].

Cu trúc 13,1-32

A. 13,1: Dẫn nhập: Giờ đã đến, giờ về với Cha, giờ yêu thương.

B. 13,2: Khung cảnh bữa ăn giới thiệu nhân vật: quỷ và Giuđa,

quỷ thuyết phục Giuđa       

C. 13,3-17: Rửa chân và ý nghĩa, Phêrô không hiểu, ám chỉ Giuđa

C. 13,18-26: Ai là kẻ nộp Thầy, môn đệ Đức Giêsu yêu mến

B. 13,27-30: Xatan nhập vào Giuđa, ông ấy đi ra trong đêm tối

A. 13,31-32: Kết: Giờ tôn vinh

4.  Trình bày các tiểu đoạn:

Đoạn 13,1-32 có các tiểu đoạn song song với nhau. Câu dẫn nhập long trọng 13,1 (A) Đức Giêsu công bố giờ của người đã đến và kết thúc là “giờ tôn vinh” 13,31-32 (A’). Như vậy câu 13,1 là khởi đầu cho mọi biến cố còn câu 31-32 khép lại để bắt đầu phần diễn từ. Yếu tố B (13,2): Trình bày khung cảnh bữa ăn đồng thời giới thiệu về Giuđa, về “ý định nộp Người”, song song với B(13,27-30), nói về việc Giuđa nộp Thầy đều có chung một tác động, một kẻ đứng sau là Xatan. Như thế, B song song với B. Trong tiểu đoạn C (13,3-17) trình bày hành động và ý nghĩa của việc rửa chân, Phêrô không hiểu, Đức Giêsu ám chỉ về Giuđa; C(13,18-26) Đức Giêsu báo“Một (người) trong anh em sẽ nộp Thầy”, các môn đệ không biết ai là người sẽ nộp Đức Giêsu. Vậy C và C song song với nhau cho thấy hành động rửa chân cần được giải thích trong viễn cảnh Giuđa nộp Thầy.

III. PHÂN TÍCH BẢN VĂN

Bản văn Ga 13,1-32 là một bản văn phong phú và nhiều ý nghĩa, nhưng trong giới hạn của bài viết xin được rút ra hai ý tưởng chính để phân tích: cái “biết” của Đức Giê-su và cái “không biết” của các môn đệ; ý nghĩa hành động rửa chân của Đức Giê-su.

1. Cái “biết” của Đức Giêsu và cái “không biết” của các môn đệ

1.1. Cái “biết” của Đức Giê-su

Xét bản văn, động từ “biết” diễn tả sự hiểu biết nhờ khả năng của lý trí, và cái “biết” của Đức Giêsu là một cái biết tỏ tường. Ngài biết được “giờ của Ngài đã đến” (13,1). Giờ đó là giờ chịu khổ nạn, là giờ tôn vinh của Ngài. Đồng thời, Đức Giêsu biết thân thế của mình “bởi Thiên Chúa mà đến” (13,3). Ngài đã hoàn toàn ý thức được tầm quan trọng của việc Ngài sắp thực hiện. Đó là đỉnh cao của chương trình cứu độ, là hoàn thành sứ mạng do Cha trao phó “Cha đã trao mọi sự trong tay Ngài” (13,3), “và trở về cùng Cha” (13,1). Vì thế, Ngài bước vào cuộc khổ nạn với một tư thế hoàn toàn chủ động và tự nguyện trong sự vâng phục ý Cha.

Đức Giêsu biết mình sẽ không còn hiện diện trong thân xác với các môn đệ nữa. Trong lúc này, Ngài biết những cái không biết của các môn đệ nên Ngài mới nói: “điều Thầy làm bây giờ anh em chưa hiểu” (13,7). Ngài cũng biết rõ những khó khăn sẽ đến với các môn đệ sau khi Ngài ra đi. Nên, Ngài “đã thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian” (13,1). Chính vì, “Thầy biết những người Thầy chọn” (13, 18), Ngài biết trong các môn đệ “không phải tất cả đều sạch” (13,11), và biết ai sẽ nộp Người (13,11), mà vẫn yêu thương họ, điều đó đã chứng minh thế nào là một tình yêu “đến cùng” (13,1). Ngài chỉ trông đợi nơi các môn đệ một cái biết tiệm tiến là “sau này anh sẽ hiểu” (13,7). Mục đích của tất cả những điều Đức Giêsu nói lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, “anh em tin là Thầy Hằng Hữu” (13,19), để sau này các ông sẽ là những chứng nhân của Ngài (13,20).

1.2. Cái “không biết” của các môn đệ

Có một sự trái khoáy là “cái biết” của Đức Giêsu càng tỏ tường bao nhiêu, thì “cái không biết” của các môn đệ dường như lại càng tăm tối bấy nhiêu. Sự tương phản mạnh mẽ này được biểu hiện rõ nét qua nhân vật Phêrô, ông phản kháng một cách mạnh mẽ và dữ dội khi Đức Giêsu muốn rửa chân cho ông “Thầy mà rửa chân cho con sao?” (13,6), “không đời nào” (13,8a); nhưng khi Đức Giêsu nói: “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng có phần với Thầy” (13,8) thì ông lại đòi “rửa cả tay và đầu” ( 13,9). Như vậy, với lối hành văn châm biếm, người thuật chuyện cho thấy Phêrô không hiểu gì về ý nghĩa của lời Đức Giêsu nói và việc Đức Giêsu làm. Sự không hiểu còn đi xa hơn nữa khi ông để Chúa rửa chân mà không hiểu “phần” mà Chúa Giêsu nói đến là gì. Đức Giêsu nói đến cuộc tử đạo của chính ông để làm chứng cho Thầy. Điều đó được nhắc lại và nói rõ hơn ở chương 21, 18-19.

Và khi Đức Giêsu cho biết một người trong nhóm các môn đệ sẽ nộp Người thì các ông lại cũng không biết người này là ai (13, 22-24). Ngay cả khi Đức Giêsu chỉ ra người đó rồi thì các môn đệ lại rơi vào sự không biết khác – đó là các ông không hiểu lời Đức Giêsu nói với Giuđa: “anh làm gì thì làm mau đi” (13, 27) và họ còn hiểu sai về lời đó. Ngay cả khi có sự xuất hiện của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến, thì dù có mối tương quan gần gũi với Người, ông vẫn không hiểu tâm trạng của Thầy mình vào lúc này, mà vẫn hỏi: “Thưa Thầy, ai vậy?” (13,25). Cuối cùng, các môn đệ không hiểu phản ứng của Giu-đa, người thuật chuyện kể: “Không một ai trong những người đang dùng bữa biết tại sao Người lại nói với ông ấy như thế” (13,28). Một sự xác định rất rõ là “không một ai trong các môn đệ” hiểu những gì đang xảy ra.[3]

Như vậy, bằng cách dùng kĩ thuật hành văn, người thuật chuyện cho thấy “sự không biết” của các môn đệ cứ tăng dần lên và đó cũng là điều để cho thấy các môn đệ đang rơi vào khủng hoảng. Sự khủng hoảng này còn lặp lại nơi cộng đoàn người tin- đặc biệt là khi cộng đoàn gặp thử thách, khó khăn hay bị bách hại.

Nhìn chung, “sự không biết” của các môn đệ trong đoạn Tin Mừng 13,1 -32 là nhằm làm nổi bật “sự biết” của Đức Giêsu – đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật trong văn chương của Tin Mừng Gioan. Sự tương phản này cho thấy đứng trước biến cố vượt qua của Đức Giêsu, không dễ gì người ta có thể hiểu được và vì thế xuất hiện sự khủng hoảng. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã đi bước trước chuẩn bị cho các môn đệ tâm thế đón nhận biến cố, cũng như giúp họ không ngã lòng khi gặp thử thách gian nan. Ngài đã biết trước hết những khó khăn và ngay cả cái chết đang chờ phía trước, nhưng Ngài vẫn tiến bước một cách tự nguyện và hoàn toàn làm chủ tình thế. Ngay hành động rửa chân – một hình ảnh báo trước cái chết và phục sinh của mình, Chúa Giê-su vẫn thực hiện một cách điềm đạm và hoàn toàn tự do.

2. Hành động của tình yêu

Đức Giêsu “đã yêu thương những kẻ thuộc về mình”, và “người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1b). Để thể hiện tình yêu ấy, Đức Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ. Hành vi rửa chân làm một cử chỉ quen thuộc bên phương Đông thời đó (x.St 18,4; Lc7,44). Đây là một cử chỉ diễn tả lòng hiếu khách và hành động này thường được làm trước khi người ta ngồi vào bữa ăn. Trong Tin Mừng Gioan, hành động rửa chân của Đức Giêsu là một hành động bất thường vì ở đây cử chỉ rửa chân được thực hiện khi người ta đã ngồi vào bàn để dùng bữa. Hành động rửa chân của Đức Giêsu cũng khác thường vì chỉ có những người thấp kém hoặc nô lệ mới phải rửa chân cho chủ. Đức Giêsu đi ngược lại với điều đó, khiến cho Phêrô cảm thấy lúng túng và khăng khăng phản đối vì ông không thể tin được những gì mình đang thấy (Ga 13,6.8). Sự xuất hiện đột ngột của Phêrô cùng với những thắc mắc của ông là cơ hội để Đức Giêsu giải thích hành động rửa chân và mặc khải “giờ đã đến”.

Để diễn tả hành động rửa chân của Đức Giêsu, tác giả Tin Mừng thứ tư đã dùng ba động từ: “cởi”-“ mặc” áo ngoài (13,4.12) và “thắt lưng” mình (13,4), hành động này cũng được dùng để mô tả cái chết của Đức Giêsu và sự tử đạo của Phêrô. Hành vi này biểu tượng cho những gì Đức Giêsu sẽ làm cho các môn đệ Ngài qua cái chết của Ngài trên thập giá. Như thế, có sự móc nối giữa việc rửa chân của Đức Giêsu với cái chết của Ngài trên thập giá và sau đó là việc Ngài sống lại.

Trước tiên động từ “cởi áo ngoài” ở 13,4, ám chỉ cởi bỏ hy sinh mạng sống. Kiểu nói “mặc áo vào” ở 13,12 song song với việc lấy lại mạng sống. Hai động từ “hy sinh” và “lấy lại” ở 10,17-18 nói về biến cố Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giêsu. Các động từ này dùng trước khi rửa chân cho thấy việc rửa chân (13,4-5) song song với việc Đức Giêsu hy sinh mạng sống của mình (10,17-18).

Còn động từ “thắt lưng” chỉ xuất hiện hai lần trong Tin Mừng thứ tư (13,4; 21,18). Lần thứ nhất (13,4) mô tả hành động rửa chân; lần thứ hai (21,18) báo trước cái chết của Phêrô ở cuối Tin Mừng. Đức Giêsu nói với Phêrô ở Ga 21,18: “A-men, a-men, Thầy bảo anh: Lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người ta thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn”. Người thuật chuyện giải thích ý nghĩa lời Đức Giêsu cho độc giả trong câu tiếp theo 21,19: “Người nói điều đó để cho biết bằng cái chết nào ông ấy sẽ tôn vinh Thiên Chúa”.

Như vậy, ba hành động vừa nêu trên ám chỉ biến cố “hy sinh mạng sống mình” của Đức Giê-su. Hành động rửa chân cho các môn đệ diễn tả ý nghĩa sự chết của Đức Giê-su. Đó là một biến cố không thể nào chấp nhận được: Đức Giê-su là Đấng từ trời xuống (6,38), là Con Thiên Chúa (10,36) mà có thể chết sao? Qua hành động rửa chân, Đức Giê-su chuẩn bị cho các môn đệ đón nhận biến cố thập giá; nhờ hiểu ý nghĩa biến cố Đức Giê-su chết vì yêu thương các môn đệ đến cùng, họ sẽ không bị vấp ngã trước cái chết của Ngài[4]. 

IV. KẾT LUẬN

Trình thuật Ga 13,1-32 mở đầu các diễn từ li biệt, Đức Giê-su cho các môn đệ biết ý nghĩa của cuộc Thương khó sắp tới. Mặc dù biết trước những đau khổ và sự dữ phía trước – đặc biệt là cái chết khổ nhục trên thập giá – Đức Giê-su vẫn tự nguyện bước vào cuộc Thương khó với tư thế chủ động của một Đấng quyền năng. Vì các môn đệ không biết, không hiểu nên Ngài đã tỏ lộ cho các ông ý nghĩa của cuộc Thương khó qua hành động rửa chân. Thông qua đó cũng biểu lộ cho các ông tình yêu thương “đến cùng” của Chúa Giê-su dành cho nhân loại nói chung và cách riêng là các môn đệ, bởi biết là mình sẽ phải chết cho những người tội lỗi nhưng Ngài vẫn sẵn sàng và tự do để thi hành thánh ý Chúa Cha là hy sinh mạng sống để chuộc tội cho loài người.

Trình thuật được khép lại với lời tiên báo Đức Giêsu sẽ bước vào cuộc Thương khó như là cách để Ngài bày tỏ tình yêu. Tình yêu ấy được thể hiện đặc biệt trong giờ khổ nạn – giờ yêu thương, giờ mà Đức Giêsu về với Chúa Cha, và cũng chính là giờ Người được tôn vinh trong vinh quang danh dự và uy quyền.

Bài cuối khóa môn học “Phương Pháp Đọc Kinh Thánh”
của các Nữ tu sinh viên Tổ 2 – năm III – Học viện Liên Dòng Thánh Tôma, niên khóa 2013 – 2014
Theo phương pháp đọc Kinh Thánh của Lm. Lê Minh Thông, OP

Dưới sự hướng dẫn của Sr. Agnès Nguyễn Thị Cảnh Tuyết, OP

 ————————

[1] GIUSE LÊ MINH THÔNG, Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, Nhà Xuất Bản Tôn giáo, 2010, tr.24

[2] GIUSE LÊ MINH THÔNG, Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, Nhà Xuất Bản Tôn giáo, 2010, tr.52

[3] GIUSE LÊ MINH THÔNG, Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?, Nxb. Phương Đông, 2010, tr. 122

[4] GIUSE LÊ MINH THÔNG, Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, Nhà Xuất Bản Tôn giáo, 2010, tr.59

———————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. GIUSE LÊ MINH THÔNG, Phân tích thuật chuyện và phân tích cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Trung Tâm Học Vấn Đa – Minh, 2008.

2. GIUSE LÊ MINH THÔNG, Tin Mừng thứ tư song ngữ, Hy Lạp-Việt, Trung Tâm Học Vấn Đa Minh, 2008.

3. GIUSE LÊ MINH THÔNG, Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?, Nxb. Phương Đông, 2010.

4. GIUSE LÊ MINH THÔNG, Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, Nhà Xuất Bản Tôn giáo, 2010

Comments are closed.