Ơn huệ và quên ơn huệ

0

Ngày 09 tháng 3 năm 2014
Chúa Nhật I Mùa Chay – Năm A

 ƠN HUỆ & QUÊN ƠN HUỆ

(St 2, 7-9; 3, 1-7) 

Về mầu nhiệm sự sống và sáng tạo, chúng ta có thể cầu nguyện với nhiều bản văn Kinh Thánh, chẳng hạn St 1, Tv 8; 19; 104; 136; 139 và Hc 16, 24-17, 10. Nhưng tại sao phải có nhiều bản văn nói về cùng một điều? Bởi vì đó là mầu nhiệm; tương tự như mầu nhiệm Đức Ki-tô, là mầu nhiệm của mọi mầu nhiệm, được tỏ bày cho chúng ta bởi bốn sách Tin Mừng, sách Kinh Thánh Tân Ước và bởi toàn bộ Sách Thánh (x. Lc 24, 25-27 và 44; 1Cor 15, 3-4).

Chính vì thế, để hiểu mầu nhiệm sáng tạo và sự sống, Lời Chúa trong Thánh Lễ Chúa Nhật I Mùa Chay hôm nay mời gọi chúng ta lắng nghe trình thuật II về mầu nhiệm sáng tạo trích sách Sáng Thế, đó là chương 2 và chương 3. Trình thuật I là chương 1 (St 1, 1 – 2, 4a), vốn là bài đọc đầu tiên trong Đêm Canh Thức Vượt Qua. Trình thuật II về ơn tạo dựng nêu bật lên hai chiều kích rất thực tế và rất thời sự của đời sống con người, đó là tương quan namnữ và thử thách.

a. Tương quan nam-nữ

Trình thuật “Sáng Tạo Bảy Ngày” (St 1) nói về tương quan nam-nữ một cách rất nguyên tuyền: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ (St 1, 27). Nhưng trong thực tế lịch sử loài người và trong đời sống hằng ngày của con người, tương quan này đã không nguyên tuyền như thế, cụ thể là có vấn đề “bất bình đẳng”[1], thậm chí người nam và người nữ còn coi nhau là “khác loài”, khi ham muốn và thống trị nhau bằng bạo lực! Nghĩa là sống với nhau theo qui luật của thú tính. Lời Chúa trong St 2 đón nhận sự bất bình đẳng này: sáng tạo nam, rồi mới tới nữ, người nữ là trợ tá, người nữ “được rút từ đàn ông ra” – toàn là ngôn ngữ bất bình đẳng! Nhưng một cách kín đáo, tôn vinh người phụ nữ, để tái lập sự quân bình, như mặc khải của St 1: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”.

Và như chúng ta đều biết, Thiên Chúa coi trọng người phụ nữ cách đặc biệt trong lịch sử cứu độ (x. Gia Phả của Đức Giê-su trong Mt 1, 1-17); nhất là với Đức Maria, Thiên Chúa không chỉ coi trọng, mà còn tôn vinh Người là “Đấng Đầy Ơn Phúc”, là “Mẹ Thiên Chúa”. Và chính Đức Giêsu cũng có tương quan rất ưu ái đối với các phụ nữ (x. Mc 14, 3-9: Hương thơm Bêtania).

b. Thử thách

Trình thuật trích sách Sáng Thế, chương 2, nêu bật lên chiều kích thử thách của cuộc sống, đặc biệt thử thách dưới dạng lệnh truyền (c. 16-17). Lệnh truyền được Chúa ban là để giúp con người làm chủ lòng ham muốn, vốn là nét đặc trưng của thú tính. Như thánh Phao-lô đã tóm tắt mọi giới răn bằng công thức: “Ngươi không được ham muốn” (Rm 7, 7). Như thế, lệnh truyền trong St 2 tương ứng sứ mạng thống trị loài vật: « Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất. » (St 1, 28; và Tv 8, 6-9). Đó là sứ mạng chế ngự thú tính ; và chính trong mức độ con người chế ngự thú tính, hiện diện ngay trong nội tâm của mình, con người sống ơn gọi làm người, nghĩa là ơn gọi trở nên hình ảnh của Thiên Chúa (St 1, 27); và nhờ “kính sợ” Chúa, mà con người hoàn tất sứ mạng thống trị thú tính của mình, như sách Huấn Ca nói: “Người phú bẩm cho mọi xác phàm lòng kính sợ Người, để chúng thống trị muông chim cầm thú.” (17, 4).

Thật ra, khi lắng nghe Lời Chúa trong các bản văn Kinh Thánh nói về ơn huệ sáng tạo và sự sống, chúng ta đã có thể nhận ra rằng, được tạo dựng làm người là một ơn huệ, nhưng đồng thời cũng là một thử thách:

– Tv 139 (Tv 138): Thế giới sáng tạo, môi trường sống là ơn huệ Chúa ban để chúng ta nhận ra và gặp gỡ Chúa và ca tụng Người, nhưng chúng ta lại biến những ơn này thành nơi để ẩn nấp và chạy trốn, hoặc biến thành ngẫu tượng (c. 7-10); và chúng ta “hài lòng” với chúng: “Uớc gì bóng tối bao phủ tôi, và ánh sáng quanh tôi thành đêm tối” (c. 11). Nói theo “Nguyên lý và nền tảng” (Linh Thao, số 23), chúng ta đã không sống, cụ thể là sử dụng “những sự khác” theo qui tắc “trong mức độ”, đã không có tương quan mật thiết với Chúa để có thể bình tâm trước khi sử dụng hay lựa chọn nhằm “ca tụng, tôn kính và phụng sự Chúa”, thậm chí biến phương tiện trở thành cùng đích, nghĩa là sống như thể không có Chúa.

– St 1: Được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (c. 26), nghĩa là được dựng nên là một như Thiên Chúa là một. Nhưng để sống ơn huệ đặc biệt và duy nhất này, khó biết bao. Loài người chúng ta trong thực tế sống theo qui luật của thế giới loài vật nhiều hơn, nghĩa là coi nhau như những “loài” khác nhau, để rồi tranh đua, thi đua, ham muốn, thống trị, loại trừ thậm chí tiêu diệt. Chúng ta sống theo thú tính nhiều hơn là nhân tính, vốn được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa.

– Tv 104 (103): Là hình ảnh sống động của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi đón nhận sự sống, hơi thở, giây phút hiện tại, lương thực hằng ngày trực tiếp từ ban tay của Thiên Chúa: “Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa, đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn. Ngài ban xuống, chúng lượm về, Ngài mở tay, chúng thoả thuê ơn phước. Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (c. 27-29). Nhưng chúng ta thích làm chủ hơn, thích tự lập hơn, chúng ta không thích đón nhận sự sống từ chính Chúa, nhưng từ chính mình.

– Hc 16, 24 – 17, 1-10: Cho dù được Chúa sáng tạo cách đặc biệt, nhất là có một tương quan thiết thân với Thiên Chúa (con người là hình ảnh Thiên Chúa, được ban cho lòng kính sợ, và con mắt Chúa…), nhưng sách Huấn Ca nhắc nhớ thân phận bi đát của con người: “Đức Chúa lấy đất mà tạo ra con người, rồi lại đưa con người trở về đất. Ngài ban cho nó một số ngày và một khoảng thời gian” (17, 1-2). Và nhất là biết mình sẽ “trở về với đất”; như các triết gia nói: “con người là con vật biết mình sẽ chết”, con người nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa và ham muốn thiên tính của Ngài (ham muốn và chiếm hữu bằng mọi giá, chính là đặc điểm của thú tính), thay vì đón nhận nhân tính với tâm tình biết ơn và ca tụng và sống đến cùng nhân tính của mình, với lòng tín thác vào tình yêu « muôn ngàn đời của Thiên Chúa » (x. Tv 136), và bằng cách chiến thắng thú tính, được tượng trưng bằng thế giới loài vật, (Tv 8, 6-9)

Trình thuật II về mầu nhiệm sáng tạo trong sách Sáng Thế (St 2, 4b-9 và 15-24; chúng ta bỏ qua c. 10-14 nói về bốn con sông) có cấu trúc đối xứng, giống như nhiều bản văn Kinh Thánh khác; chẳng hạn, Mt 11, 28-30: Gánh nặng nề và nghỉ ngơi bồi dưỡng (A: c. 28); học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (B: c. 29a); nghỉ ngơi bồi dưỡng và gánh nhẹ nhàng (A’: c. 29b-20); Tv 139: tương quan giữa Thiên Chúa và con người trong không gian lớn (A: c. 1-12); trong không gian bé (B: c. 13-18); trong không gian lớn (A’: c. 19-24); Tv 104: ca tụng khởi đầu (c. 1-9); các sinh vật và Thiên Chúa (B: c. 10-30); ca tụng kết thúc (A’: c. 31-35):

(A) Ơn huệ sự sống (c. 4b-9)

(B) Thử thách (c. 15-17)

(A’) Ơn huệ “Người Trợ Tá Tương Xứng” (c. 18-24)

Sứ điệp thần linh đầu tiên của bản văn Kinh Thánh này là: thử thách được bao bọc bởi ân huệ! Thiên Chúa hành động như thế và luôn như thế, chính là để chúng ta hiểu và sống thử thách một cách bình an; và ngay trong thử thách cũng có ân huệ: được đặt vào vườn Eden và được phép ăn hết mọi trái cây trong vườn. Và xét cho cùng, thử thách cũng là ân huệ, trong mức độ giúp chúng ta lớn lên, biết tín thác, giúp chúng ta trưởng thành và đi vào tương quan với Thiên Chúa trong tự do, nhưng không và tình yêu. Và với mầu nhiệm Thương Khó của Đức Ki-tô, thử thách và đau khổ trở thành một ơn đặc biệt, ơn trở nên giống Đức Ki-tô chịu đóng đinh, vì Người là “Đối Tượng duy nhất của lòng trí chúng ta”.

I. Ơn huệ và thử thách

1. Ơn huệ sự sống (c. 4b-9)

Chúng ta hãy hình dung ra khung cảnh vũ trụ và trái đất trước khi con người xuất hiện. Khoa học cũng cho chúng ta biết rằng, phải mất rất nhiều thời gian và phải có rất nhiều điều kiện để cho con người xuất hiện. Sách Sáng Thế chương 1 cho chúng ta biết rằng, tất cả là công trình của Thiên Chúa nhằm tiến đến việc tạo dựng con người.

Cũng vậy, trước khi chúng ta được sinh ra trong gia đình, trước khi chúng ta sống ơn gọi Ki-tô hữu trong Giáo Hội, trước khi chúng ta bước vào đời sống dâng hiến trong một Hội Dòng, tất cả đã được chuẩn bị sẵn từ rất lâu rồi. Vì thế, lúc khởi đầu, luôn luôn là ơn huệ nhưng không tuyệt đối. Chúng ta được mời gọi ghi nhớ những ơn huệ thủa ban đầu này, để không ngừng tạ ơn và ca tụng, để định hướng đời mình, để sống ơn gọi từng ngày theo tâm tình tạ ơn và ca tụng và nhất là để hiểu đúng thử thách, là điều không thể không có, và sống thử thách một cách bình an.

Con người được Thiên Chúa tạo dựng từ bùn đất và từ hơi thở của Thiên Chúa. Trong chúng ta, có phần từ cát bụi: “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, có phần từ “hơi thở” của Thiên Chúa. “Hơi thở” của Thiên Chúa là gì? Chúng ta hãy cảm nhận hơi thở của Thiên Chúa nơi tâm hồn chúng ta; và cho dù là cát bụi, nhưng là do bàn tay Thiên Chúa nhào nắn mới có thể trở thành thân xác con người, một kì quan và đỉnh cao của thế giới sinh vật, như tác giả Tv 139, 13-14 cảm nghiệm:

Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!

Sau khi tạo dựng con người, Thiên Chúa còn trồng một vườn cây đầy hoa trái xinh đẹp và ngon ngọt (tương đương với ơn lương thực); tiếp theo, Thiên Chúa cầm tay dẫn con người vào vườn. “Vườn cây” là hình ảnh tượng trưng cho tất cả những gì tốt đẹp của môi trường sống. Dù thiên nhiên có giới hạn, nhưng thiết yếu cho sự sống và đầy những điều kì diệu, gợi lên tâm tình tạ ơn và ca tụng. Vườn cây còn tượng trưng cho “mái ấm”, mái ấm dân tộc, gia đình, Hội Dòng… Chúng ta không thể sống thiếu “mái ấm”.

2. Thử thách (c. 15-17)

Đầy ơn huệ, nhưng cũng nhiều thử thách. Như ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm: được sinh ra làm người là một ơn huệ, nhưng đồng thời cũng là thử thách!

– Thử thách đầu tiên, đó là sứ mạng “canh tác và gìn giữ”. Trước khi phạm tội, đã có việc làm và đã phải canh giữ khỏi những nguy hiểm. Nói cách khác đã đầy thử thách. Sứ mạng được trao cho ông Adam, nhưng ông đã gìn giữ làm sao mà để cho con rắn nó vào tận nơi, buông lời lừa dối và gieo nộc độc vào tâm hồn bà Evà?

– Thử thách thứ hai là “lệnh truyền”; chúng ta đừng quên, ngay trong lệnh truyền của Chúa, Ngài ban ơn trước, rồi mới đưa ra lệnh cấm: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (c. 16-17). “Lệnh truyền” tượng trưng cho tất cả những giới hạn thuộc về thân phận con người: có hai giới hạn căn bản, đó con người biết, nhưng không biết hết, và con người sống, nhưng không sống mãi; và còn nhiều giới hạn khác thuộc về cuộc đời và thân phận của từng người: đó những thua kém, những tai họa, bệnh tật, những khổ đau, những điều không may mắn… Và khi đối diện với thử thách của phận người, loài người chúng ta, ngay từ nguồn gốc, đã tin vào lời của con rắn, tượng trưng cho Satan, cho Sự Dữ, thay vì tin vào Lời Chúa.

Nhưng tại sao lại thử thách? Trước khi ban lệnh truyền và Lề Luật, Thiên Chúa đã đầu tư rất nhiều cho tương quan ân huệ và tình yêu giữa Ngài và con người. Ngài làm như thế là để chúng ta nhận ra rằng, khi ban cho con người sự sống giới hạn, đó không phải là vì muốn đầy đọa con người, “thử” con người, vì không tin tưởng con người, nhưng :

– Đó là cách thức, là con đường gìn giữ chúng ta trong tương quan ơn huệ và tình yêu, tương quan Giao Ước, tương quan thuộc về Chúa ; đó là để giúp chúng ta lớn lên trong tương quan này, và chuẩn bị chúng ta đón nhận những ơn huệ lớn hơn, là chính Chúa (trong ơn lương thực, chất chứa lời hứa ban ơn lương thực thần linh là chính Chúa).

– Đó là cách thức Thiên Chúa tiếp tục sáng tạo chúng ta, với tất cả ý nghĩa của hành động sáng tạo : soi sáng, phân rẽ, sắp xếp, ban căn tính, nuôi dưỡng, mang lại ý nghĩa, bằng ơn huệ lệnh truyền và Lề Luật của Ngài (x. Tv 19).

– Và Thiên Chúa ban sự sống giới hạn (thân phận con người), chính là để chúng ta khát khao sự sống viên mãn, khát khao sáng tạo thứ hai và chờ đợi trong kiên nhẫn và tín thác, chứ không ham muốn và tìm cách chiếm đoạt. Luật được ban là để ngăn chặt lòng ham muốn, vốn thuộc về thú tính; như Thánh Phao-lô đã tóm tắt Lề Luật trong công thức sau đây: “Ngươi không được ham muốn” (Rm 7, 7). Và khi chúng ta ước ao, tin tưởng và hi vọng, Chúa sẽ ban tặng. Niềm hi vọng này được làm rõ nơi Đức Giê-su-Ki-tô. Nhưng tại sao Thiên Chúa không ban ngay? Vì như thế, sẽ không có khát khao, quà tặng mất ý nghĩa, không có phó thác và tin yêu.

Chúng ta được mời gọi nhận ra và ghi nhớ ơn huệ Thiên Chúa ban để hiểu đúng lệnh truyền và Lề Luật, và để sống Luật như Lời dặn dò yêu thương, như cách thức để diễn tả lòng tín thác nơi sự Quan Phòng của Chúa, tình yêu chúng ta dành cho Chúa, và như lời tạ ơn và ca tụng. Quên ơn huệ Thiên Chúa ban, Lề Luật sẽ trở thành tai họa, như thánh Phao-lô nói : « Thành thử điều răn lẽ ra phải đưa đến sự sống, lại dẫn tôi đến chỗ chết » (Rm 7, 10). Đó là điều Con Rắn, hình ảnh của sự dữ, muốn con người sa vào.

 

é

Thử thách
[thân phận, số phận,
lệnh truyền, lề luật…]

 

ê

Thiên Chúa     <==>    Con người

[tương quan ơn huệ và tình yêu, đi đến cùng nơi Đức Ki-tô]

Chúng ta có khuynh hướng chú ý đến những cái thiếu, những điều không được phép. Trong khi, những điều chúng ta có, những điều được phép rất phong phú và rất nhiều. Chính vì thế, chúng ta không tự do, không vui và không thể tạ ơn và ca tụng. Để sống lề luật và thân phận con người, phải dựa vào ơn huệ. Quên ơn huệ, sẽ là tai họa. Trong cuộc sống, lề luật và nhất là luật cấm, là không thể tránh khỏi, trong gia đình, nơi trường học, xã hội, GH, trong đời tu, trong ơn gọi gia đình. Nếu không có kinh nghiệm về ơn huệ, chúng ta sẽ không hiểu đúng và sống “những giới hạn” một cách bình an!

Khi Đức Giê-su sinh ra, thì ngài đã chọn để sinh ra giữa thử thách, sống trong thử thách và chết cũng trong thử thách, thử thách tận cùng. Xin cho chúng ta hiểu Đức Giê-su một cách sâu xa và khát khao mặc lấy những tâm tình của Ngài (nên đọc Phil 2, 5-11).

3. Ơn huệ người “người trợ tá tương xứng” (c. 18-24)

“Con người ở một mình thì không tốt”. Sau khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa vẫn còn quan tâm đến con người, nếu không sẽ là “đem con bỏ chợ”: Thiên Chúa ban lương thực để con người duy trì sự sống; nhưng con người còn sống bằng tương quan nữa, nhất là tương quan tình bạn và tình yêu, vì thế cần một “trợ tá tương xứng”. Nói là trợ tá, nhưng kết quả còn hơn cả trợ tá:

– Người Phụ Nữ là kết qủa của cả một cuộc tìm kiếm công phu của Thiên Chúa lẫn con người, bao gồm hai bước: bước một là công trình tạo dựng thế giới loài vật; bước hai là tuyệt tác Người Phụ Nữ. Trong khi trước đó, việc sáng tạo ra Adam đã diễn ra nhanh chóng và đơn giản. Như thế, “Người trợ tá” khác với toàn thể loài vật, nghĩa là hoàn toàn “tương xứng”.

– Người Phụ Nữ được tạo dựng từ tinh hoa của sáng tạo, từ xương thịt, thay vì từ bùn đất, như Adam và loài vật. Chính vì thế, phái nữ là phái đẹp, hiền lành và dịu dàng; và phái nam là phái mạnh bạo, gần với thú tính hơn, vì cả hai đều được tạo dựng từ bùn đất!

– Được tuyển chọn bằng lời giao ước tình yêu: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” Đây chính là lời nói đầu tiên của con người; và lời nói đầu tiên là lời tuyển chọn, được phát biểu bằng lời giao ước tình yêu. Và Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ trong mọi Lời Giao Ước tình yêu, bởi vì Ngài là tình yêu, là sự thật và là sự sống.

– “Là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Người nam có thể dựa vào nguồn gốc người phụ nữ để bắt nàng phục tùng, nhưng sức hút của nàng đủ mạnh để con người lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Như thế, sự quân bình được thiết lập trong tương quan nam – nữ.

Trong đời sống gia đình, đúng là vợ chồng chọn nhau, đúng ra con cái do mình sinh ra, nhưng để đời sống gia đình được bền vững, nhất là trong những lúc “sóng to gió lớn”, phải xác tín rằng Chúa ban người này cho người kia, con mình sinh ra, nhưng cũng là con Thiên Chúa, và Chúa đóng ấn giao ước vĩnh viễn. Đời dâng hiến của chúng ta cũng vậy, chúng ta cần xác tín rằng, Chúa ban chúng ta cho nhau để làm nên Cộng Đoàn; nếu quên đi sự kiện người kia là ơn huệ Chúa ban, đời sống chung sẽ gặp khó khăn và có nguy cơ đổ vỡ. Đời sống chung của chúng ta, trong xã hội cũng như trong ơn gọi, ơn gọi gia đình hay ơn gọi dâng hiện, phải đặt nền tảng trên ơn huệ Thiên Chúa, chứ không chỉ trên Lề Luật, như chính Đức Giê-su nói về đời sống hôn nhân: “

*  *  *

Đức Giê-su đến là để nối kết chúng ta nên một, khi mời gọi chúng ta đón nhận nhau là con một Cha, là anh em của cùng một Thầy, và nhất là cùng được nuôi dưỡng bởi cùng một “lương thực”, là Lời và Mình thánh của Ngài. Như thế, trong Đức Ki-tô, tất cả chúng ta đều cùng một xương một thịt với Đức Ki-tô và do đó, cùng một xương một thịt đối với nhau. Vì vậy, chính nhờ Người, với Người và trong Người, chúng ta có thế nói với nhau:

“Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” 

II. Quên Ơn Huệ (St 3, 1-7)

1. Lệnh truyền : « Hết mọi cây trong vườn, ngươi có thể ăn; nhưng… » (2, 16-17)

Lệnh truyền trong bản văn St 2 của chúng ta tương đương với sứ mạng thống trị thú tính, được diễn tả trong St 1, 28; Hc 17, 4 và Tv 8, 6-9); và chính trong mức độ con người thống trị thú tính, con người sống nhân tính của mình, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Để sống sứ mạng này, con người phải dựa vào kinh nghiệm về ơn huệ và tình yêu của Thiên Chúa.

Thực vậy, Thiên Chúa luôn ban ơn trước; và ở đây ngay trong lệnh truyền, ơn huệ cũng đi trước lệnh cấm. Đó chính cách hành động của Thiên Chúa trong sáng tạo và trong lịch sử cứu độ. Chiều kích nhưng không và quảng đại của ơn huệ còn được nêu bật bởi sự kiện: việc trồng vườn Eden và đưa con người vào đó, được mô tả như những ơn huệ « dư tràn », chất thêm vào ơn huệ sáng tạo ra con người. « Cầm tay » con người và « dẫn vào » (2, 15): đó là một tiến trình gợi lại việc đưa Dân được tuyển chọn vào Ðất Hứa. Chúng ta cũng có thể hiểu như vậy trong hành trình làm người, và trong hành trình ơn gọi của chúng ta, ơn gọi đi theo Đức Ki-tô trong đời sống gia đính hay đời sống dâng hiến.

Ở nguồn sự sống, luôn luôn là ân huệ nhưng không tuyệt đối ; điều này đúng ở thời điểm sáng tạo và ở khởi đầu sự sống của chúng ta (x. Tv 139). Và chúng ta chỉ hiểu được và giữ được lệnh truyền và mọi thứ lề luật khác, khi nhận ra và ghi nhớ ân huệ sự sống mà chúng ta đã lãnh nhận một cách nhưng không ; nhận ra và ghi nhớ, chính là động lực để chúng ta đi vào và ở lại trong tương quan với Đấng ban ơn, để được tái sinh và đi vào con đường chính lộ ngàn đời (Tv 139, 24). Vì ơn huệ và Người ban ơn huệ không tách rời. Chính trong và nhờ tương quan với Đấng ban ơn mà chúng ta quảng đại đón nhận, hiểu và giữ lệnh truyện và mọi thứ luật xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ Thiên Chúa. Lệnh truyền là lời dặn dò của một người dành cho một người trong một mối tương quan liên vị : tương quan ân sủng, tương quan ân huệ, tương quan tình yêu nhưng không Chúa dành cho chúng ta, khi chúng ta chưa là gì. Và chính trong tương quan với Chúa, Đấng ban ơn cách nhưng không, chứ không phải tương quan với luật này luật kia, mà chúng ta hiểu TỘI là gì.

Nếu lệnh truyền làm con người hiểu sai về Thiên Chúa, thì chính ở nơi Đức Ki-tô mà tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho con người được làm rõ và đạt tới mức tuyệt đỉnh : « Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?… Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô » (Rm 8, 32.39). Và Đức Ki-tô cũng làm rõ khởi điểm, nền tảng và cùng đích của mọi lệnh truyền là “lệnh truyền yêu thương”: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến nhau, khởi đi từ kinh nghiệm sâu đậm và tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và từng người nơi Đức Ki-tô.

2. Vi phạm lệnh truyền (c. 3, 1-6)

a. « Các ngươi không được ăn… » (St 3, 1)

Con rắn nói : « Có thật Thiên Chúa bảo: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?” ». Những chữ đầu tiên: “Có thật Thiên Chúa bảo: các ngươi không được ăn…” đã chứa đựng tất cả mánh khóe, sự xảo quyệt của con rắn. Thiên Chúa là Đấng nói: “không”; như thế, Thiên Chúa được trình bày cho ý thức của người phụ nữ như là người chuyên ngăn cấm. Con rắn trích lời của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã nói: các ngươi không được ăn”. Nhưng thực ra Thiên Chúa đã nói gì? Như chúng ta đã suy niệm về lệnh truyền: “Hết mọi cây trong vườn ngươi có thể ăn…” (2,16). Như vậy, Thiên Chúa đã nói điều hoàn toàn ngược lại với điều con rắn nói.

Dĩ nhiên, “ăn tất cả trừ một” và “không ăn được tất cả” là hai điều không mâu thuẫn, ít nhất trên bình diện luận lý. Nhưng trên bình diện tâm cảm và thực tế, đó là hai câu nói mâu thuẫn. Lời Thiên Chúa nhấn mạnh trên ơn huệ, vốn đã được thể hiện trong hành vi đặt Adam vào vườn Địa Đàng, sau khi ông được kéo ra từ bụi đất. Đối diện với câu “Ta ban cho ngươi tất cả, nhưng…”, con rắn nói: “Thiên Chúa ngăn cấm ông bà”. Năng động của lời Thiên Chúa bị con rắn đảo ngược lại hoàn toàn: điều cấm được đưa lên trước ơn huệ, để gieo vào lòng con người “nọc độc quên ơn”

b. Luật, vi phạm và hình phạt (St 3, 2-3)

Câu trả lời của người phụ nữ: “Trái các cây trong vườn, chúng tôi được ăn. Nhưng trái của cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã nói: các ngươi không được ăn và các ngươi không được đụng tới kẻo các ngươi sẽ chết”. Người phụ nữ nhấn mạnh bằng cách nói thêm: “các ngươi không được đụng tới”. Điều này có nghĩa gì? Vì động lực nào? Chúng ta có thể coi đó là bằng chứng của lòng nhiệt thành. Nhưng bên dưới lòng nhiệt thành này, ẩn dấu tâm trạng run sợ hoặc giận dỗi không bình an: thay vì giữ luật vì lòng mến, con người run sợ vì đó là điều cấm, gây tai họa hay án phạt nếu vi phạm; thay vì hiểu tốt và hiểu đúng về Đấng ban lệnh truyền, con người giận dỗi không bình an, vì con người tự nhủ: “Tại sao lại cấm ăn? Đụng tới hay nhìn ngắm, mình cũng không thèm!”

Chúng ta có thể nhận ra rằng người phụ nữ không giữ lại chữ “chắc chắn” đi trước bản án: “ Vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết”; và từ này được đổi thành “kẻo”: “kẻo phải chết”. Xét về hình thức, bà đã chuyển mệnh đề tất yếu thành mệnh đề khuyến dụ! Như thế, thái độ chê ghét đối với hành vi xuất phát từ mối đe dọa hình phạt bao quanh hành vi, chứ không từ cái xấu mà mọi hành vi vi phạm chất chứa cách tự tại.

“E rằng” hay “kẻo”: cái chết tự tại trở thành cái chết được nhìn như là hình phạt. Chúng ta giữ giới răn thường là vì sợ bị phát hiện và bị hình phạt (chẳng hạn vượt đèn đỏ); khi không có ai, hay không có hình phạt, chúng ta “tới luôn”. Trong khi đó, “cái chết” hiểu theo nghĩa rộng, có ở ngay trong hành vi lỗi luật hay lỗi lời dặn hay lời thề: giết người, ngoại tình, không vâng lời cha mẹ, lỗi luật đời tu…

c. “Chẳng chết chóc gì đâu? (St 3, 4-5)

Vì động lực sợ hãi chi phối người phụ nữ, nên con rắn sẽ khai thác chính điều đó: “ông bà sẽ không chết. Chính vì Thiên Chúa biết rằng ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa, biết điều tốt và điều xấu”. Đây là sự phủ nhận minh nhiên hậu quả, được chính Thiên Chúa công bố. Trở ngại gây ra sự sợ hãi đã bị dẹp bỏ bởi lời khẳng định này của con rắn.

Nhưng, dĩ nhiên, chỉ một lời khẳng định như lời khẳng định của con rắn có lẽ chưa mang lại sức nặng; còn phải đưa ra một lý do khiến con người không tin Thiên Chúa. Thực vậy, tất cả phụ thuộc vào sự tín nhiệm dành cho lý do liên quan đến Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nói trái với sự thật: trái cây mang lại hiệu quả tuyệt vời, mà tại sao Thiên Chúa lại nói rằng, ăn vào thì chết? Tại sao Thiên Chúa “nói dối” con người? Trong lý do con rắn đưa ra, có sự hấp dẫn của cái biết: Thiên Chúa biết rằng… mắt ông bà sẽ mở ra. Như vậy, Thiên Chúa biết điều mà ông bà không biết; Thiên Chúa dấu điều gì đó, Thiên Chúa lừa dối. Điều này kích thích sự tò mò: tại sao Thiên Chúa lại lừa dối? Bởi vì “ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa”. Ở đây, có một điều được gỉa định như là hiển nhiên: Thiên Chúa không muốn con người trở nên như Thiên Chúa. Thiên Chúa ngăn cấm một hạnh phúc vô hạn, và Ngài đã che dấu lý do này: lý do của hành vi ngăn cấm chính là ý muốn giữ lấy cho mình bản tính thần linh và đặc quyền của mình.

d. Trái cây ngon, đẹp và quí (St 3, 6)

Nếu cuộc đối thoại đã chấm dứt, thì những gì xẩy ra vẫn cứ xẩy ra. Tác giả Kinh Thánh không cần phải nói với chúng ta rằng người đàn bà đã tin con rắn. Tác giả nói ngắn gọn bằng cách chỉ mô tả cho chúng ta kết quả của sự cả tin: “Người đàn bà thấy trái cây ăn chắc là thật ngon, nhìn hấp dẫn, đáng quí để hiểu biết”. Chúng ta thấy rằng lòng ham muốn đã bắt đầu phát sinh nơi người phụ nữ. Bây giờ chúng ta cũng hiểu được rằng lòng ham muốn dẫn đến hành vi vi phạm lệnh truyền không phải là đầu tiên; nó là hậu quả của cả một tiến trình biến đổi nội tâm: quên ơn huệ dẫn đến nghi ngờ Thiên Chúa

Ghen tị

Quên ơn huệ
Thiên Chúa ban  =>

Nghi ngờ
Thiên Chúa     =>

=>  Vi phạm
lệnhtruyền

Ham muốn

Nội tâm (*)

Hành vi

 Lệnh truyền khởi đi từ tương quan ơn huệ và tình yêu, nên tội không thể được hiểu là vi phạm lệnh truyền, nhưng có liên quan đến nhận thức và tâm tình của tôi dành cho Chúa, ngang qua ơn huệ và tình yêu của Người: “Con đắc tội với trời và với Cha”, người con trở về nói với Cha như thế. Vì thế, khi đọc lại đời mình, nhất là trong Mùa Chay Thánh, chúng ta được mời gọi không chỉ xét hành vi, nhưng còn nhận ra những động lực sâu kín của nội tâm, của tương quan thực sự giữa chúng ta và Thiên Chúa.

(*) Vi phạm luật có nguồn gốc là vấn đề nội tâm, chính vì thế để “hoàn tất lề luật”, cũng phải khởi đi từ vấn đề nội tâm. Đó chính là cách Đức Giê-su mời gọi chúng ta hoàn tất lề luật (x. Mt 5, 17-48). Và Người không chỉ mời gọi, nhưng còn tái sinh nội tâm chúng ta bằng Lời, Mình và Máu của chính Người.

Con người, bởi sự xúi dục của ma quỉ, ghen tị với Thiên Chúa và ham muốn thiên tính của Ngài; nhưng Thiên Chúa, nơi Đức Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, từ bỏ thiên tính để mang lấy nhân tính và sống nhân tính đến cùng như con đường dẫn đến sự sống viên mãn nơi Thiên Chúa: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Ph 2, 6-7)

Thủa ban đầu, “lệnh cấm ăn” (tượng trưng cho sự sống giới hạn và đầy thách đố và khổ đau), làm cho con người nghi ngờ Thiên Chúa; thì nay, mỗi ngày, Thiên Chúa nói với chúng ta nơi Đức Ki-tô: “Này là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn”! Để chúng ta đừng nghi ngờ tình yêu của Thiên Chúa nữa. 

3. Hậu quả và lời hứa chữa lành (c. 7)

“Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn”. Cách sa ngã của bà và của ông: bà như lá rơi, vì Con Rắn phải rất mưu mô xảo quyệt để cám dỗ được bà; ông như cục đá, vì ông ăn mà chẳng thốt lên một lời nào, trong khi ông là người chịu trách nhiệm. “Khi đó, mắt của cả hai người mở ra và họ biết rằng mình trần trụi”. Nghĩa là trở nên giống con rắn. Điều này có nghĩa là, loài người chúng ta đã bị con rắn tiêm nọc độc vào người. Chính nọc độc gây chết chóc, chứ không phải Thiên Chúa phạt chết. Nhưng nọc độc là gì? Lời đối thoại của con rắn và người phụ nữ giúp nhận ra nọc độc. Nhận ra là đã được chữa lành rồi (tương tự như con rắn đồng bị treo lên cao trong Ds 21, 4-9).

Khi Đức Chúa hỏi tới, người phụ nữ đáp: “Con rắn lừa dối con nên con đã ăn”, con người bị sự dữ, vốn mạnh hơn con người, lừa dối. Vì thế con người đáng thương hơn là đáng phạt. Hình phạt nếu có, đã hàm chứa ngay trong hành vi vi phạm rồi. Và Thiên Chúa thì mạnh hơn sự dữ. Lời hứa cứu độ được ban cho Người Phụ Nữ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” Con rắn cắn gót, nguy hiểm nhưng còn chữa lành được; nhưng con rắn bị đập nát đầu, thì vô phương cứu chữa. 

*  *  *

Con rắn đã dựa vào lệnh truyền Chúa ban để làm cho con người quên ơn và nghi ngờ Thiên Chúa. Vì thế, có thể nói, Thiên Chúa cũng có trách nhiệm. Và chỉ có thánh Phao-lô mới dám nói ra điều này: “Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không tuân phục, để thương xót mọi người” (Rm 11, 32). Và nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa vừa bày tò lòng thương xót, vừa chữa lành và vừa chiến thắng Sự Dữ.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

 


[1] Vì thế, mới có ngày Phụ Nữ 8/3!

Comments are closed.