Hành trình Đức tin – Suy niệm CN III MC Năm A

0

 Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm A
HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

124

Hôm nay đọc trình thuật người phụ nữ Samaria tôi nhớ lại kỷ niệm đẹp nhưng thấm đượm mồ hôi của gia đình tôi vào thập niên sáu mươi. Chuyện là hồi mới di cư vào Nam, bố tôi chọn thành phố Hoa Anh Đào làm nơi thường trú cho gia đình tôi khi chân ướt chân ráo bước vào miền Nam. Thành phố hoa lệ này được bố tôi ưa thích vì nó hội đủ điều kiện thuận lợi cho gia đình tôi và cho sự giáo dục tuổi thơ của tôi: Khí hậu mát mẻ, không gian an bình; nhà thờ, nhà xứ, trường học, sát cạnh nhà . Chỉ thiếu có một điều là nước sinh hoạt không có, vì nhà tôi ở trên ngọn đồi. Cái thiếu này đã khiến gia đình tôi phải chật vật không ít. Lúc này tôi mới thấy nước quan trọng như thế nào?

Nhà tôi ở trên cao nên không tìm đâu ra được một giọt nước. Muốn kiếm nước, mẹ tôi phải xuống tận chân núi đế gánh từng thùng nước về. Hồi đó bố mẹ tôi phải cật lực lao động mới đủ cơm ba bữa dưa muối cho gia đình tôi. Thấy bố mẹ vất vả, tôi là đứa con cả tự ý thức phải có trách nhiệm phụ giúp bố mẹ. Dù chưa được bảy tuổi tôi đã lao vào công việc giữ em và gánh nước. Mẹ tôi sắm cho tôi hai cái thùng pho-ma thời đó, mỗi thùng đựng được hai lít rưỡi nước. Ngày ngày đi học về tôi phải chu toàn bổn phận đổ đầy phi nước cho gia đình sinh hoạt. Nước trở thành quí hiếm đối với gia đình tôi, nên nội tôi sử dụng rất tằn tiện theo thứ tự từ sạch đến bẩn để tiết kiệm sức lao động nhỏ bé của tôi. Một chậu nước được tận dụng để vo gạo, rửa rau, rửa tay chân rồi cuối cùng để tưới bốn cây hoa anh đào ở ngoài ngõ.

Một hôm khi gánh nước gần về tới nhà, mắt tôi hoa lên vì mệt, chân tôi vấp phải cái rễ cây quen thuộc giữa đường, thế là hai thùng nước nhỏ của tôi cũng đổ nhào theo cái thân người bé bỏng của tôi. Tôi yếu ớt đưa tay gạt những giọt mồ hôi lã chả chảy xuống vũng nước không may mắn kia mà lòng nuối tiếc cho cái công dã tràng của mình. Lúc này tôi mới thấy nước quí hiếm như thế nào. Một cái giếng cỏn con xuất hiện giữa miền núi không đủ cung cấp cho làng bên lương và xứ bên đạo dùng. Nhiều khi chúng tôi phải ngồi chờ đợi cho  mạch chảy để vớt vét từng giọt nước đục dưới đáy giếng.

Hôm nay Chúa đến giếng Gia- cóp xin nước của thiếu phụ Samaria, tôi hiểu được tâm trạng của người xin nước và của người kín nước như thế nào. Chúa Giê-su sau một cuộc hành trình dài dưới trời nắng gắt, Ngài cần những giọt nước của người thiếu phụ để nhấp giọng khi cổ họng khô rát. Còn người thiếu phụ nhọc công kéo từng gầu nước từ giếng sâu rồi đội nước hằng dặm về nhà. Cả hai cái khổ đã giao duyên trong câu truyện đẹp hôm nay.

Từ xa Chúa Giê-su đã nhìn thấy người phụ nữ đang kéo nước, Chúa đến gần và bắt đầu làm quen qua việc xin nước: “ Chị ơi cho tôi xin chút nước uống.” Người phụ nữ nhận ra Chúa, một người đàn ông không thuộc phe mình, chị trả lời cộc lốc:  Ông là người Do-thái, tôi là người Samaria, hai bên không đội trời chung mà sao ông lại xin tôi nước uống?

Trước thái độ nghi ngờ của chị, Chúa Giê-su tấn công đột ngột làm chị ngỡ ngàng: “Nếu chị nhận ra hồng ân Thiên Chúa và người đang nói với chị là ai… thì hẳn chị đã xin và người ấy sẽ ban cho chị.”

Người phụ nữ này không phải là hạng vừa, chị đã từng làm cho các đấng mày râu ngã gục thì chị không ngán đối lại với người mà chị coi là hiền lành không chút tự vệ: Ông này thật là hay! Gầu không có, giếng lại sâu, ông lấy đâu ra nước hằng sống?

Vỏ quít dày móng tay nhọn. Trước sự thách thức của chị, Chúa Giê-su vẫn giọng bình thản nói với chị: “Chị uống nước này sẽ còn khát, nhưng chị uống nước tôi cho sẽ không khát nữa…”

Chị thầm nghĩ: Cái ông này thật là hay! Hay ông bị bệnh thần kinh chăng, chị tiếp tục tấn công để về đích chiến thắng: Hay quá! Ông cho tôi thứ nước đó đi để tôi không phải khổ sở đến đây kín nước nữa.

Không để người phụ nữ tiếp tục vẻ kênh kiệu của mình, Chúa đẩy chị vào chân tường:

“Chị hãy gọi chồng chị ra đây.”

Sẵn tính cao ngạo của phái đẹp và sự khinh khỉnh của kiều nữ chân dài, chị đáp cách cộc cằn: “Tôi không có chồng!”

Vẫn giọng thuyết phục nhân ái, Chúa Giê-su đã đánh đổ chị: “Chị nói đúng, chị đã có tới năm đời chồng, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị.”

Vô cùng ngạc nhiên, mắt chị sáng lên, lòng chị bấm loạn, chị run run thưa:” Thưa Ngài, tôi nhận ra Ngài quả là ngôn sứ.” Và chị tiếp tục xin Ngài dạy bảo mình phải thờ phượng Thiên Chúa như thế nào và ở nơi đâu cho xứng đáng.

Biết Ngài, gặp gỡ Ngài, chị bỏ vò nước chạy về làng loan báo cho mọi người đến gặp vị ngôn sứ.

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và thiếu phụ Samaria cho ta biết cuộc hành trình đức tin của chị.

Trước hết Chúa cho chị biết mình không phải là người cho nước mà là người xin nước, còn Chúa Giê-su là người cho nước, cho nước trường sinh.

Chúa Giê-su gây ngạc nhiên cho người phụ nữ vì Ngài là một người Do Thái mà không kỳ thị, không khinh thị, nhưng tôn trọng phụ nữ.

Chị cũng nhận ra Chúa Giê-su là người Do-Thái nhưng không giống những người Do-Thái khác. Người Do Thái khinh người Samari nhất là phụ nữ. Chúa Giê-su trái lại không khinh nhưng coi trọng chị và hạ mình xin nước.

Chúa Giê-su giúp chị nhận ra con người của chị, nhận ra cái thiếu của chị khi đối diện với Ngài và Ngài cò thể lấp đầy cái thiếu của mình.

Sau đó Ngài giúp chị nhận ra Ngài là vị ngôn sứ, là Đấng Thiên sai.

Qua hành trình Đức tin này Chúa cho người phụ nữ Samaria biết chị đang đi tìm tình yêu và hạnh phúc nhưng chị không thấy. Chúa chỉ cho chị cách tìm kiếm. Trước đây chị đã tìm tình yêu thật ở những nơi không thật. Dù năm đời chồng nhưng chị vẫn không được hạnh phúc, không được bình an thật. Chị càng tìm càng thất vọng. Hôm nay Chúa chỉ cho chị tìm nó ở đâu và chị đã gặp Đấng là nguồn hạnh phúc, bình an, mạch nước hằng sống đang diện đối diện với chị đây. Đấng ấy đã khỏa lấp mọi sự trống rỗng nơi lòng chị.

Sung sướng ngập tràn chị quên tất cả: tội lỗi,mặc cảm, những người đã làm khổ đời chị…Chị trở về loan báo cho mọi người trong làng  đến gặp Đấng có thể đổi đen thành trắng, đổi bất hạnh thành niềm vui và đổi thất vọng thành hi vọng.

Như người phụ nữ Samaria chúng ta hãy để Chúa Giê-su bộc lộ cho chúng ta những gì Người muốn. Ngài sẽ bộc lộ quyền năng của Ngài và Ngài cho chúng ta nước hằng sống như  Ngài đã kêu lên trong Đền thờ: “ Ai khát hãy đến với Ta mà uống… Từ lòng họ sẽ chảy ra nước hằng sống”(Ga 7,37) .

Xin Chúa cho chúng ta luôn khao khát tìm Chúa trong cuộc hành trình đức tin này để Chúa có thể biến đổi chúng ta qua việc gặp gỡ Ngài trong sâu thẳm lòng ta, để chúng ta có thể tận hưởng nguồn nước sự sống không vơi cạn nơi chính nguồn mạch sự sống là chính Chúa.

Nữ tu Maria Faustina Lý thị Báu

Comments are closed.