Lạy Chúa, con dâng lời cảm tạ Chúa

0

Lạy Chúa, Con Dâng Lời Cảm Tạ Chúa

Bởi: Jeanne Kun

Thiên Chúa vui thích với những lời cảm ơn của chúng ta và các Thánh Vịnh cho chúng ta những lời cầu nguyện tạ ơn. Thánh Vịnh 138 là một thí dụ tuyệt vời.

Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ,
Ngài đã nghe lời miệng con xin.
Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa,
hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ.
Xin cảm tạ Danh Chúa,
vì Ngài vẫn thành tín yêu thương,
đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự.
Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại,
đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.
Lạy Chúa, mọi đế vương dưới trần đều cảm tạ
khi họ nghe những lời miệng Ngài phán ra.
Họ sẽ ca ngợi đường lối Chúa:
“Vinh quang Chúa vĩ đại dường bao!”
Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn;
đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết.
Cho dù con gặp bước ngặt nghèo,
Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con.
Địch thù đang hằm hằm giận dữ,
Ngài ra tay chặn đứng,
lấy tay uy quyền giải thoát con.
Việc Chúa làm cho con, Ngài sẽ hoàn tất;
lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.

Cũng như Thiên Chúa vui thích với việc thờ phượng của chúng ta, vì thế, Người cũng vui thích với những lời tạ ơn của chúng ta. Những sự diễn tả về lòng biết ơn được tìm thấy trong nhiều thánh vịnh ngợi khen – và việc dâng những lời tạ ơn lên Thiên Chúa thì cũng cần thiết như việc ca ngợi và ngợi khen Người, vì trong tất cả những hành động được nói lên này chúng ta nhận ra sự cao cả và lòng trung thành, sự tốt lành, ân huệ và những ích lợi của Chúa dành cho chúng ta. Tuy nhiên, các thánh vịnh tạ ơn được công nhận là một thể loại văn chương riêng biệt bởi vì chúng diễn tả lòng biết ơn cho một hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn như sự giúp đỡ nhận được tại thời điểm cần thiết, sự giải thoát khỏi thử thách hoặc kẻ thù, sự chữa lành bệnh tật hoặc sự giảm bớt đau khổ.

Ở Israel cổ đại, các cá nhân có nhu cầu bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa thường viếng thăm Đền Thờ ở Giêrusalem, nơi họ dâng những lời cầu nguyện của họ bằng những lời tạ ơn. Việc tạ ơn này được theo sau là một bữa ăn mà họ tổ chức bằng việc dâng lễ tế – một con cừu hay bò đực. Những người có mặt trong khu vực Đền Thờ, đặc biệt là người nghèo, được mời tham dự bữa tiệc. Bằng cách này, người dâng lời tạ công khai làm chứng cho lòng tốt của Thiên Chúa. Trong số các thánh Vịnh của sự tạ ơn cá nhân là Thánh vịnh 9, 30, 92, 100, 103, 116 và 138. Một số Thánh vịnh là thánh ca của cộng đoàn hoặc quốc gia về tạ ơn (thí dụ, Thánh vịnh 65, 66, 75, 118, 124 và 136 ), nơi mà những hành động cứu độ của Thiên Chúa cho toàn thể dân của Người được nhắc nhớ. Thông thường, các Thánh vịnh này bao gồm những câu chuyện kể lại một cuộc khảo sát lịch sử (như trong Thánh vịnh 107) và có thể được soạn thảo để sử dụng trong các cử hành phụng vụ hoặc những ngày lễ tạ ơn công cộng của quốc gia.

Mặc dù quyền tác giả của Thánh Vịnh 138 theo truyền thống Do Thái giáo thì gán cho Đa Vít hoặc người trợ tá của ông, nhưng rất có thể nó được sáng tác vào một thời đại sau này. Thánh Vịnh mở ra với một sự diễn tả lòng biết ơn chân thành khi thánh vịnh gia ca ngợi Chúa vì tình yêu kiên định và lòng trung tín của Người. Thánh vịnh gia hát trước mặt Thiên Chúa, là Đấng ở trên trời với triều đình thiên sứ của Người (Tv 138,1-2). (“Các vị thần” của câu 1 được người Do thái cổ đại hiểu là các vị thần được các quốc gia xung quanh tôn thờ và được coi là kém quyền lực hơn Thiên Chúa của Israel. Sau thời lưu đày Babylon, niềm tin độc thần của người Israel vào Thiên Chúa như vị Thần duy nhất đã phát triển. “Các vị thần này” được hiểu là các thiên sứ.) Thánh vịnh gia cũng cúi mình về phía Đền thờ trần thế ở Giêrusalem, ông biết rằng Chúa cũng lắng nghe lời cầu nguyện ở đó.

Tiếp theo, thánh vịnh gia  nhớ lại rằng Thiên Chúa đã nghe lời kêu cầu của mình và đã giúp mình trong những nỗi đau buồn quá khứ, đã ban cho mình sức mạnh (Tv 138,3). Sau đó, thánh vịnh gia nhìn xa hơn nhu cầu cá nhân của mình, mở rộng tầm nhìn của mình ra ngoài, để tuyên bố rằng những người khác – “các vua chúa trần thế gian” – cũng sẽ nhận ra những đường lối của Chúa, sẽ công nhận sự vĩ đại của Người và tôn vinh Người (138,4-5). Người ta cũng thừa nhận rằng cho dẫu Chúa thì “cao cả” – uy nghi và có chủ quyền trên tất cả những gì Người đã dựng nên – nhưng Người quan tâm đến “những người thấp kém” đang đau khổ (138,6). Sau đó, thánh vịnh gia lại đưa ra lời làm chứng cá nhân, tuyên bố rằng khi ông gặp rắc rối, Chúa liền giơ tay ra để cứu giúp ông (138,7).

Cuối cùng, chắc chắn rằng Chúa sẽ hoàn thành mục đích của Người cho ông và sẽ không bao giờ bỏ rơi ông (Tv 138,8), thánh vịnh gia hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa. Cũng như thánh vịnh bắt đầu với sự nhận biết chân thành về tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa (câu 2), nó kết thúc bằng một lời công bố ngày càng thêm phấn khởi rằng tình yêu này – hesed (tình yêu, lòng trung thành), bằng tiếng Do Thái – sẽ kéo dài mãi mãi (câu 8).

Như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI ghi nhận trong một bài giảng về Thánh Vịnh 138, phần kết luận của Thánh Vịnh là “sự tuyên bố tin tưởng thiết tha vào Thiên Chúa Đấng mà sự tốt lành của Người là vĩnh cửu: Người sẽ không ‘loại bỏ… công trình do tay Người thực hiện’, nói cách khác, muôn loài của Người (câu 8). Và chúng ta cũng phải sống trong niềm tin tưởng này, trong sự chắc chắn về sự tốt lành của Chúa”. Rồi Đức Giáo Hoàng kết luận: “Chúng ta phải chắc chắn rằng cho dẫu những thử thách nặng nề và dông tố có thể đang chờ đợi chúng ta, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ bị bỏ rơi, chúng ta sẽ không bao giờ bị đẩy ra khỏi tay Chúa, những bàn tay đã tạo dựng nên chúng ta và bây giờ đang nâng đỡ chúng ta trên hành trình của đời sống chúng ta. Như Thánh Phaolô đã thú nhận: “Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành’ (Pl 1,6)”.

Trích từ Thánh Vịnh: Cổng (Lối Vào) cầu nguyện, bởi Jeanne Kun (The Word Among Us Press, 2013). Có sẵn tại wau.org/books.

Theo the Word Among us
Personal Spirituality Resources
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương 

Comments are closed.