Người cha nhân hậu – Suy niệm Chúa Nhật IV Mùa Chay, Năm C

0

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU

Suy niệm: Lc 15, 1-32

Trong tuần thường huấn của Hội dòng, tôi rất tâm đắc bài chia sẻ của cha giáo về Tin mừng chương 15 của Thánh Luca. Ngài trình bày: Ngài chọn chương này vì nó là quả tim của quả tim là “lòng thương xót”. Tôi xin mạn phép cha giáo để tóm tắt chia sẻ sâu sắc này cho phần suy niệm của tôi để đi vào trọng tâm của dụ ngôn hôm nay:  “ Người Cha Nhân Hậu”.

Người cha có hai người con. Người con thứ muốn chia gia tài vì anh bất mãn trong tương quan với cha. Anh yêu anh hơn cha trong khi cha anh rất mực yêu anh. Anh không cảm nghiệm được tình yêu của cha dành cho mình nên anh cảm thấy ngột ngạt khi ở trong nhà cha. Cha anh cũng biết được điều này nhưng ông không thay đổi cách thể hiện tình yêu của mình mặc dù ông biết con mình rất khó chịu.

Thiên Chúa yêu chúng ta và Ngài thể hiện tình yêu theo cách của Ngài. Đôi khi chúng ta cũng cảm thấy ngột ngạt về cách thể hiện tình yêu của Ngài. Thiên Chúa biết điều này nhưng Ngài không thay đổi vì đó là con đường tốt nhất cho chúng ta. Nhưng chúng ta quá yêu mình nên từ chối và chống lại lòng thương xót của Ngài. Tương quan của Chúa với chúng ta căng thẳng tới mức cao sẽ đứt như người con thứ hôm nay. Anh muốn cắt đứt tương quan với cha. Anh muốn cho cha chết.

Đó là lý do chính để anh xin chia gia tài. Khi anh chủ động xin chia gia tài có nghĩa là ông hãy chết đi. Khi cha chết nó mới được là chính nó nghĩa là được tự do theo như nó muốn.

Chia gia tài là cắt đứt tương quan: Nó xin cái là xin cái nó muốn. Cái là nó xin là cái nó chưa có. Nó không cần sự hiện hữu của bố nó, nó cần cái quyền nghĩa là tư cách làm cha của cha nó trên nó. Nó muốn làm cha của chính mình (tự do theo ý mình), lấy mình làm chuẩn. Bản văn Tin Mừng nói: Cha nó cho nó. Nó xin gia tài, còn cha thì cho của cải. Cha nó cho điều khác nó xin. Cái nó xin là cha nó, cái nó được là của cải. Tại sao cha nó không cho cái nó xin? Vì dù nó không nhận cha thì cha mãi mãi là cha nó. Điều này không thể xẩy ra vì đó sẽ là một gia đình hỗn độn. Đây là cám dỗ của muôn thế hệ. Cám dỗ ở vườn địa đàng con người muốn làm Chúa.

Dẫu người cha không cho điều nó xin nhưng đứa con đã nhận được tất cả những gì có thể từ cha nó. Nhưng nếu nó đụng vào quyền thì không thể.

Khi chia gia tài anh không đi ngay nghĩa là anh suy nghĩ trước khi quyết định dứt khoát. Mấy ngày sau, tâm lý anh chùng xuống ở mức bình thường mà anh không thay đổi thì quyết định này không phải là của cảm xúc mà là của ý chí và lý trí. Ông phải để cho con đi vì nếu giữ lại, nó cũng chỉ là một cái xác chết. Anh ở nhà để thu gom tất cả. Tuy nhiên cái nó có khi ở với bố không đáng gì so với cái mà bố nó cho nó. Nhưng anh vẫn ở lại mấy ngày để thu gom tất cả những cái anh không cần nữa vì anh không muốn bất cứ cái gì của anh còn lại trong nhà này. Anh muốn delete nó hết để đoạn tuyệt tương quan với cha và nói rằng tôi không bao giờ trở về nhà này nữa.

Anh ra đi, bố và anh của anh không giữ mặc dù sự ra đi của anh không ai muốn. Chính anh cũng không thấy thoải mái.

Thiên Chúa là tình yêu nhưng không phải lúc nào Thiên Chúa cũng thể hiện tình yêu làm cho chúng ta cũng cảm thấy thoải mái đâu.

Người con thứ đi phương xa, nó muốn chạy ra ngoài tầm kiểm soát của cha. Nhưng khi trốn cha, anh không được bình  an, dẫu anh được hoàn toàn tự do theo ý mình. Ở thế giới tự do đó, anh phung phí gia tài bằng cuộc sống phóng đãng. Gia tài ở đây được hiểu là cái Là của nó nghĩa là tư cách làm con. Anh phung phí tư cách làm con nghĩa là sống phóng đãng  để xóa tư cách làm con của mình, để thỏa mãn những đam mê của mình. Tóm lại ba điều đổ tường của người con thứ là: 1. Anh muốn sống cái là của mình( xin chia gia tài). 2. Cắt đứt tương quan khi thu gom tất cả. 3. Phung phá tất cả (đoạn tuyệt tư cách làm con).

Khi chúng ta sống không cần ơn cứu độ chúng ta cũng giống như người con thứ.

Hành vi phạm tội của anh đều có chủ ý vì anh phạm tội cách sáng suốt. Tội anh rất lớn. Khi anh sống tự do như thế, anh trở thành nô lệ cho ý sai lệch của mình. Cái nghiệt ngã nhất của anh là khi được tự do, anh không cảm thấy mình được tự do nhưng khi không được tự do, anh lại cảm thấy mình được tự do.

Khi anh hết tiền thì xẩy ra nạn đói. Khi hết tiền thì sự khốn nạn liên tục xảy ra. Khi ở nhà, anh là con. Khi anh đi phương xa, anh bước vào miền dân ngoại, anh là người dân ngoại. Trong thế giới dân ngoại anh tiếp xúc với những người không đàng hoàng, đàng điếm. Tư cách anh xuống. Anh đi làm nô lệ cho dân ngoại. Anh không biết làm nghề gì chỉ còn một nghề tồi tệ nhất là chăn heo. Đối với người Do Thái chăn heo là bị ô uế và như thế không còn gì tồi tệ hơn. Anh ước ao ăn cám lợn tức ước ao bằng con lợn nhưng cũng không được. Cuộc đời không bằng con lợn. Một cuộc đời siêu ô uế. Ô uế bởi con người đã rất đáng trách rồi, bây giờ lại bị ô uế bởi con vật thì không còn gì để nói nữa. Con người của anh đã đến chỗ ô uế cùng cực, không thể ô uế hơn được nữa. Anh đến cùng đường của đường cùng. Đến đây anh buông theo số phận. Khi anh sống trong thế giới nô lệ, anh bị nghiệt ngã dồn dập tư bề: “Giậu đổ, bìm leo, chó ỉa đè.” Anh đã tới con đường cùng không còn chỗ nào trôi được nữa nên dừng lại.

Chúng ta cũng vậy có những lúc yếu đuối đến nỗi không thể yếu thêm được nữa. Khi khủng khoảng đi đến tột cùng chúng ta có dừng lại không? Đó là vấn đề cần suy nghĩ.

Người con thứ hồi tâm. Anh dừng không chủ ý. Đây là khởi điểm thuận tiện để anh nhìn lại. Anh nhìn lại khi cuộc đời không thể xấu hơn được nữa, không còn đi đâu được nữa. Anh suy nghĩ và nói với chính mình. Anh làm một so sánh giữa anh với người làm của cha: kẻ làm công cho cha mình thì cơm dư gạo thừa” ăn no mặc ấm” trong khi anh chết đói ở đây. So sánh xong anh đi đến quyết định: “Thôi, đứng lên, ta đi tới với cha và nói: “Thưa cha, con đã đắc tội với trời và với cha…”. Diễn văn của anh không hề có vẻ hối lỗi nhưng ẩn ý một ý đồ. Ý của anh là xin cơm dư gạo thừa. Hành trình đi đến với cha là cái bụng. Câu anh thưa với cha ẩn ý: nếu bố chấp nhận, tôi sẽ sống.

Suy nghĩ xong, anh lên kế hoạch thực hiện. Anh đứng lên rồi đi tới cha. Nó nghĩ bố sẽ không nhận vì nó đã hủy tư cách làm con ngay từ đầu. Mục đích của nó là được làm đầy tớ để ăn no mặc ấm. Nó không nói: “Xin coi con như người làm công.” Có lẽ nó không kịp nói hay cũng có thể vì quá cảm động nên nghẹn ngào không nói được vì thấy cách hành xử của bố. Cũng có thể vì bố không cần nghe vì nếu nó nói hết thì nó phải di chuyển vào chỗ đầy tớ nên nó đứng tại chỗ để bố nó quyết định số phận của nó chứ không phải nó. Và bố nó quyết định là muốn điều tốt nhất cho nó. Người cha nói tiếng nói cuối cùng, quyết định tốt cho nó.

Người cha thấy anh khi anh đang ở phương xa, ở thế giới đàng điếm. Bố nó thấy nó nhưng nó không thấy bố nó. Bây giờ anh trở về đáng lẽ từ đàng xa anh phải thấy cha trước, nhưng đây cha anh thấy anh trước. Bố anh đi bước trước để nối tương quan với cha. Điều anh phải làm để bố thực hiện điều mình muốn là anh phải đi về.

Anh không phải là đứa con hiếu thảo. Khi ra đi, anh nỗ lực xóa tư cách là con. Lúc trờ về, anh chưa sẵn sàng và xứng đáng là con. Nhưng bố nó mãi mãi là bố nó. Không có một tội nào khiến cho bố nó không phải là bố nó.

Khi thấy anh trở về ông chạnh lòng thương xót và thể hiện hành vi yêu thương. Ông chạy ra rời bỏ tư cách là cha, quên đi hình ảnh bố, quên tội nó. Ông ôm chầm nó như một người bạn, hôn thắm thiết. Ông chấp nhận nó như nó là một cách triệt để. Sau đó, ông ra lệnh cho các đầy tớ mang áo đẹp, giày mới, nhẫn quí cho nó để trả lại tư cách là con mà nó đã đánh mất. Ông mở tiệc ăn mừng.

Câu chuyện sâu sắc cảm động này nói với mỗi người chúng ta: Lòng thương xót của Chúa là vô cùng, không bao giờ Ngài ngưng thương xót, dẫu chúng ta cố tình khước từ Ngài. Khi ta trở về với Người ta sẽ được hưởng lòng thương xót yêu thương  khôn lường của Ngài. Nếu ta không sám hối thì Chúa vẫn chờ đợi ta. Khi Chúa chờ đợi ta thì Ngài vẫn tiếp tục thi thố tình thương của Ngài theo cách của Ngài. Chúa là Đấng luôn trung tín, còn chúng ta luôn là kẻ phản bội. Nhưng cuối cùng tình yêu của Chúa sẽ thắng nếu chúng ta để Ngài thực hiện nơi chúng ta những điều Ngài muốn.

Trong mùa chay thánh này xin Chúa cho chúng ta biết thành tâm trở về với Chúa để được Chúa xót thương.

Nữ tu Maria Faustina Lý Thị Báu 

Comments are closed.