Đêm Canh thức Vượt Qua – Suy niệm Thứ Bảy Tuần Thánh, 2019

0

Ngày 21 tháng 04 năm 2019
Chúa Nhật Phục Sinh

Phần I

LỊCH SỬ CỨU ĐỘ VÀ MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

Trong đêm cách thức Vượt Qua, phần Phụng Vụ Lời Chúa được cử hành cách long trọng nhất trong năm, nhằm mục đích gợi lại cho chúng ta toàn bộ lịch sử cứu độ, ngang qua bảy bài đọc trích phần “Giao Ước Kia” của Kinh Thánh.

Như thế, mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là hành trình nhiệm mầu đi vào sự sống ngang qua sự chết của Đức Ki-tô, là điểm tới và là sự hoàn tất trọn vẹn lịch sử cứu độ, và qua lịch sử cứu độ, hoàn tất toàn thể lịch sử nhân loại, trong đó có cuộc đời của từng người chúng ta. Thế mà lịch sử cứu độ, lịch sử nhân loại và cuộc đời của từng người chúng ta bị phối tất yếu bởi Sự Chết (vì mọi người đều phải chết) và bị ảnh hưởng nặng nề bởi Sự Dữ (vì mọi người đều phạm tội).

1. Đức Ki-tô: Đấng chiến thắng Sự Chết

Trong trình thuật “Sáng Tạo Bảy Ngày” (Bài đọc 1: St 1, 1 – 2, 2), hành động ban lương thực của Thiên Chúa, là điểm tới, là mục đích, hay ít nhất là hành động cuối cùng trong quá trình sáng tạo, vì thế sau đó, Thiên Chúa nói: “Rất tốt đẹp” (c. 31). Có thể nói, Thiên Chúa dựng nên muôn loài và con người là để “cho ăn”! Nghĩa là để làm cho sống. Và trong ơn huệ sự sống, đã chất chứa lời hứa trao ban sự sống, sự sống dồi dào rồi, “sự sống dồi dào”, không phải là sự sống “ăn no mặc ấm” và “êm trôi êm trôi”, nhưng là sự sống mạnh hơn sự chết. Đức Ki-tô đến để làm rõ và thực hiện lời hứa này (x. Ga 10, 10).

Thật vậy, Bánh Thánh Thể chính là điểm tới của ơn huệ lương thực, được Thiên Chúa ban cho loài người từ thủa tạo thiên địa và được hiện tại hóa mỗi ngày, như chúng ta vẫn cầu nguyện trong kinh Lạy Cha “xin cho chúng con lương thực hành ngày”. Chính Đức Ki-tô là Đấng ban cho chúng ta Bánh của Thiên Chúa, Bánh có sức đổi mới mạnh mẽ hơn cả sự chết, vốn là thử thách tận cùng mà chính Ngài đã vượt qua.

“Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.
Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. (Ga 6, 51)

Mầu nhiệm Vượt Qua cho chúng ta biết tấm bánh này được nhào nắn như thế nào: bánh đã đi ngang qua thập giá của Đức Kitô, nơi chốn đích thật cho sự biến đổi của bánh. Nơi Thập Giá, lòng ước ao của chúng ta được mời gọi lắng nghe Tin Mừng về Bánh Hằng Sống, vốn hoàn tất ơn huệ sáng tạo, khi nhìn ngắm với lòng mến vẻ bề ngoài “nát tan”, không còn gì, của Đức Kitô chịu đóng đinh.

Nếu bánh ăn hằng ngày không làm cho chúng ta chiến thắng sự chết, thì Bánh Hằng Sống, là chính Đức Giê-su mà chúng ta lãnh nhận nơi bí tích Thánh Thể, sẽ làm cho chúng ta chiến thắng sự chết, bởi vì chính Ngài đã vượt qua và chiến thắng cả tiến trình dẫn đến sự chết và chính cái chết trong cuộc Thương Khó. Bánh Hằng Sống, có sức mạnh chiến thắng sự chết, đáp ứng lòng khao khát sự sống của loài người chúng ta, dù ý thức hay không ý thức.

2. Đức Ki-tô: Đấng chiến thắng Sự Dữ

Ơn huệ bánh ăn hằng ngày chất chứa lời hứa ơn huệ bánh hằng sống, và Đức Ki-tô đến để hoàn tất lời hứa này. Nhưng lịch sử cứu độ, cũng giống như lịch sử nhân loại và lịch sử của từng người chúng ta, bị chi phối nặng nề bởi Sự Dữ, được biểu lộ dưới mọi hình thức và ở nơi những con người cụ thể. Con người không chỉ phải chết bởi thân phận cát bụi, nhưng, dưới tác động của Sự Dữ, con người lại tạo ra bầu khi chết chóc trong tương quan với nhau và muốn cái chết cho nhau. Vậy Thiên Chúa có còn trung tín với lời hứa ban Bánh Hằng Sống cho chúng ta hay không?

a. Ơn tuyển chọn

Việc Thiên Chúa đi vào tương quan giao ước với một dân tộc giữa các dân tộc, khởi đi từ việc tuyển chọn tổ phụ Abraham (Bài đọc 2: St 22, 1-18), chính là cách thức Thiên Chúa muốn nói với loài người chúng ta rằng, Ngài mãi mãi trung tín với lời hứa ban “Bánh Hằng Sống”, dù loài người chúng ta có ra như thế nào. Cũng giống như cha mẹ đối với những đứa con mình đã sinh ra; và kinh nghiệm nhân linh này giúp chúng ta nhận ra sự thật về lòng trung tín của Thiên Chúa hằng sống, như lời nguyện Thánh Vịnh 136 diễn tả:

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Nhưng tại sao lại tuyển chọn một dân tộc? Và chúng ta có thể mở rộng vấn đề lựa chọn ra hơn nữa: tại sao Chúa không ứng xử mọi người như nhau? Đặt câu hỏi này, là chúng ta đã để cho “Con Rắn” (St 3), kẻ chuyên reo rắc nộc độc ghen tị, thâm nhập vào tâm hồn rồi. Lí do đơn giản, vì đó là ơn huệ nhưng không; như người chủ nói với những người làm công ghen tị: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20, 15).

Nhưng lí do tận cùng vẫn là mầu nhiệm Thiên Chúa là tình yêu: tình yêu chỉ có thể được bày tỏ cách hoàn hảo, không phải trong tương quan “bình đẳng” với một đám đông, trong đó mọi người đều có một “khuôn mặt” như nhau, nhưng trong một tương quan thiết thân và cá vị. Bởi vì tình yêu không thể được biều lộ theo một cách thức nào khác, ngoài tương quan một-một. Và vì đó là tình yêu Thiên Chúa, chứ không phải tình yêu giới hạn và nhiều khi lệch lạc của con người, chúng ta được mời gọi xác tín rằng, cùng một tình yêu đó, Chúa dành cho từng người chúng ta, một cách đích danh, giống như tình yêu Ngài dành cho “Người Môn Đệ Chúa thương mến”. Và chỉ có tình yêu cá vị của Chúa dành cho từng người chúng ta, mới có thể khơi dậy tình yêu cá vị của chúng ta dành cho Chúa.

Cũng giống như ơn sự sống ở nguồn gốc, được diễn tả ngang ơn huệ bánh hàng ngày, sự tuyển chọn này là ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa ban. Tính nhưng không được đặc biệt nhấn mạnh nơi Isaac, Đứa Con của Lời Hứa, được sinh ra hoàn toàn do quyền năng sáng tạo sự sống của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Sự Dữ lộ diện, và đi theo nó là cả một bầu khí chết chóc, khi người ta tự biến mình thành chủ nhân của ơn huệ Thiên Chúa ban, và như thế, có quyền định đoạt. Khi tổ phụ Abraham được mời gọi dâng hiến người con trai duy nhất và yêu quí với tâm hồn tan nát, thì chính là để giúp ông, trong kế hoạch của Thiên Chúa, biết nhận lại một lần nữa như quà tặng, có thể sinh hoa kết qua gấp trăm; còn nếu làm ngược lại, cứ khư khư giữ lấy, ông sẽ đánh mất chính điều mình tìm cách giữ lấy và làm chủ. Thực vậy, ngay sau đó sứ thần của Đức Chúa nói với ông:

Ta sẽ thi ân giáng phúc cho người,
sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông,
nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển”       (St 22, 17)

Theo thánh Phao-lô, dòng dõi Abraham đích thật không phải là bởi huyết thống, nhưng là bởi đức tin. Vì thế, bởi lòng tin, chúng ta là con cháu đích thực của tổ phụ Abraham. Chúng ta có thể hình dung ra tương quan cha-con đã được biến đổi sâu xa đến mức nào, khi họ xuống khỏi núi “Đức Chúa sẽ liệu”, để trở về nhà.

b. Ơn giải thoát

Sự trung tín với lời hứa ban Bánh Hằng Sống lại được thể hiện một lần nữa một cách nhưng không trong lịch sử qua biến cố Xuất Hành, giải thoát dân khỏi quân Ai Cập và Biển Đỏ, biểu tượng của Sự Dữ và Sự Chết (Bài đọc 3: Xh 14, 15 – 15, 1a). Như chúng ta đều biết, Đêm Vượt Qua ở vào vị trí trung tâm của Kinh Thánh. Trong đêm Vượt Qua, các con trai đầu lòng của Ai Cập bị sát hại: “Chúa sát hại các con đầu lòng Ai-cập” (Tv 136, 10). Tai họa đã chừa dân Israel ra, dân mà Chúa gọi là “con đầu lòng của ta” (Xh 4, 22). Bị giáng họa như thế, vì Pharaô đã từ chối giải phóng Israel ; sau đó, ông nhượng bộ và để cho Israel ra đi. Như vậy, đêm Vượt Qua cũng là tai ương thứ mười của Ai Cập. Giờ của tai ương thứ mười đối với Ai Cập là giờ của ơn giải thoát đối với Israel. Tai ương ở đây, chính là cái chết. Không phải cái chết cho Israel, nhưng cái chết cho người Ai Cập. Không phải cái chết của Pharaô, nhưng cái chết của con đầu lòng của Pharaô, và của tất cả các con đầu lòng của dân tộc ông. Như thế, tai họa rơi xuống một nơi rất chính xác, đó là nơi lưu truyền sự sống. Trước đó, Pharaô đã tìm cách tước quyền lưu truyền sự sống đối với Israel. Dự tính này giờ đây rơi xuống trên chính ông và dân tộc ông ; Pharaô chứng kiến tội ác của mình đổ xuống trên chính ông hay đúng hơn trên con trai của ông và các con trai của dân tộc ông.

Trình thuật Xuất Hành kể cho chúng ta rằng trong tai họa này, có bàn tay của Thiên Chúa. Đứng trước dữ kiện này của Kinh Thánh, một số người phản kháng, một số khác cố tìm hiểu tại sao, và một số khác nữa thì nhắm mắt cho qua, “nín thở qua sông”. Quả thật, có điều gì đó không ổn trong biến cố này. Trình thuật Xuất Hành không dấu diếm sự bối rối và kí ức của Israel đã chưa bao giờ cảm thấy nguôi ngoai với biến cố này. Trước hết, đây là tai họa thứ mười, nghĩa là cách giải quyết cuối cùng, cách mà phải cố tránh hết sức. Hơn nữa, mười tai họa chỉ xẩy ra sau khi cuộc đàm phán đã thất bại ; và trong cuộc đàm phán này, đã không có lời đe dọa nào. Những tai họa đầu tiên dù thật ấn tượng, nhưng không quá bi thảm ; đó là ba tai họa đầu tiên : nước trở nên độc hại, nạn ếch nhái và nạn muỗi. Khi kể tuần tự các tai họa, trình thuật Xuất Hành cũng từ từ và một cách khắc nghiệt chỉ ra đâu là sự dữ của Pharaô, tội của ông ẩn núp ở đâu. Và cuối cùng, chỉ sau mười tai họa, lời của Môsê mới được coi là thất bại hoàn toàn. Pharaô đã trở nên mù và điếc với mọi sự khoan hồng : chỉ hiểu được sức mạnh mà thôi, thì đó chính là lựa chọn nộp mình cho sức mạnh.

Những điều chúng ta vừa nói thuộc bình diện công lý. Ngoài ra, trình thuật Kinh Thánh cũng có những do dự khi kể lại biến cố Vượt Qua. Không phải chính Thiên Chúa đã hủy diệt các con trai đầu lòng Ai Cập, nhưng đúng hơn là một hữu thể tối tăm được gọi là “Thần Hủy Diệt” (Xh 12, 23). Thiên Chúa đã không để cho Thần Hủy Diệt vào các nhà của Israel (Xh 12, 23), Ngài chỉ để cho Thần Hủy Diệt vào các nhà của người Ai Cập. Hơn nữa, Israel và Ai Cập đâu phải là hai dân tộc thù nghịch : chính Môse là con trai của một bà mẹ Ai Cập và các phụ nữ Ai Cập rất quảng đại cho đồ đạc các phụ nữ Israel, khi họ ra đi. Và khi tai họa thứ mười xẩy ra, Môse chẳng còn đóng một vai trò nào nữa, chẳng khởi động nó và cũng chẳng làm ngưng lại.

Như thế, dù sao đi chăng nữa vẫn có công lý trong đêm Vượt Qua này. Nhưng chúng ta vẫn cảm thấy rằng công lý này vẫn chưa ngang tầm với công lý của chính Thiên Chúa. Có một dấu chỉ cho điều này, và đây là dấu chỉ đích thực của biến cố Vượt Qua : đó là máu của con chiên. Sự vô tội của con chiên tượng trưng cho sự vô tội của các con trai đầu lòng Ai Cập. Con chiên, không mang lại công lý, nhưng lại chỉ ra và nhắc nhớ sự bất công từ thế hệ này sang thế hệ kia. Con chiên chính là món nợ của Israel. Và sau biến cố Vượt Qua, nghĩa là sau khi được giải phóng, Israel vẫn mang nợ đối với Ai Cập. Khi nào Israel trả được nợ cho Ai Cập, và hai dân tộc được giao hòa ? Đó là lúc “Môsê Mới” xuất hiện, mang lấy chỗ của Môse và chỗ của Con Chiên, Ngài sẽ làm cho Ai Cập (nghĩa là dân ngoại) và Israel (nghĩa là dân được tuyển chọn) trở thành một dân tộc duy nhất và thánh thiện bằng chính máu của Ngài. Xưa kia, dân tộc này đã làm đổ máu dân tộc kia ; sau đó, dân tộc ấy bị đổ máu như giá phải trả để dân tộc kia được giải thoát ; nhưng nay, trong Đức Kitô, hai dân tộc được cứu thoát và được giao hòa, bằng máu của Con Chiên vô tội, là Đức Giêsu-Kitô, Con Thiên Chúa. Như Người nói trong Bữa Tiệc Ly:

Anh em hãy cầm lấy mà uống, này là chén máu Thầy,
máu Giao Ước mới, Giao Ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho anh em
và muôn người được tha tội. Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.

ĐÂY MỚI CHÍNH LÀ CÔNG LÝ THẦN LINH

3. Đức Ki-tô hoàn tất lời hứa

Sau biến cố Xuất Hành, dân được giải thoát, trong suốt dòng lịch sử, một đàng bị vùi dập bởi những thăng trầm của lịch sử (x. Gia phả của Đức Giê-su trong Mt 1, 17), giống như mọi dân tộc khác, và đàng khác, sẽ vẫn tiếp tục quên đi ơn huệ Thiên Chúa ban, qua đó, để cho Sự Dữ gieo rắc thái độ nghi ngờ Thiên Chúa, gây ra bầu khí chết chóc cho mình và cho người khác (x. Ds 21, 4b-9; Ga 3, 13-17).
Các ngôn sứ thay phiên nhau đến nói Lời Thiên Chúa cho dân được tuyển chọn, vốn là “tôi tớ đau khổ” của Thiên Chúa, rằng Ngài vẫn luôn trung tín với lời hứa dành cho tổ phụ Abraham, như chính Đức Maria xác tín:

Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
và cho con cháu đến muôn đời.

Để chữa lành một lần cho tất cả hình ảnh sai lầm con người có về Thiên Chúa, Ngài hứa ban ơn tha thứ (Bài đọc 4: Is 54, 5-14), để dẫn con người vào trong Giao Ước Mới (Bài đọc 5: Is 55, 1-11), dựa trên Đức Khôn Ngoan, vốn là Luật Mới (Bài đọc 6: Ba 3, 9-15.32 – 4, 4) và trái tim mới (Bài đọc 7: Ed 36, 16-17a.18-28). Và lời hứa này được hoàn tất nơi mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô.
Thật vậy, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra khuôn mặt đích thật của chính Thiên Chúa. Thập Giá muốn nói với chúng ta rằng, thân phận con người không phải là một hành trình dẫn đến chỗ chết. Con người muốn vươn lên bằng Thiên Chúa, nhưng Con Thiên Chúa làm người và làm người đến tận cùng, để nói với chúng ta rằng, Thiên Chúa tạo dựng nên con người không phải để đầy đọa, thử thách và lên án, và thân phận con người, dù có như thế nào, là con đường dẫn đến Thiên Chúa, nguồn Sự Sống; như thánh Phaolô xác tín:

“Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa,
được thể hiện nơi Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thánh Giá”.

Nếu chúng ta cùng đã chết với Đức Ki-tô,
chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người.
                     (Bài đọc 8: Rm 6, 3-11).

* * *

Nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã muốn để cho Sự Dữ đi tới cùng nghĩa là giết chết, và chỉ sau đó, Thiên Chúa mới hành động. Tại sao như vậy ? Bởi vì Thiên Chúa vừa không đính dáng gì đến sự dữ và Thiên Chúa mạnh hơn sự dữ. Thiên Chúa không chỉ chiến thắng Sự Dữ, nhưng còn chiến thắng sự chết, sự chết gây ra bởi sự dữ và do đó cả sự chết đến thân phận con người : đó là TIN MỪNG trọng đại. Xin cho chúng ta, trong cuộc sống hàng ngày, nghiệm thấy sự trọng đại của Tin Mừng Đức Ki-tô phục sinh đối với cuộc Thương Khó, với nhân loại, với những người thân yêu của chúng ta, và với chính bản thân chúng ta.

Và Tin Mừng này chỉ trọng đại, khi chúng ta có lòng khao khát. Thế mà, con người tự bản chất có lòng khao khát sự sống viên mãn, tình yêu viên mãn và sự hiệp thông viên mãn. Tin Mừng Đức Ki-tô Phục Sinh chính là lời đáp và lời hứa cho khát khao của loài người. Có hai hoa trái mà chúng ta cần xin Chúa, trong Đêm Canh Thức Vượt Qua và và mãi về sau :

– Sự Sống mới của Đức Ki-tô Phục Sinh lôi kéo chúng ta trong cuộc đời, ơn gọi và mỗi ngày sống, để chúng ta bình tâm với mọi sự và định hướng mọi sự. Như thế ơn gọi ca tụng Thiên Chúa của chúng ta có một năng động mới đến từ chính Chúa.

– Vì là sự sống của Đức Ki-tô phục sinh là có thật, xin cho chúng ta được nhận ra sự sống của Chúa tràn sang bờ bên này của cuộc sống chúng ta để biến đổi sự sống hôm nay và chóng qua của chúng ta rồi. Các trình thuật hiện ra mà Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, cho thấy điều này. Và Đức Ki-tô Phục Sinh vẫn còn hiện diện trong đời sống của nhân loại, của Giáo Hội, của cộng đoàn, trong đời sống và tâm hồn của từng người trong chúng ta.

Phần II

“Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi”


I. LỜI CHÚA: Lc 24, 1 – 12

1 Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.2 Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ.3 Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả.4 Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ.5 Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết?6 Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê,7 là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” 8 Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói.

9 Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.10 Mấy bà nói đây là bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Gio-an-na, và bà Ma-ri-a, mẹ ông Gia-cô-bê. Các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy.11 Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin.

12 Dầu vậy, ông Phê-rô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM:

1. Các phụ nữ và mầu nhiệm Phục Sinh

Sự hiện diện của các phụ nữ đi theo Đức Giê-su không được nhắc tới nhiều trong giai đoạn rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu ; chỉ có mỗi một lần, các bà được nhắc đến một cách long trọng trong Tin Mừng theo thánh Luca: “Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa” (Lc 8, 1-3).

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu tiên của biến cố Phục Sinh, sự hiện của các bà được đặc biệt nhấn mạnh, như bài Tin Mừng theo thánh Luca, được long trọng công bố trong Đêm Canh Thức Vượt Qua, kể lại.

  • Ba bà được nêu đích danh, chứ không phải được gọi bằng danh từ “các bà” chung chung. Đó là bà Gioanna, bà Maria mẹ ông Gia-cô-bê và bà Maria Magdala, vị thánh nữ nổi danh. Ngoài ra còn “các bà khác” nữa (c. 10).
  • Các bà gắn bó với Đức Giê-su một cách vô vị lợi. Thật vậy, các bà vẫn hướng về Ngài vào những lúc thử thách nhất, bi đát nhất và đen tối nhất trong cuộc Thương Khó; và các bà vẫn một lòng gắn bó với Ngài, khi Ngài chẳng còn là gì hơn là một thân xác nát tan, đã được chôn cất.

Và chính khi đi tìm Đức Giê-su đã chết và muốn chăm sóc cho thân xác đã chết của Đức Giê-su, các bà được nghe loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Ngài, không phải của người phàm, nhưng là của thiên sứ, và không phải của một nhưng là của hai vị:

Hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống
ở giữa kẻ chết?
Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.” 
(c. 5-6)

Vẫn chưa hết sự ưu ái Thiên Chúa dành cho các bà, vì theo lời kể của thánh sử Mác-cô và cả thánh sử Gioan nữa, các bà là những người đầu tiên được trao cho sứ mạng loan báo Tin Mừng phục sinh, không phải cho các dân tộc xa xôi, nhưng cho chính các Tông Đồ, nghĩa là cho “những trụ cột” của Giáo Hội:

Xin các bà về nói với môn đệ Người
và ông Phê-rô rằng Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông.
Ở đó, các ông sẽ được thấy Người
như Người đã nói với các ông. 
(Mc 16, 7)

Trong lời trao sứ mạng này, ông Phê-rô được nêu tên cách đặc biệt, tách khỏi nhóm các môn đệ. Ông Phê-rô là Đá Tảng, trên đó Đức Ki-tô phục sinh sẽ xây dựng Giáo Hội của Ngài; nhưng ở điểm khởi đầu trọng đại này, Đá Tảng Phê-rô được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe lời loan báo Tin Mừng của các phụ nữ. Và không phải một Tin Mừng nói về các bà cách đặc biệt vào thời điểm hệ trọng này, nhưng cả bốn Tin Mừng đều nói và nói theo những cách khác nhau, như Giáo Hội sẽ cho chúng ta nghe lại trong Mùa Phục Sinh (x. Mt 28, 1-10; Mc 16, 1-8; Lc 24, 1-7 và Ga 20, 1-2. 11-18).

Như thế, hình ảnh người phụ nữ được đưa lên hàng đầu trong thời điểm trọng đại : khởi đầu mới của Đức Kitô, của các môn đệ và Giáo Hội, của toàn lịch sử và nhân loại. Vai trò của các phụ nữ được ưu tiên trong giai đoạn mới của lịch sử cứu độ. Nhưng đây không phải là lần đầu, hay là điều bất thường, nhưng là sự ưu ái xuyên suốt của Thiên Chúa dành cho các phụ nữ, trong sáng tạo và lịch sử: bà Evà, bà Sara, bốn người phụ nữ được nêu danh trong chính gia phả của Đức Giê-su (Tama, Ra-kháp, Rút và Batseva), trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (Mt 1, 1-17), và nhất là Đức Maria.

Ngày nay, sự lựa chọn ưu ái này của Thiên Chúa dành cho nữ giới vẫn còn được duy trì, ngang qua đức tin, hoạt động mục vụ và nhất là ơn gọi thánh hiến rất phong phú trong Giáo Hội, để loan báo sự sống mới của Đức Ki-tô Phục Sinh bằng chính “Hương Thơm” đời mình.

 2. Dấu chỉ Sự Sống Mới

Các bà đi tìm Đức Giê-su đã chết và muốn chăm sóc cho thân xác đã chết của Ngài. Điều này diễn tả tình yêu vô vị lợi của các bà dành cho Đức Giê-su. Vậy, bởi đâu các bà có tình yêu vô điều kiện như thế dành cho Đức Giê-su, nếu không phải là kinh nghiệm sâu đậm về ơn huệ, ơn huệ tha thứ và chữa lành. Đó cũng phải là hành trình đi theo Đức Ki-tô của chúng ta trong ơn gọi Chúa ban cho chúng ta.

Các bà gắn bó với Thầy đã chết; tuy nhiên, toàn bộ khung cảnh, toàn bộ thế giới nhỏ bé bao quanh các bà, tràn ngập dấu chỉ Sự Sống Mới của Đấng Phục Sinh.

a. Trước hết, đó là dấu chỉ thiên nhiên: “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng”.

  • “Ngày thứ nhất trong tuần”, nghĩa là tuần cũ đã qua, hình ảnh của mọi tuần, khởi đi từ tuần đầu tiên được sáng tạo, mà chúng ta đã nghe trong bài đọc 1, trích sách Sáng Thế (x. St 1, 3). Hình ảnh này loan báo tuần mới và sáng tạo mới, đã bắt đầu rồi. Và Đức Ki-tô phục sinh chính là Ngôi Lời ánh sáng, theo Ga 1, 9.
  • “Vừa tảng sáng”, nghĩa là vào lúc ánh sáng đẩy lui bóng tối của đêm đen. Hình ảnh thiên nhiên này diễn tả sự chiến thắng trên sự chết của Đức Ki-tô phục sinh.

Những dấu chỉ thiên nhiên này, nói về sự sống của Đức Ki-tô phục sinh và loan báo sự sống mới của chúng ta trong Đức Ki-tô, vẫn được ban cho chúng ta mỗi ngày.

b. Tiếp đến là dấu chỉ “ngôi mộ trống”. Chúng ta nên gọi là « ngôi mộ mở » thì hay hơn. Đó là dấu chỉ mà cả bốn Tin Mừng đều kể lại, vì có tầm quan trọng mặc khải đặc biệt. Vì thế, Giáo Hội luôn đón nhận đó như là dấu chỉ hàng đầu của Mầu Nhiệm Phục Sinh:

Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ.
Nhưng khi bước vào, họ không thấy
thi hài Chúa Giê-su đâu cả. 
(c. 2-3)

Ông Phê-rô cũng đứng lên chạy ra mộ.
Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có
những khăn liệm thôi. 
(c. 12)

Mộ phần, tượng trưng cho sự chết, vốn là sức mạnh tột đỉnh của sự dữ, không giam hãm được Đức Ki-tô và đã bị Đức Kitô vượt qua. Hình ảnh « ngôi mộ trống » nghiêng về ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn, vì « trống » có nghĩa là người chết bị lấy đi hay biến mất tiêu, như bà Maria nói với các Tông Đồ : « Người ta đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu » (Ga 19, 2). Bà nhìn thấy « ngôi mộ mở », nhưng lại nghĩ rằng đó là « ngôi mộ trống »!

c. Và sau cùng, đó là dấu chỉ “sứ điệp thần linh”, bởi vì Tin Mừng Phục Sinh được chính sứ thần Thiên Chúa công bố:

Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại. (c. 5-7)

Bởi vì chiến thắng sự chết chỉ có thể là quyền năng của Thiên Chúa và chỉ có thể được chính sứ thần của Thiên Chúa công bố mà thôi. Và như chúng ta đều biết và có kinh nghiệm, để đón nhận Tin Mừng Phục Sinh, đó cũng vẫn là công trình của Thiên Chúa thực hiện nơi tâm hồn và cuộc đời của chúng ta.

 3. Sự cứng tin

Chúng ta hãy lắng nghe các chứng nhân chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh, trong sự sợ hãi nhưng chắc chắn với niềm hi vọng, nhất là khi nhớ lại những gì Người nói về mầu nhiệm Vượt Qua, khởi đi từ Kinh Thánh:

Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói. (c. 6-8)

Nhưng rốt cuộc, các bà hẳng đã « hụt hẫng » như thế nào, khi Nhóm Mười Một không tin:

Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy… Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin. (c. 9 và 11)

Theo lời kể của thánh sử Gioan, các môn đệ đóng kín cửa phòng (x. Ga 20, 19), hình ảnh của việc đóng kín tâm hồn, không chịu ra khỏi mình để nhớ lại lời loan báo của Đức Ki-tô, và nhất là lời loan báo của Kinh Thánh, và đọc các biến cố Đức Ki-tô và những biến cố liên quan đến đời mình dưới ánh sáng của lời Kinh Thánh. Đức tin và ơn gọi của chúng ta dựa trên lời chứng của Giáo Hội và của rất nhiều người xa gần. Chúng ta đã từng ở trong tình trạng không tin như thế chưa ?

Chính vì thế, khi đích thân tỏ mình ra cho các Tông Đồ, Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, đối với các chứng nhân (x. Mc 16, 14). Như thế, Chúa coi trọng việc chúng ta làm chứng cho nhau như thế nào: lời của của người khác dành cho chúng ta, lời chứng của chúng ta dành cho người khác.

*  *  *

Như thế, Đức Ki-tô mời gọi chúng ta, trước khi trở thành chứng nhân, chúng ta được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe các chứng nhân. Và điều này phải làm chúng ta ngặc nhiên : kinh nghiệm này cũng phải có, ngay cả đối với các tông đồ, vốn là các chứng nhân ưu tuyển !

Thật vậy, trước khi trở thành chứng nhân, chính các tông đồ cũng đã phải trải qua kinh nghiệm lắng nghe các chứng nhân khác, vốn đã được chính các thiên sứ công bố Tin Mừng Phục Sinh: “Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi” (x. 6), thậm chí họ được ban ơn gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh trước (x. Mt 28, 9-10; Mc 16, 11 và Ga 20, 18). Xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta mối phúc mà Đức Ki-tô mời gọi chúng ta đón nhận hôm nay:

Phúc cho những ai không thấy mà tin.

Đêm Canh Thức Vượt Qua 2019
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Comments are closed.