Kinh “Lạy Nữ Vương Thiên đàng” và mùa đại dịch

0

Từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Kinh Truyền tin được thay thế bằng Kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng. Kinh này phát xuất từ đâu? Thật là một câu hỏi được đặt ra đúng thời nhân mùa đại dịch. Theo một lưu truyền, kinh này được sáng tác từ thời gian mùa đại dịch năm 590 tại Rôma, thời đức giáo hoàng Grêgôriô Cả.

Theo như ký sự của đức cha Grêgoriô giám mục Tours (Pháp), vào năm 589-590, một cơn dịch lớn bùng nổ trong Đế quốc Rôma, bắt đầu từ mạn Đông, lan sang mạn Tây, giết hại rất nhiều người, và lan tới thành phố đô Roma. Nạn nhân đầu tiên tại thủ đô là chính giáo hoàng Pelagio II, băng hà ngày 5/2/590 và được an táng trong đền thờ thánh Phêrô. Hàng giáo sĩ đã bầu người kế vị là Grêgoriô, nguyên thị trưởng thành phố và đang sống như đan sĩ ở Monte Celio (đàng sau Colosêô). Sau khi được tấn phong giám mục ngày 3/9/590, ngài đã đương đầu với cơn dịch. Trong một bài giảng ở thánh đường Santa Sabina, ngài đã mời gọi dân thành phố hãy theo gương của dân Ninive bằng những lời như sau: “Hãy nhìn ra chung quanh thì thấy: kìa lưỡi gươm của Chúa đang vung lên trên toàn dân. Cái chết đã cướp mất mạng sống của chúng ta, cách bất ngờ không có thời gian chuẩn bị. Biết bao người không kịp ăn năn thống hối”. Đức thánh cha mời gọi mọi người hãy ngước mắt nhìn lên Chúa, vì đã dùng hình phạt để sửa dạy con cái. Và để đền tội, ngài truyền tổ chức một cuộc rước kiệu, chia thành 7 đám, phân phối theo tuổi, giới, điều kiện xã hội. Các đám rước khởi hành từ những thánh đường khác nhau của thành phố, tiến về đền thờ thánh Phêrô. Các tín hữu, đầu rắc tro, đi chân không, tiến bước trong thinh lặng. Bầu khí thật là nặng nề. Chỉ trong vòng một giờ đi kiệu, đã có 80 người ngã gục. Đức thánh cha thúc giục cứ tiếp tục và truyền đưa bức icôn Đức Mẹ Salus Populi Romani được kính ở đền thờ Đức Bà Cả (tục truyền cho thánh Luca vẽ)[1].

Vào thời Trung cổ, câu chuyện được Jacopo da Varazze O.P. kể tiếp như sau: Bức icôn Đức Mẹ tiến đến đâu thì cơn dịch lùi tới đó; không khí trở nên trong lành hơn. Đám rước đi đến lăng Hadriano (được gọi là pháo đài Crescenzio Castellum Crescentii), thì bỗng nhiên, người ta nghe thấy một ca đoàn thiên thần hát:  «Regina Coeli, laetare, Alleluja – Quia quem meruisti portare, Alleluja – Resurrexit sicut dixit, Alleluja!». Đức thánh cha Gregôriô lớn tiếng đáp lại «Ora pro nobis rogamus, Alleluja!». 

Sau đó, các thiên thần quây quần chung quanh bức icôn. Đức thánh cha ngước mắt lên trời thì thấy trên tháp của pháo đài một thiên thần, sau khi đã lau sạch máu trên lưỡi kiếm, đã đút kiếm vào bao, như dấu hiệu báo tin chấm dứt hình phạt. Từ đó pháo đài được đổi tên là “Đài thiên thần”[2].

Đó là một truyền thuyết. Xét về lịch sử của kinh nguyện thì có thể nói thêm như sau:

Kinh Regina caeli  đã được phổ biến từ thời Trung cổ như ca vãn khi rước kiệu sau giờ Kinh Tối, và được đức thánh cha Pio V chính thức đưa vào sách nguyện Rôma sau công đồng Trento, (năm 1568), và đức thánh cha Bênêđictô XIV truyền đọc trong mùa Phục sinh thay cho kinh Truyền tin.

Có thể ví kinh này như lời “truyền tin” của cộng đoàn Hội thánh dâng lên Đức Mẹ, song song với lời “truyền tin” của sứ thần ở Nazareth.

– Trước đây, Mẹ được báo tin là Con Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Mẹ; giờ đây, các môn đệ loan báo cho Mẹ biết là Đức Kitô đã sống lại.

– Trước đây, Mẹ thông chia việc hạ mình của Đức Kitô, như người nữ tì; giờ đây Mẹ được chia sẻ vinh quang với Đấng Phục sinh như là Nữ Hoàng.

Mừng vui lên, lạy Nữ Hoàng Thiên Quốc
Ha-lê-lui-a!
Vì Thánh Tử Bà được phúc cưu mang
Ha-lê-lui-a!
Ðã phục sinh như lời Người phán trước
Ha-lê-lui-a!
Cầu Chúa cho đoàn con, lạy Nữ Hoàng
Ha-lê-lui-a!

[1] Gregoire de Tours (538-594), Historiae Francorum, liber X, 1, in Opera omnia, a cura di J.P. Migne, Parigi 1849 p. 528).

[2] Chân phước Iacopo da Varazze O.P. (1266/30-1298), Legenda aurea, Edizione critica a cura di Giovanni Paolo Maggioni, Sismel-Edizioni del Galluzzo, Firenze 1998, p. 90.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 

Comments are closed.