Quê hương khai trừ – SN Chúa Nhật XIV TN, năm B

0

Suy niệm: Mc 6,1-6

 Người ta nói: “Mỗi lần xa quê tình yêu quê hương lại âm ỉ cháy trong tim, có khi da diết có khi sục sôi, có khi lại thổn thức. Là sự háo hức mỗi lần được trở về với đất mẹ sau mỗi lần xa quê. Tình cảm này là tình cảm không gì có thể thay thế được, nó luôn ở mãi trong tim của mỗi con người.”

“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”

(Đỗ Trung Quân)

Chúa Giê-su cũng mang trong mình tình yêu cao đẹp  này, nên dẫu miệt mài với sứ vụ, Ngài vẫn dành một tình cảm đặc biệt cho những người thân thương nơi quê nhà. Ngài về thăm để thi ân và chúc phúc. Nhưng đáng buồn thay! tình cảm Ngài dành cho quê hương không được đón nhận. Trái lại, nó đã trở thành một sự vấp phạm. Chứng kiến những việc lạ lùng Ngài làm hay nghe những lời khôn ngoan tài giỏi đáng lý họ thán phục nhưng họ lại phản ứng cách khinh bỉ, khiến Chúa Giê-su phải đầu hàng: “Ngài đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Ngài chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. Ngài lấy làm lạ vì họ không tin.”

Họ vấp phạm vì sự khôn ngoan và quyền năng của Ngài gây cho người nghe kinh ngạc và thắc mắc về nguồn gốc của Ngài. Từ đó họ phải điều tra lý lịch của Ngài. Nếu Ngài bởi Thiên Chúa thì họ phải tin. Nhưng người đồng hương không thể nhận Ngài là Thiên Chúa, vì Ngài là con người bình thường như họ và có gốc gác còn bình thường hơn họ. Họ quan niệm Đấng Thiên Sai không thể có gốc có nguồn như người bình thường. Họ kinh ngạc về sự khôn ngoan và quyền năng của Ngài, nhưng họ vẫn không tin, bởi vì họ chỉ thấy Ngài là con bác thợ mộc, con bà Maria và anh em với Gia-cô-bê, Giuse, Giuđa và Simon.

Khi Chúa Giê-su bắt đầu rao giảng, Ngài gặp khó khăn về gia đình của mình. Người họ hàng cho Ngài là người mất trí và muốn bắt Ngài về nhà (Mc 3,21). Còn thính giả hôm nay hồ nghi sứ mạng của Ngài, họ vịn vào lý do biết gốc gác của Ngài: “Chúng tôi biết ông ấy từ đâu đến, còn Đức Ki-Tô không ai biết Ngài từ đâu đến” (Ga 7,26).

Đối với người Do Thái, Đấng Messia không có gia đình ở dưới đất này. Khi Ngài đến, Ngài đến từ trời để đảo lộn tất cả và trong nháy mắt Ngài thay đổi bộ mặt thế giới. Còn Chúa Giê-su này ở một làng, có cha, có mẹ, có anh chị em, có người thân thì không thể là Đấng Messia được.

Họ không thể biết được mầu nhiệm mà ngày nay chúng ta vẫn tuyên xưng trong kinh tin kính: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Ngài đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Ngài đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria và đã làm người”. Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật. Như thế Ngài mới có thể cứu độ loài người chúng ta.Thánh Phaolo nói:  Người giống chúng ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi. Giáo lý này được kín múc trong Tin Mừng. Những người Nazareth nhận thấy nơi Chúa Giê-su có sự khôn ngoan và quyền phép lạ lùng vì Ngài là Thiên Chúa. Nhưng Ngài cũng là con bác thợ mộc. Đây là nhân tính đích thực của Chúa Giesu. Ngài đã được sinh ra bởi Mẹ Maria,  đã chịu đau khổ, đã chết thực sự. Và Ngài đã phục sinh trong thân xác hay chết này.

Trước chủ đề: Thiên tính và nhân tính đã gây tranh cãi giữa các Ki-tô hữu qua các thế kỷ. Người đề cao thiên tính và phủ nhận nhân tính. Người khác đề cao nhân tính và phủ nhận thiên tính. Nhưng nhờ ơn Chúa, qua các công đồng, chúng ta có một công thức đức tin vững chắc mà chúng ta tuyên xưng mỗi chúa nhật: “Tôi tin kính một Chúa Giê-su Ki-tô, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Bởi phép Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Đức trinh nữ Maria và đã làm người.”

Dân làng của Chúa Giê-su không biết được màu nhiệm này nên không thể đón nhận Ngài. Họ không thể đón nhận một Đấng Messia tầm thường như mình. Họ đâu ngờ thiên tính của Ngài dấu ẩn nơi nhân tính. Và khi xuống trần gian Ngài đã trao lại cho Cha vinh quang của một Thiên Chúa. Ngài đã hủy mình ra không để có thể nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, như thánh Phaolô quả quyết.

Đó là lý do mà dân làng của Ngài vấp phạm. Họ không muốn nhận ra trong sự yếu đuối là chính thực tại của màu nhiệm Thiên Chúa, Đấng cứu độ con người nhờ sự yếu đuối của nhân tính này. Ngài đến với họ, chiến thắng ở giữa họ bởi sự yếu đuối riêng của họ.

Cũng như những người đồng hương của Chúa, rất có thể chúng ta cũng đang xua đuổi những ngôn sứ của Chúa, những người nói với chúng ta những lời không dễ đón nhận: một chân lý, một điều lành thánh đến đánh bật một sự cao ngạo nơi chúng ta làm chúng ta khó chịu. Sự thật đến giải thoát chúng ta, cho chúng ta được tự do đã làm chúng ta nhức nhối. Ánh sáng đến đưa chúng ta ra khỏi bóng tối tội lỗi làm chúng ta đau rần…Tóm lại sự xuất hiện của ngôn sứ làm chúng ta không thể ngủ vùi trong đăm mê nên chúng ta phải tìm cách tống khứ để được yên ổn.

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta can đảm lắng nghe sự thật ngay cả khi sự thật đó làm chúng ta đau đớn. Hãy mở lòng ra với Lời của Chúa để chiêm ngắm màu nhiệm cao cả: mầu nhiệm mà Thiên Chúa bộc lộ nơi Đức Ki-Tô. Chúng ta hãy ngắm nhìn Người, ánh sáng của Người sẽ làm cho khuôn mặt của chúng ta sáng hơn, và lúc đó, chúng ta hãy nói với Chúa như Origene: “Lạy Chúa, xin để dấu ấn của Chúa, ánh sáng của thánh nhan Chúa trên con.” Như thế con sẽ tin hơn, sẽ yêu hơn và sẽ là chứng nhân tình yêu Chúa cho những người chưa biết Chúa hay đã biết mà khai trừ Chúa ra khỏi quê hương, xóm ngõ và gia đình của mình.

Nt. Maria Faustina Lý Thị Báu

Comments are closed.