
Sr. Cécilia Đặng Nguyễn Hoàng Anh, OP
Nhìn lại dọc dài lịch sử của Hội dòng, con chỉ là một phần tử nhỏ bé, đang từng bước đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Theo chân Chúa nơi Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp, chắc hẳn rằng mỗi người đều có những trải nghiệm rất riêng về hồng ân của Chúa và những tháng ngày dâng hiến của đời mình. Riêng con, hành trình theo Chúa chưa thể kể là dài, nhưng lòng con dâng trào niềm hạnh phúc khi nhận ra bàn tay quan phòng yêu thương của Chúa đã âm thầm vun trồng cây ơn gọi của con trên mảnh đất màu mỡ. Đó là mảnh đất được tưới gội bằng mồ hôi và nước mắt của bao thế hệ quý Dì đi trước, để hình thành, bảo tồn và phát triển Hội dòng Đa Minh Tam Hiệp, theo linh đạo Cha Thánh Đa Minh.
Trải qua bao thăng trầm, bao sóng gió của thời gian và lịch sử, Hội dòng Đa Minh Tam Hiệp đã đạt được những thành tựu quý giá, cả về đời sống thiêng liêng lẫn những giá trị vật chất. Với tâm tình của một người thuộc thế hệ sau, con xin được phép gọi quý Dì tiền bối bằng tiếng gọi thân thương: “Mẹ”.
Khi được học hỏi và tìm hiểu lịch sử Hội dòng, con sẽ không bao giờ quên – và chắc hẳn Mẹ càng không thể quên – những đợt sóng dữ tưởng chừng muốn nhấn chìm con tàu Hội dòng. Thế nhưng, con tàu ấy vẫn kiên vững, vẫn trung thành hiến dâng và ngày càng mở rộng sứ mạng phục vụ trong lòng Giáo hội Việt Nam.
Thuở ban đầu, dấu ấn công ơn phải được nhắc đến trước hết là các vị thừa sai phương Tây, những người đã không quản gian lao, gieo hạt giống đức tin trên quê hương Việt Nam. Chính dòng máu tử đạo của các ngài vì Đức Kitô đã làm nảy mầm ơn gọi Đa Minh trên mảnh đất này. Trải qua biết bao khó khăn, Dòng Nữ Đa Minh Việt Nam mới được hình thành.
Thế rồi, biến cố năm 1954 đã khiến số nhân sự ít ỏi bị phân tán, phần lớn phải rời bỏ quê hương để tiến về miền đất mới. Với đôi chân kiên cường và trái tim đầy thao thức cho tương lai con cháu, Mẹ đã chấp nhận rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, lận đận khắp nẻo đường, để khởi đầu một hành trình mới – hành trình tiến về “đất hứa” mà Chúa dành cho Hội Dòng.
Khi đặt chân đến Tam Hiệp, mảnh đất Chúa chọn, con có thể phần nào cảm nhận được những tháng ngày gian khó khi Mẹ bắt tay xây dựng nền móng thiêng liêng và vật chất. Từ nơi đây, bao kỳ công của ân sủng Chúa đã và đang được triển nở.
Nếu biến cố năm 1954 là cuộc ra đi đầy hy vọng thì biến cố năm 1975, lại là thử thách của sự ở lại trong niềm tin. Lật giở những trang sử cũ, con không khỏi xúc động trước sự kiên trung, bền bỉ và lòng mến sắt son mà Mẹ dành cho Chúa và Hội dòng. Chính tình yêu ấy đã trở thành động lực giúp Mẹ vượt qua mọi thử thách, và cũng từ đó, gia đình Hội dòng càng xác tín hơn vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa đang dẫn dắt từng cá nhân và toàn thể Hội dòng.
Mẹ ơi, đến nay đã 75 năm. Bảy mươi lăm năm một hành trình đức tin, hy sinh và phó thác. Con dừng lại một chút để hiểu và yêu Mẹ nhiều hơn. Dừng lại một chút để nhận ra rằng tất cả đều nằm trong kế hoạch yêu thương của Chúa. Dừng lại một chút để ý thức rằng những gì con đang thừa hưởng hôm nay không tự nhiên mà có. Và dừng lại, để tự nhủ phải cố gắng sống trọn vẹn hơn trong ơn gọi dâng hiến.
Là những người con, là tương lai của Hội dòng, rồi đây theo quy luật thời gian, chúng con cũng sẽ trở về với cát bụi. Nhưng Hội dòng thì vẫn còn mãi, vẫn hiện diện và tiếp tục lớn mạnh trên mảnh đất thân thương này.
Và với ước mong được tiếp nối, kế thừa gia sản đức tin mà Mẹ để lại, con không biết nói từ gì hơn ngoài hai tiếng “Tri ân”. Tri ân Mẹ qua vần thơ mộc mạc nhưng chất chứa tấm lòng:
Phải đâu Mẹ của riêng ai
Mẹ là Mẹ của Hội Dòng chúng con
Không sinh nở, chẳng cưu mang
Mà công ơn Mẹ muôn vàn khắc ghi.
Và trong tâm tình ấy, noi gương Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, con ước nguyện rằng: “Trong lòng Hội dòng, con sẽ là tình yêu.”