
Cha BTTQ Gerard Francisco Timoner III, OP
Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống đánh dấu việc khởi đầu sứ vụ rao giảng của các tông đồ. Khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, nỗi sợ hãi khiến các tông đồ chùn bước đã được biến đổi thành đức tin can đảm, để các ngài công bố Tin Mừng bằng nhiều ngôn ngữ cho đến tận cùng trái đất. Thánh Lêô Cả diễn tả sống động rằng: “Từ ngày lễ Hiện Xuống này, tiếng kèn loan báo Tin Mừng đã vang rền như tiếng sấm.”[i] Thánh Gioan Kim Khẩu nói về sự biến đổi ấy ở mức độ cá nhân khi nhận định: Ông Phêrô, người trước kia sợ hãi đến mức không dám mạnh miệng trước một người hầu gái (Mt 26,69-70), thì nay đã đứng trước một đám đông không mấy thiện cảm, để loan báo mầu nhiệm Phục Sinh với tất cả sự can đảm và tài ăn nói (Cv 2).[ii]
Thánh Đa Minh đã hiểu Dòng tiếp nối chính đời sống và sứ mạng tông đồ ấy. Điều đáng chú ý là ngài đã triệu tập và tổ chức các Tổng hội đầu tiên vào các năm 1220 và 1221 đúng dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.[iii] Khi quy tụ vào ngày lễ này, ngài muốn phó thác anh em cho sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần hầu tìm kiếm sự hiệp thông trong phân định, khẳng định rằng quản trị Dòng là một việc thiêng liêng chứ không chỉ là việc hành chính. Chọn lựa của thánh Đa Minh là có chủ ý: nó đặt căn tính của Dòng trong viễn tượng tông đồ, tích cực bước ra thế giới, và để Thánh Thần hướng dẫn mọi việc. Như thế, Tổng hội của Dòng không đơn thuần là những cuộc hội họp, nhưng là những thời khắc ân sủng của việc phân định, quản trị và canh tân cộng đoàn. Thật vậy, các Tổng hội chính là những “lễ Hiện Xuống” mới,[iv] góp phần canh tân đời sống của Dòng.
Người kế nhiệm tôi sẽ diễm phúc lãnh đạo Dòng khi Hội thánh cử hành Đại Năm Thánh Cứu Chuộc vào Lễ Hiện Xuống năm 2033. Nhưng ngay từ bây giờ, tôi muốn mời gọi anh chị em suy nghĩ xem chúng ta có thể chuẩn bị cho thời điểm ấy thế nào, và cân nhắc xem chúng ta được mời gọi cống hiến cho Hội thánh điều gì khi cùng nhau hướng tới biến cố ân sủng trọng đại ấy.
Người cộng tác loan báo Chân lý (3 Ga 8)
Suy tư dưới đây được ngỏ với toàn thể gia đình Đa Minh: các anh em (giáo sĩ và trợ sĩ), các nữ đan sĩ, các nữ tu hoạt động, thành viên Huynh đoàn Giáo sĩ, các Tu hội đời, giáo dân Đa Minh, và các phong trào giới trẻ Đa Minh. Tuy hình thức đời sống khác nhau tùy theo bậc sống của mỗi thành phần trong gia đình Đa Minh, nhưng những suy tư này đề cập đến điều chúng ta cùng nhau chia sẻ, đó là: gia sản thừa hưởng từ viễn tưởng của thánh Đa Minh và dự phóng của Dòng (propositum Ordinis) (x. SHC 141).
Tất cả chúng ta đều được “thông dự vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế” của Đức Kitô khi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy.[v] Không một thành viên nào của gia đình Đa Minh đứng bên ngoài nhiệm vụ này. Theo cách riêng của mình, mỗi người thông phần vào sứ vụ của Đức Kitô để đem chân lý, sự thánh thiện và sự sống cho thế giới. Chính nhiệm vụ chung bắt nguồn từ bí tích Thánh tẩy ấy làm cho chúng ta, theo Thư thứ ba của thánh Gioan, trở thành “những người cộng tác loan báo chân lý” (3 Ga 8), đó là một thuật ngữ diễn tả trọn vẹn căn tính Đa Minh, bởi vì việc tìm kiếm và công bố chân lý, Veritas, chính là trung tâm đặc sủng của Dòng. Liên kết trong ơn gọi phổ quát này, mỗi thành phần của gia đình Đa Minh thực thi sứ vụ của Dòng theo cách riêng của mình (x. SHC 141).
Các thánh của Dòng là chứng tá hùng hồn nhất về nhiều hình thái mà việc giảng thuyết Đa Minh có thể đảm nhận: việc giảng thuyết lưu động của thánh Đa Minh, việc giảng dạy của thánh Tôma Aquinô và thánh Albertô Cả, các tác phẩm của thánh Catarina Siêna, nghệ thuật của chân phước Fra Angelico, đức bác ái của thánh Martin de Porres và thánh Rosa Lima, chứng tá trẻ trung của thánh Pier Giorgio Frassati, và máu của các vị tử đạo. Trong lá thư gửi toàn Dòng tựa đề Nhà giảng thuyết Ân sủng (Praedicator Gratiae), Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh rằng, chính sứ vụ tông đồ đa dạng này là một món quà mà Dòng tiếp tục trao tặng Hội thánh.[vi]
Bốn nhóm người/ những người đối thoại trong sứ vụ giảng thuyết ngày nay
Hẳn anh chị em còn nhớ, trong lá thư ngày 24 tháng Năm năm 2025, tôi đã mời gọi anh chị em hướng lời giảng của chúng ta cách mới mẻ và đặc biệt cho bốn nhóm người. Khát vọng sâu xa của chúng ta là những “nhóm người” ấy, khi đáp lại Lời được công bố, có thể trở thành những người đối thoại đích thực: những bạn đồng hành của chúng ta trong cuộc đối thoại liên lỉ với Chúa và không ngừng loan báo về Chúa. Cũng trong tinh thần đó, tôi đã xin Tổng hội (Kraków 2025) khảo sát và đề xuất những cách thức cụ thể, để dự phóng của Dòng có thể được vận dụng cách hiệu quả hơn trong việc chúng ta thi hành sứ vụ đối với những nhóm người này.
Trong thư gửi các nghị huynh Tổng hội, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã khích lệ chúng ta: “Anh em đã chọn chủ đề của Tổng hội rất hợp thời là, rao giảng Tin Mừng một cách chuyên tâm hơn qua các hình thái đa dạng của Dòng cho bốn nhóm người: 1) những người chưa biết Đức Giêsu, 2) những người đã tin Đức Giêsu, 3) những người đang xa rời Hội thánh, và 4) những người trẻ hiện diện trong các hoàn cảnh ấy.”[vii]
Khi chuẩn bị cho Năm Thánh Cứu Chuộc và Lễ Hiện Xuống 2033, tôi nhắc lại lời mời gọi toàn Dòng hãy đặt dự phóng của Dòng vào trong sứ vụ của Hội thánh, cách cụ thể là Tân Phúc âm hóa và Phúc âm hóa, bằng cách tập trung vào bốn sứ vụ sau đây:
1. Sứ vụ ad gentes: “sứ vụ” đến với những người chưa biết Đức Giêsu
“Tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: ‘Kính thần vô danh’. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17,3).
Ngày nay, không gian của sứ vụ không chỉ là đến với một vùng đất xa xôi nào đó mà có thể ở ngay trước cửa nhà chúng ta! Khi ra khỏi tu viện hay cộng đoàn, chúng ta gặp không ít những người nam, người nữ và trẻ nhỏ chưa hề biết đến niềm vui trong tình bạn với Đức Giêsu Kitô. Vì thế, sứ vụ đến với dân ngoại (missio ad gentes) không bị giới hạn vào một số vùng nhất định, nhưng mở rộng đến mọi nơi mà Đức Kitô chưa được biết đến. Chúng ta vui mừng khi nhận thấy nhiều anh chị em của chúng ta đã dấn thân thi hành sứ vụ ở những nơi mà Hội thánh vẫn đang bén rễ; đồng thời, có nhiều thành viên của gia đình Đa Minh đã và đang tiếp cận biết bao nhiêu “tâm hồn khoắc khoải đi tìm”, những người chưa nghe biết hoặc chưa tin vào Đức Kitô, ngang qua công việc của họ tại các trường học, trên lục địa kỹ thuật số, và trong những kiểu “Hội đồng A-rê-ô-pa-gô” của việc giảng thuyết trong thời đại này.
2. Sứ vụ củng cố đức tin cho các tín hữu: “sứ vụ Thê-ô-phi-lô”
“Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính… Tôi cũng tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc (Lc 1,1-4).
Thánh Luca viết sách Tin Mừng gửi cho ông Thê-ô-phi-lô (Theophilus), “người bạn của Thiên Chúa”, điển hình của những tín hữu khao khát hiểu biết Thiên Chúa sâu xa hơn. Chăm sóc một cộng đoàn Hội thánh cố định, đồng hành với các thành viên trong hành trình sống đức tin của họ, chính là một hình thức tông đồ. Đây là công việc hằng ngày của nhiều anh chị em chúng ta tại các giáo xứ, trường học, bệnh viện, các cơ sở tĩnh tâm và những nơi khác tương tự.
Tuy nhiên, sứ vụ này phải luôn mở ra cách nội tại với missio ad gentes: Các giáo xứ phải vươn mình tới những người chưa nhập xứ và những người đang tìm kiếm chân lý; các cơ sở học vấn phải luôn chú ý và mở ra với những người chưa tin. Việc đào sâu đức tin và tính năng động truyền giáo không thể tách rời nhau, bởi vì đó là hai phương diện bất khả phân ly của cùng một sứ mệnh tông đồ.
3. Sứ vụ đối với những người đang xa rời Hội thánh
Sứ vụ này dành cho người môn đệ trên đường Emmaus, đang rời xa Giêrusalem, rời xa cộng đoàn đức tin. “Mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Đức Giêsu, Đấng đang đi bên cạnh họ; nhưng sau đó, họ nhận ra Người sau khi nghe giải thích Kinh Thánh và tham dự việc Bẻ Bánh (x. Lc 24,13-32).
Tình trạng thế tục hóa đã khiến nhiều người dần lãng quên thực hành đức tin. Họ đánh mất khả năng nhận ra Đức Giêsu qua Lời Chúa và các Bí tích. Chúng ta cần dấn thân và mời gọi họ gặp gỡ Người một lần nữa như thế nào? Thật đáng buồn là có những người đã xa rời Hội thánh vì gương xấu, bị tổn thương bởi các hình thức lạm dụng, tính dục, thiêng liêng hoặc tâm lý, do các phần tử của Hội thánh gây ra. Chúng ta đồng hành với họ, nói chuyện với họ và đồng bàn with họ thế nào như thánh Đa Minh đã làm với “người chủ quán trọ” (cum hospite domus)? Với tư cách là một Dòng tu, chúng ta làm gì để mời gọi những người ấy trở lại cộng đoàn đức tin? Lời giảng của chúng ta, bằng lời nói và gương sáng (verbis et exemplis), còn có thể làm gì hơn để giúp họ nhận ra Đức Giêsu trong Lời cứu độ của Người và trong việc Bẻ Bánh? Nhờ ân sủng, liệu những dấu thương tích mà qua đó tông đồ Tôma đã tuyên xưng, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”, có thể trở thành nguồn lực chữa lành cho những người đang chịu tổn thương vì những thất tín và rạn nứt tương quan?
4. Sứ vụ đặc biệt dành cho người trẻ
Những người trẻ được nói đến ở đây là những người hiện diện trong mỗi hoàn cảnh của đời sống đức tin đã được nói ở trên. Có nhiều bạn trẻ, thậm chí là những bạn ở trong một môi trường thấm nhuần Kitô giáo, không phải là đang rời xa Hội thánh mà là chưa từng bước vào Hội thánh vì cha mẹ của các em đã chọn không giáo dục các em trong đức tin.
“Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được sự sống đời đời? (Mt 19,16). Nhiều người trẻ hôm nay mang trong mình một câu hỏi rất giống câu hỏi của người thanh niên giàu có. Chúng ta phải đón nhận họ, rồi đồng hành với họ trong cuộc tìm kiếm chân lý, tìm kiếm những điều thiện hảo. Nhiều anh chị em của chúng ta đang dấn thân trong các trường học, đại học, bệnh viện, giáo xứ và đền thánh, cũng đang chia sẻ một sứ vụ không khác gì sứ vụ của tông đồ Anrê. Chính ông Anrê, trong trình thuật hóa bánh ra nhiều, đã nhận thấy nơi một cậu bé có điều gì đó để cho đi (Ga 6,5-15). Không có cậu bé, dấu lạ đã không xảy ra; không có ông Anrê, quà tặng của cậu bé không đến được với Đức Giêsu. Ngày nay, chúng ta cần những Anrê, tức là những anh chị em có khả năng nhận ra và đồng hành với những người trẻ sẵn lòng dâng hiến các ân huệ và tài năng của họ cho Hội thánh.
Hướng tới “bốn nhóm người”: Hình ảnh ngư phủ và mục tử trong Kinh Thánh
Tân Ước trao cho chúng ta hai hình ảnh đầy sức thuyết phục về những người được trao phó sứ mạng loan báo Tin Mừng: ngư phủ và mục tử. Thoạt nhìn, hai hình ảnh ấy như thuộc về hai thế giới khác nhau: một hình ảnh hướng về chân trời ở Biển hồ Galilê, còn hình ảnh kia hướng về địa hình quen thuộc của núi đồi và đồng cỏ. Tuy nhiên, khi được đọc và chiêm niệm cùng nhau, cả hai diễn tả toàn bộ trường độ của sứ vụ tông đồ: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).
Hình ảnh ngư phủ nói đến tinh thần chủ động và hướng ra bên ngoài. Khi gọi ông Simôn và ông Anrê: “Hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người” (Mt 4,19), Đức Giêsu đang mô tả một sứ vụ đi ra, vung tay thả lưới, liều mình đến vùng nước sâu và xa lạ. Đánh cá là một hành vi tìm kiếm. Nó đòi kiên nhẫn, can đảm, và sự sẵn lòng lao nhọc nơi những vùng nước sâu, và thường không cho kết quả tức thời. Đối với công cuộc tân Phúc âm hóa, hình ảnh này nhắc chúng ta rằng, chuyển động đầu tiên luôn là hướng ra: đến với những người chưa biết Đức Kitô, đến với các vùng ngoại biên, với biển khơi của thế giới bị tục hóa nhưng cũng đầy khát vọng.
Tuy nhiên, cũng phải cần chăm sóc những mẻ cá. Chính hình ảnh này nói đến sự cần thiết của người mục tử. Khi Đức Kitô Phục Sinh hỏi ông Phêrô ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” và ba lần truyền cho ông: “Hãy chăn dắt, chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,15-17), Người không chỉ trao cho ông việc công bố, nhưng còn trao việc chăm sóc: đó là công việc cần sự kiên trì hướng dẫn, đồng hành và chữa lành. Người mục tử biết từng con chiên của mình. Đó là người đi tìm con chiên lạc, là không bỏ rơi những con chiên bị thương tích.
Khi được đặt bên nhau, two hình ảnh này không mô tả những sứ vụ riêng biệt, nhưng là hai chiều kích bất khả phân ly của cùng một sứ vụ tông đồ. Hội thánh đón nhận lệnh truyền, vừa để đi ra vừa để quy tụ, vừa rao giảng Tin Mừng vừa chăm sóc đoàn chiên, vừa để tìm kiếm những kẻ ở xa vừa để nuôi dưỡng những người đã tìm được. Nếu chỉ là ngư phủ mà không là mục tử, thì có nguy cơ thu gom “mẻ cá” mà không hề chăm sóc; cũng vậy, nếu chỉ là mục tử mà không là ngư phủ, thì có nguy cơ chăm sóc một đoàn chiên mà chẳng bao giờ lớn mạnh. Tuy nhiên, trong sự lưỡng diện này, hai hình ảnh ấy mặc khải sự viên mãn của sứ vụ Tin Mừng. Đối với chúng ta, đặc biệt là những nhà giảng thuyết theo tinh thần của thánh Đa Minh, điều này có nghĩa là sứ vụ của chúng ta phải luôn kết hợp sự mạnh dạn công bố với sự trung tín đồng hành: đưa con người đến với Đức Kitô qua Lời Chúa, đồng thời dẫn đưa họ, một cách kiên nhẫn và trung tín, đến sự trưởng thành trong Người.
“Những kẻ lưới người (ἁλιεῖς ἀνθρώπων) – Mc 1,17//Mt 4,19
Đánh cá là một nghệ thuật đòi hỏi sự kiên nhẫn, khéo léo và thường đi kèm với những yếu tố bất định. Người ngư phủ phải dựa vào sự hiểu biết của mình về vùng nước đang hoạt động, biết chọn đúng thời điểm, đồng thời phải biết cộng tác với sức gió và thuỷ triều. Tuy nhiên, họ có thể thả lưới thật nhuần nhuyễn mà vẫn trở về tay không, như các môn đệ đã kinh nghiệm sau một đêm dài trên Biển Hồ Tibêria (Ga 21,3).
Nhưng khi nói, “Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người”, Đức Kitô nói như Đấng đã biết từng loài cá, như Đấng tung lưới là Lời của Người trên mọi dân, mọi thời, và mọi nơi. Với tư cách là những kẻ lưới người, chúng ta tham dự, dù giới hạn và bất toàn, vào sự vươn ra của Thiên Chúa mà không biết đến chân trời giới hạn. Điều này có những hàm ý sâu xa đối với cách chúng ta hiểu về nhóm người thứ nhất và thứ ba, là những người chưa nghe Tin Mừng và những người đang rời xa đức tin. Những nhà giảng thuyết dấn thân vào những vùng nước lạ, thả lưới ở những nơi không thấy động tĩnh, vất vả mà chẳng thấy ngay kết quả là những người không làm việc một mình. Họ tham dự vào sáng kiến vô tận và tối thượng của chính Thiên Chúa: “Này, Ta sẽ sai nhiều ngư phủ đến, sấm ngôn của Đức Chúa, và họ sẽ đánh bắt chúng” (Gr 16,16). Missio ad gentes và sứ vụ tìm kiếm những người đang xa rời đức tin là tham dự vào một sứ vụ thần linh không biết mệt mỏi và chẳng bao giờ thất bại.[viii]
“Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá” (Mt 13,47). Truyền thống giáo phụ đọc dụ ngôn này với những ý nghĩa cụ thể. Biển tượng trưng cho thời đại; chiếc lưới, được trao cho ngư phủ, thu về cho Vương quốc vĩnh cửu mọi con người từ vùng nước xao động. Chẳng hạn, thánh Augustinô hiểu 153 con cá được ông Phêrô và các bạn kéo lên là biểu tượng của toàn thể những người được cứu độ, sự viên mãn của muôn dân nước được quy tụ vào lưới Tin Mừng.[ix] Không chiếc lưới thụ tạo nào có thể bắt được mẻ cá như thế; chỉ chiếc lưới của Lời Thiên Chúa, được thả ngang qua toàn bộ lịch sử và mọi dân tộc, mới có thể làm được. Vì thế, ơn gọi của kẻ lưới người hoàn toàn hướng ra và thật khẩn thiết: biển cả bao la, lưới thả phải rộng, và không ai tiên thiên bị loại trừ khỏi tầm với của nó.
Thế nhưng ngày nay, có một sự trì trệ đáng buồn đang lan rộng và tác động đến Hội thánh. Như có người đã tinh ý nhận xét rằng, quá nhiều Kitô hữu không còn là những kẻ lưới người, mà chỉ là những người chăm sóc bể cá!
Vì vậy, đây là những điều chúng ta cần tái khám phá, hoặc tái thẩm định, về ý nghĩa đích thực của việc được sai đi như những kẻ lưới người.[x]
1. Những ngư phủ biết cộng tác
Nghề đánh cá đòi hỏi phải biết cách cộng tác with nhau. Điều này không đơn thuần đến từ việc quan sát thực tế nhưng đã nằm trong chính bản chất của nghề này. Những chiếc lưới lớn cần nhiều người cùng kéo. Một con thuyền cần cả một đội ngũ. Khi bắt được một mẻ cá, mọi người phải cùng kéo, nếu không thành quả sẽ mất. Đánh cá là một nghề mà từ ban đầu đã mang tính hợp tác, sứ vụ tông đồ mà Đức Kitô xây dựng cũng vậy.
Ông Phêrô không ở một mình khi Chúa nói với ông: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Lc 5,4-11). Lệnh truyền được ngỏ với ông Phêrô và các bạn đồng hành. Danh từ “lưới” được nhắc đến ở số nhiều, nghĩa là có nhiều bàn tay chung sức. Và khi bắt được mẻ cá lớn đến nỗi gần như rách cả lưới, nhờ sự trợ giúp nhanh chóng của các bạn đến từ chiếc thuyền khác, mẻ cá ấy mới được đưa vào bờ an toàn. Nếu không có sự cộng tác ấy thì hẳn mẻ cá lạ lùng kia đã bị mất. Như vậy, phép lạ không loại trừ sự cộng tác của người khác, trái lại, sự cộng tác của người khác làm cho phép lạ trở nên cả thể hơn. Ân sủng không làm cho cộng đoàn trở thành tuỳ phụ; trái lại, ân sủng càng làm cho cộng đoàn trở nên cần thiết hơn. Bởi lẽ, Thiên Chúa càng rộng tay ban phát, một đôi tay đơn độc càng không sao đón nhận cho hết.
Chính vì điều này mà đời sống tông đồ, như thánh Đa Minh hiểu, tự nó đã mang tính cộng đoàn. Đời sống chung không biện minh cho sự yếu đuối của con người, nhưng là tham dự vào chính đời sống của Ba Ngôi Chí Thánh, cộng đồng hiệp thông Ngôi Vị. Chúng ta không được sai đi một mình; chúng ta được sai đi như một cộng đoàn, những anh em giảng thuyết, và đời sống chung tự nó đã là một phần của lời loan báo (forma vitae jam est in actu praedicatio) (Công vụ Tổng hội 1974, 253 II, 3). Thế giới không chỉ nghe điều chúng ta giảng mà còn quan sát cách chúng ta sống với nhau. Và khi họ thấy tình bác ái khả tín, tình liên đới rõ ràng, và sự hỗ tương chân thật trong công việc chúng ta làm, họ nhận ra sự hiệp thông mà chính họ cũng đang khao khát.
Không ai một mình chèo ra chỗ nước sâu để thả lưới. Ai cố tình làm như thế sẽ gặp khó khăn và không trụ vững được lâu. Việc tách mình ra đôi khi cho người ta cảm giác tự do hơn, thậm chí là có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, một tông đồ sống cách đơn độc, tách mình ra khỏi đời sống chung, khỏi kinh nguyện cộng đoàn, khỏi việc sửa lỗi và khích lệ huynh đệ, là một tông đồ đi xa khỏi con thuyền. Một khi những tấm lưới bắt đầu nặng lên vì dính cá, đêm lại dài mà xung quanh không có những thuyền khác thì ai sẽ đến giúp. Đó là lý do ngư phủ phải biết cộng tác với nhau.
2. Ngư phủ chèo ra chỗ nước sâu cho mẻ cá lớn
Một ngư phủ mà cứ ở trên bờ, thì dù có bình yên hay ổn định đi chăng nữa, anh ta chưa sống đúng nghề của mình. Anh ta có thể đang làm nhiều thứ cần thiết như vá lưới, sửa chữa ngư cụ, giúp đỡ người khác hay nghỉ ngơi, tuy nhiên, những việc ấy dù có cần thiết chăng nữa, thì sẽ chẳng có cá nếu cứ ở mãi trên bến cảng. Còn nếu có cá ở nơi nào đó, thì sớm hay muộn, ngư phủ phải là người can đảm gióng buồm ra khơi.
Điều này đúng cho chính chúng ta. Chúng ta biết ơn sâu xa những nơi nâng đỡ đời sống và ơn gọi của chúng ta. Các tu viện, giáo xứ, đền thánh và lớp học không phải là những chướng ngại nhưng là ân ban cho sứ vụ của chúng ta. Đó là những nơi đức tin được nuôi dưỡng, chân lý được trao truyền, cộng đoàn được hình thành, và chính chúng ta cũng được củng cố bởi những công việc mà chúng ta được mời gọi thi hành. Tuy nhiên, những nơi này không phải là nơi để thả lưới. Lời mời gọi của Tin Mừng luôn thúc đẩy chúng ta ra xa hơn, vượt khỏi những gì quen thuộc và an toàn. Chính Chúa đã truyền dạy chúng ta: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng” (Mc 16,15).
Một phần của thế giới này đang mở ra cho chúng ta những biên cương không thể nhìn thấy hay chạm tới bằng giác quan. Các không gian kỹ thuật số, nơi nhiều người đang sống, tìm kiếm và trao đổi, theo một nghĩa nào đó, trở thành một lục địa mới, với những bối cảnh riêng, cộng đồng riêng và khao khát riêng. Cũng ở đó, con người đang đặt những câu hỏi sâu xa, mang những gánh nặng thầm kín, tìm kiếm một sự kết nối vượt quá khả năng mà các không gian ấy có thể cung cấp. Nếu chúng ta không ở đó, ai sẽ đồng hành với họ, không phải vì không có người quan tâm, nhưng vì không ai đến đó. Sự hiện diện không đòi chúng ta trở thành một cái gì khác ngoài mình. Chỉ cần chúng ta mang theo cùng một tinh thần mà chúng ta vẫn luôn được mời gọi để sống: sẵn sàng gặp gỡ con người nơi họ hiện diện, lắng nghe với lòng kiên nhẫn, ăn nói cách trong sáng và nhân hậu, và ở lại đủ lâu để được mọi người biết đến.
Đằng sau những điều này còn có một điều gì đó sâu xa hơn, chạm tới chính chiều sâu của đời sống tông đồ. Có một trật tự thầm lặng trong cách Chúa huấn luyện các môn đệ của Người. Trước khi ông Simon Phêrô được trao nhiệm vụ “hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,17), ông được sai đi thả lưới (x. Ga 21,6). Lời mời gọi ra đi có trước lời mời gọi chăm sóc. Sự quy tụ đi trước việc hướng dẫn. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Hội thánh luôn giữ chuyển động lưỡng diện này: đi ra tìm kiếm những người chưa biết Chúa, và chăm sóc những người đã có niềm tin. Cả hai đều cần thiết. Nhưng khi lời mời gọi ra đi bị lãng quên, việc chăm sóc cũng dần bị thu hẹp. Một đoàn chiên, dù được chăm sóc tận tình đến đâu, cũng không thể mãi như thế nếu không đón nhận thêm sự sống mới. Lời mời gọi đi ra không phải là chất thêm một gánh nặng, mà thuộc về bản chất đời sống tông đồ của chúng ta. Điều này đã đúng với các tông đồ. Điều này đã đúng với thánh Đa Minh, người đã không chờ thế giới tìm đến với mình, nhưng đi ra để gặp chính thế giới ấy, trên các nẻo đường, trong chính những câu hỏi của thời đại ngài. Lời mời gọi là hãy bước ra lần nữa với lòng tín thác và đơn sơ, tin chắc rằng Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta, cũng đi trước chúng ta, đã hiện diện trong những vùng nước sâu mà Người sai chúng ta đến.
3. Ngư phủ biết cách không làm cá hoảng sợ
Các ngư phủ, qua thời gian kinh nghiệm, đều học được rằng không phải mọi loài cá đều có thể tiếp cận theo cùng một cách. Một ngư phủ lành nghề không dựa vào một phương pháp duy nhất cho mọi vùng nước hay mọi mùa đánh bắt. Họ biết quan sát, biết học hỏi, biết thích nghi, không phải vì thiếu xác tín nhưng vì họ thật sự quan tâm tới điều mình tìm kiếm. Sứ vụ được trao phó cho chúng ta cũng vậy. Có những người được lôi cuốn qua cách tiếp cận từ từ, kiên nhẫn và đồng hành âm thầm. Có những người lại cần được đón nhận và nuôi dưỡng trước khi họ sẵn sàng tin theo. Cũng có những người chỉ có thể chạm tới khi tấm lưới được thả rộng hơn, vây lấy họ trước cả khi họ biết mình đang được tìm kiếm. Tin Mừng không thay đổi; Tin Mừng luôn là một, luôn chân thật, nhưng cách chúng ta trao tặng Tin Mừng, cách chúng ta tiếp cận người khác, và sự cẩn trọng trong lời nói của chúng ta phải được định hình bởi tình yêu và sự tận tâm.
Điều này mời gọi chúng ta, nhẹ nhàng nhưng chân thật, hãy biết nhìn lại chính mình, không phải để nghiêm khắc với mình nhưng là khiêm tốn mở lòng mình trước Thiên Chúa. Chúng ta có thể hỏi một cách đơn giản: Liệu điều tôi nói và cách tôi sống có giúp người khác lại gần hơn hay đôi khi, dù không cố ý, lại làm cho bước chân của họ trở nên khó khăn hơn?
Chúng ta biết rằng không phải ai rồi cũng sẽ đón nhận Tin Mừng. Lời Đức Kitô vẫn luôn là có vấp phạm đối với một số người, và chúng ta không được kêu gọi làm cho chân lý mềm hơn để nhiều người dễ chấp nhận hơn. Nhưng điều chúng ta phải tự hỏi, đó là cách chúng ta rao giảng có phản ánh sự kiên nhẫn và lòng thương xót của Đấng chúng ta công bố hay không? Không phải lúc nào sứ điệp cũng tạo ra khoảng cách, có khi là do giọng điệu, một giọng điệu phán xét hơn là lời mời gọi; đôi khi đó là do thiếu niềm vui hữu hình, hoặc do điều chúng ta giảng và cách chúng ta sống có khoảng cách khiến cho thế giới, dù đã mất rất nhiều thứ, những vẫn còn đôi mắt đủ tinh tế để nhận ra. Và đôi khi, điều cần thiết lúc đầu không phải là việc sửa lỗi nhưng là đón tiếp; không phải là tính trầm trọng của giáo thuyết, nhưng là một ngôn ngữ đơn sơ và ấm áp đủ cho những người vẫn đang tìm kiếm thấy rõ đường đi.
Lưới cần phải được thả xuống. Thế giới thì rộng, và nhiều người đang tìm kiếm, có lẽ nhiều hơn chúng ta tưởng, và họ tìm kiếm ở những nơi chúng ta chưa từng nghĩ đến. Nhưng lưới phải được thả với sự cẩn trọng, chú tâm đến thời điểm, đến những con người, và với những động lực âm thầm của ân sủng.
Thánh Grêgôriô Cả đã biết rõ điều này. Nhà giảng thuyết cần phải hiểu được người nghe mình. Ngài viết: “Một lời khuyên thì không phù hợp với mọi người, vì không phải mọi người đều có chung một tính khí. Có những điều tốt cho người này nhưng lại không tốt cho người khác; cũng như một số cây cỏ nuôi sống loài vật này nhưng lại gây hại cho loài vật khác, và loại thuốc chữa lành bệnh này lại có thể làm nặng thêm bệnh khác. Vì vậy, lời của các nhà giảng thuyết phải được điều chỉnh theo đặc tính của người nghe, để có thể phù hợp với mọi người và từng người tùy theo bối cảnh riêng của họ, đang khi vẫn không bao giờ lệch ra khỏi nghệ thuật xây dựng thiện ích chung.”[xi]
Sau khi phục sinh, Chúa không bảo các môn đệ đi đánh cá tích cực hơn. Người mời họ tin tưởng Người theo một cách khác, đó là thả lưới ở phía bên phải mạn thuyền (x. Ga 21,6). Đó là chuyện thường, không có gì to tát. Tuy nhiên, khi các ông vâng lời, các ông có được điều mà mọi nỗ lực trước đó chẳng mang lại gì. Có lẽ đây cũng là sứ điệp cho mỗi chúng ta. Chúng ta không từ bỏ sứ vụ, nhưng canh tân lòng tín thác vào Đấng dẫn dắt sứ vụ ấy. Không phải là làm nhiều hơn, nhưng biết lắng nghe sâu xa hơn. Bởi không phải cứ nỗ lực nhiều là có thể sinh nhiều hoa trái, nhưng là sự khiêm tốn âm thầm bước theo hướng dẫn của Chúa, ngay cả khi Người đưa chúng ta đi thả lưới ở những vùng khác với trước đây.
4. Ngư phủ kéo lên đủ loại cá mà không phân biệt
Lưới Nước Trời quy tụ được mọi loài. Đánh cá không phải là việc giải trí, nhưng là hành động của lòng thương xót thực thụ, để bắt cả người tội lỗi, người nghi nan, người chống đối, và cả những người tưởng mình nằm ở vùng ngoại biên, hầu đưa họ đến với Đức Kitô mà không tiên thiên kết án chính điều mà ân sủng có thể đang hoạt động nơi họ. Chúng ta không phải là thẩm phán để xét xem ai là người được cứu. Việc phân loại không thuộc về chúng ta; nó thuộc về thời cánh chung (Mt 13,47-49). Việc của chúng ta chỉ đơn giản là thả lưới và tung lưới thật rộng.
Chính trương độ của lưới là dấu chỉ cho lòng quảng đại của Thiên Chúa, bởi vì “Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Trong việc giảng thuyết cũng vậy: chúng ta trao gửi Lời tới mọi người, còn việc đáp trả ân sủng và phán xét thì dành cho Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquinô nhắc rằng, “Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ theo ý muốn tiền định của Người,”[xii] đó là một ước muốn thần linh, có trước mọi sự, rằng ai nấy sẽ cập bến an toàn.
Suy niệm về dụ ngôn lúa và cỏ lùng, chúng ta cũng có chung một cái nhìn áp dụng vào dụ ngôn chiếc lưới. Thánh Augustinô viết: “Thợ gặt sẽ đến, nhưng thợ gặt là các thiên thần, không phải loài người; và những ai nổi giận chống lại kẻ dữ chỉ chứng tỏ rằng họ vẫn là con người, vẫn có thể sai lầm, vẫn có nguy cơ nhổ cả lúa khi chỉ muốn nhổ cỏ lùng.”[xiii] Việc gặt hái và phân loại chưa hoàn tất. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, rằng người xấu chưa bị cố định trong sự xấu của họ: “hãy để người xấu được biến đổi và hãy để họ bắt chước người tốt” (mali mutentur, et imitentur bonos). Niềm hy vọng mà thánh Augustinô nêu lên không phải là ước muốn đạo đức mơ hồ, nhưng như một khả thể thật sự, được mở ra bởi chính sự kiên nhẫn đôi khi khiến chúng ta bực bội. Ngư phủ biết rằng cá xấu sẽ không trở thành cá tốt, nên họ ném chúng đi. Nhưng kẻ lưới người biết điều khác: người xấu có thể trở nên tốt. Từ một kẻ bách hại, Saolô đã trở thành tông đồ Phaolô, và sự biến đổi ấy là bằng chứng cho thấy không ai nằm ngoài tầm với của ân sủng trước khi cuộc phân loại cuối cùng diễn ra.
5. Ngư phủ phải biết đức kiên nhẫn
Ngư phủ không thể ép cá cắn câu hay lùa cá vào lưới; chúng ta cũng không thể ép ân sủng vào tâm hồn nhân loại. Ông Phêrô, ông Gioan và các bạn đã không bắt được gì suốt đêm. Nhưng khi các ông lắng nghe chỉ dẫn của Đức Giêsu và hành động theo lời Người, các ông kéo lên một mẻ cá vượt quá sức tưởng tượng của mình. Để là những kẻ lưới người, chúng ta phải là những người có đời sống cầu nguyện và chiêm niệm sâu xa, biết chú tâm đến Lời Đức Giêsu và sẵn sàng thả lưới bên phải mạn thuyền khi Người ra lệnh (Lc 5,4-11; Ga 21,6). Chúng ta cũng cần có kiên nhẫn để tin rằng ân sủng Thiên Chúa đang hoạt động theo những cách mà chúng ta không thể thấy hay đo lường. Một đêm dài như qua đi trong thất bại vẫn không lãng phí trong tay Chúa và trong sự quan phòng đầy yêu thương của Người. Thậm chí ngay cả những đợi chờ tưởng chừng trống rỗng cũng đang đào luyện chúng ta cho điều sắp đến.
6. Ngư phủ vá lưới của mình
Ngư phủ biết rằng có lúc thả lưới và có lúc vá lưới. Tin Mừng cho biết ông Giacôbê và ông Gioan đang vá lưới khi Đức Giêsu gọi các ông (Mt 4,21). Ngay trong công việc âm thầm và kín đáo ấy, Chúa đã lôi kéo các ông vào sứ vụ của Người. Và điều này cũng đúng với chúng ta là những người con của thánh Đa Minh. Vá lưới không chỉ là sửa chữa điều bị rách. Đó là chuyên tâm cách kiên nhẫn và chân thật, đến mọi điều đã sờn rách nơi chúng ta: củng cố điều đã phai nhạt, quy tụ điều đã rời xa, và canh tân những gì mỏi mệt. Vì Chúa không sai chúng ta đi vô tội vạ. Khi Người gọi chúng ta thả lưới một lần nữa vào chỗ nước sâu – duc in altum – Người muốn những chiếc lưới chúng ta mang phải tương xứng với sự phong phú của ân sủng Người.
Biển trước mặt chúng ta không phải là hồ nước tĩnh lặng. Biển của thời đại này đầy xao động: bị thế tục hóa nhưng vẫn đang kiếm tìm, bị chia rẽ và thương tổn nhưng vẫn khắc khoải hòa hợp và hiệp thông. Đó là chỗ nước sâu. Và để thả lưới nơi đó, người ta không chỉ cần được đào tạo hay có kinh nghiệm mà còn phải có can đảm: Can đảm rời khỏi bờ bến an toàn; can đảm buông điều mình đang nắm giữ trong tay; can đảm tin rằng lời đã nói với ông Simon Phêrô vẫn còn được nói với chính mình: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu (Lc 5,4). Lời Chúa không chỉ là một ký ức; đó là một lời hiệu triệu.
Vì thế, chúng ta phải chân thành và không né tránh tự vấn: lưới của chúng ta đang ở đâu? Chúng đã được tung ra trên mặt biển, và được thả ra trong tín thác chưa? Hay chúng vẫn còn được gấp lại, được giữ gìn cẩn thận, nằm yên trên bờ? Và nếu chúng vẫn còn trên bờ, thì điều gì đã giữ chúng lại? Sự mỏi mệt chăng? Hay sợ hãi? Sự chán nản? Hay sự thất vọng chậm rãi và âm thầm?
Chúa vẫn đang mời gọi. Biển sâu vẫn đang chờ. Và chiếc lưới, dù sờn rách, vẫn có thể vá lại. Điểm mấu chốt đơn giản là: Hãy đứng dậy, cầm lưới trong tay, và một lần nữa đủ tin tưởng vào Người để tung lưới.
Người anh em của chúng ta, thánh Tôma Aquinô, dựa theo đan sĩ Rêmigiô thành Auxerre, đã diễn tả rất đẹp ý nghĩa của việc trở thành kẻ lưới người: “Nhờ chiếc lưới của lời giảng thánh thiện, các ngài kéo cá, nghĩa là con người, từ đáy biển, nghĩa là từ sự vô tín vào ánh sáng đức tin. Quả thật, việc này rất kỳ diệu! Vì cá, khi bị bắt, chẳng bao lâu sẽ chết; nhưng con người, khi được bắt bởi lời giảng, thì được làm cho sống dồi dào hơn.”[xiv]
“Mục tử của đoàn chiên” (ποιμαίνειν τὸ ποίμνιον) – Ga 21,16-17 và 1 Pr 5,2
Trình thuật của Tin Mừng Gioan chứa đựng một vẻ đẹp âm thầm nhưng lại lung linh rạng ngời: Chính đôi tay vừa kéo mẻ lưới vào bờ theo lệnh truyền của Chúa, thì chỉ ít phút sau lại được trao phó nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên của Người (Ga 21). Đức Giêsu không tách hai hình ảnh ấy ra; Người dệt chúng lại với nhau nơi cùng một vị tông đồ,[xv] như thể muốn nói rằng người ra đi tìm kiếm và người ở lại chăm sóc, xét cho cùng, được thúc đẩy bởi cùng một tình yêu. Ngư phủ và mục tử không phải là hai ơn gọi, nhưng là một: một trái tim duy nhất, hoàn toàn hướng về người lạc mất và người đã được tìm thấy, những người ở xa và những người ở gần, những chỗ nước sâu và đồng cỏ thanh bình. Trước viễn tượng ấy, chúng ta hãy hướng về hình ảnh thứ hai, hình ảnh người mục tử, đồng thời, chúng ta cũng tự hỏi hình ảnh ấy đòi hỏi chúng ta điều gì trong sứ mạng phục vụ những người đã được quy tụ, những người đã được tìm thấy và được yêu thương.
Khi Đức Kitô Phục Sinh nói với ông Simon Phêrô: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,17), Người nói trong tư cách là vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng biết từng con chiên, Đấng hy sinh mạng sống vì đàn chiên, Đấng bỏ lại chín mươi chín con để đi tìm con bị lạc (Ga 10,3; Lc 15,4). Với vai trò là người hướng dẫn đoàn chiên Chúa trao, chúng ta tham dự, dù cách bất toàn và không trọn vẹn, vào sứ mạng thần linh, đó là chăm sóc mà không ngái ngủ hay mệt mỏi. Đoàn chiên không phải của chúng ta nhưng là của Chúa. Chúng ta chăm sóc điều thuộc về Thiên Chúa và nhân danh Người.
Điều này có những ngụ ý sâu xa về cách chúng ta hiểu về nhóm người thứ hai: Đó là những người đã nghe Tin Mừng và đã nhận lãnh đức tin, nhưng nay cần được nuôi dưỡng, bảo vệ và đồng hành để tiếp tục tiến bước trong đức tin và dấn thân sâu xa hơn, hầu chính họ cũng có thể tham dự vào sứ vụ ấy.[xvi] Khi những nhà giảng thuyết ở lại with đoàn chiên, biết từng con chiên của mình, đồng hành với họ qua những nghi nan, khó khăn và mất mát, là họ đang tham dự vào sáng kiến dịu dàng và vô tận của Thiên Chúa, Đấng đã nói: “Chính Ta sẽ quy tụ đoàn chiên Ta còn sót lại từ khắp mọi miền Ta đã xua chúng đến. Ta sẽ đưa chúng về đồng cỏ của chúng” (Gr 23,3).
Chúng ta vui mừng trước sự gia tăng con số người trưởng thành lãnh phép rửa tại nhiều nơi trên thế giới, vì mỗi cuộc hoán cải là dấu chỉ hoa trái của Thánh Thần và là sự canh tân niềm hy vọng trong sứ vụ tông đồ của Hội thánh. Tuy nhiên, bí tích Thánh tẩy không phải là điểm đến, nhưng là ngưỡng cửa; và trách nhiệm của mục tử không dừng lại ở giếng rửa tội, bởi vì theo truyền thống nhiệm huấn của Hội thánh, những người tân tòng phải được tiếp tục hướng dẫn để đi sâu hơn vào tiến trình huyền nhiệm vốn là điều họ đã bước vào và với đức tin họ đã tuyên xưng. Nếu thiếu sự kiên nhẫn, thiếu sự đồng hành huấn giáo, cầu nguyện và đời sống thiêng liêng, thì điều vốn đã được gieo nhờ nước rửa tội, sẽ có nguy cơ rơi vào chỗ đất khô cằn, và điều đã được lãnh nhận như ân huệ thì cũng có thể âm thầm héo tàn trước khi trổ sinh hoa trái (x. Mt 13,5-6).
Vị Mục Tử Nhân Lành là người đã “bỏ lại chín mươi chín con để đi tìm con chiên lạc”. Thế nhưng trong thời đại của chúng ta, điều ngược lại dường như đang xảy ra ở một số nơi trên thế giới khi mà chỉ còn ít con chiên ở lại trong đàn, còn “chín mươi chín con khác đã bỏ không đến nhà thờ nữa! Điều này hàm ý nhắm đến nhóm thứ ba, đó là những con chiên không bị đánh dạt bởi bách hại hay do một cơn thảm họa nào, nhưng là những con chiên đã âm thầm và từ từ rời bỏ vì những thiếu sót trong việc đồng hành, vì sự nghèo nàn trong cách mục vụ, và vì khoảng cách giữa điều Hội thánh công bố với sự thật về đời sống của những người trong Hội thánh. Những con chiên này không bị đánh cắp, nhưng trong nhiều trường hợp, chúng chỉ đơn giản là bị đánh dạt ra xa. Có lẽ một số anh chị em đã đến nhà chúng ta và gõ cửa nhưng không được đón tiếp; hoặc những người mang đến với những vấn nạn hóc búa nhưng thay vì đối thoại thì chúng ta lại gạt bỏ. Chúng ta cần trao cho dân Chúa sự chăm sóc của người mục tử (1 Pr 5,2-4), vì đó là điều mà họ xứng đáng được nhận để củng cố đức tin.
Sau đây là một vài điều chúng ta cần ghi nhớ về nghệ thuật mục vụ, để chu toàn sứ vụ giảng thuyết vì ơn cứu độ các linh hồn.
1. Domini Canes: những chú chó chăn chiên của vị Mục Tử Nhân Lành
Domini canes – những chú chó của Chúa là danh hiệu mang tính chơi chữ có từ thời trung cổ để nói về anh em Đa Minh. Danh hiệu này không chỉ là một kiểu chơi chữ khéo léo nhưng còn gợi lên một hình ảnh mang tính thần học đáng để suy nghĩ, nhất là khi nói đến các tác vụ nào liên hệ tới mục vụ hay coi xứ. Trong hình dung của người thời cổ và trung đại, chó săn gồm hai loại: chó canh gác và chó chăn chiên. Cả hai đều có chung những khả năng như: cảnh giác cao, trung thành, bền bỉ và luôn nghe theo tiếng của người mục tử để canh giữ đàn chiên. Chúng không sở hữu chiên, cũng không dẫn đoàn chiên nhân danh mình. Chúng có nhiệm vụ duy nhất: giữ cho chiên luôn ở gần người mục tử, cảnh báo khi nguy hiểm xuất hiện, đuổi theo và xua những con đi lạc về đàn, tất cả đều bằng một cách thức riêng biệt của chúng là tiếng “sủa”.
Một trong những người đưa ra ẩn dụ sớm nhất liên hệ giữa các chú chó và anh em Đa Minh là thánh Albertô Cả. Khi suy niệm về dụ ngôn người phú hộ và anh Ladarô, ngài trích dẫn: “ngay cả những con chó cũng đến liếm các vết thương của anh” (Lc 16,21) và nhận định, vào thời của ngài, hình ảnh này đã ứng nghiệm: “Những chú chó chăn chiên là các anh em của Dòng Giảng thuyết (Ordines praedicantium): Các anh em không ở lại trong nhà nhưng đi ra ngoài để đến với người nghèo, chăm sóc các vết thương là tội lỗi của họ, cùng với tiếng sủa là lời giảng (latratum praedicationis).”[xvii]
Thánh Albertô phê bình gay gắt những giáo sĩ đã không thi hành bổn phận giảng thuyết, vì họ giống với những người mà Isaia gọi là “những người lính canh mù lòa, những con chó câm, không biết sủa” (Is 56,10-11). Ngược lại với hình ảnh này, ngài đưa ra hình ảnh một nhà giảng thuyết chân chính: Những con chó tốt “mang nơi hàm răng sức cắn của sự sửa dạy và cảnh tỉnh, như lời thư thánh Phaolô gửi ông Timôthê: ‘hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và tâm tâm dạy dỗ’ (2 Tm 4,2); đồng thời mang trên đầu lưỡi phương dược chữa lành: ‘Lưỡi người khôn ngoan đem lại sự chữa lành’ (Cn 12,18).” Một nhà giảng thuyết thực sự phải nên giống như một chú chó năng động: Ân sủng giảng thuyết diễn tả qua tiếng sủa, năng lực sửa dạy qua vết cắn và lời khuyên nhủ đem lại sự chữa lành nơi miệng lưỡi.
Điều chính yếu là những chú chó chăn chiên cựu không làm việc một mình.[xviii] Bất cứ ai đã từng thấy chúng hoạt động trên sườn đồi đều biết rằng hiệu quả của chúng nằm ở sự phối hợp: con này chạy rộng ra để gom những con chiên lạc, con kia canh giữ bên mạn sườn, con khác ở cuối thúc cả đàn chiên tiến lên, tất cả đều chăm chú lắng nghe cùng một tiếng gọi của chủ và cùng quy về một điểm đến. Không một con chó nào nhìn thấy toàn bộ địa hình, cũng không con nào có thể ở khắp nơi cùng lúc. Chính vì chúng làm việc chung dưới sự hướng dẫn của người mục tử mà có sự khác biệt giữa một đoàn chiên được quy tụ và một đoàn chiên tan tác. Đây là hình ảnh rõ nhất soi rọi cho sứ vụ Đa Minh: không phải một người anh em nào đó gánh toàn bộ trách nhiệm một mình, nhưng là một cộng đoàn gồm những anh em cùng thi hành trên cánh đồng sứ vụ, mỗi người cống hiến ân huệ riêng của mình, mỗi người đều đáp lời cùng một Thiên Chúa, và cùng nhau thực hiện điều không ai có thể hoàn thành một mình.
Hình ảnh này đương nhiên mở rộng đến toàn bộ ơn gọi Đa Minh. Chúng ta không chăn dắt đoàn chiên nhân danh chính mình. Chỉ có Đức Kitô mới là vị Mục Tử đích thực (Ga 10,11); chúng ta chỉ thuần túy là những chú chó của Người: được huấn luyện, được sai đi và được cắt đặt cho sứ mạng phục vụ, hoàn toàn quy hướng về Người và chăm sóc những ai thuộc về Người. Khí cụ thích hợp cho sứ vụ này là Lời, với biểu tượng là “tiếng sủa”, nghĩa là lời cảnh báo, lời mời gọi và quy tụ. Đối với người Đa Minh, giảng thuyết không phải là để diễn tả chính mình nhưng là để làm chứng: đó chính là tiếng kêu của người đã nhận ra mối nguy hiểm và từ chối sự im lặng đồng lõa.
Đồng thời, hình ảnh ấy cũng diễn tả một sự khiêm tốn cần thiết. Chó chăn chiên không phải là mục tử. Tự nó không có quyền, không có đàn chiên riêng, không có sứ vụ riêng. Hiệu quả công việc của nó hoàn toàn tùy thuộc mức độ nó nghe và trung thành đi theo người mục tử. Ở đây một lần nữa, chiều kích cộng đoàn rất quan trọng: nếu một chú chó chăn chiên bắt đầu hành động theo ý riêng, phớt lờ tiếng gọi của chủ, nó không chỉ sai lối mà còn làm rối loạn phân vụ của những con khác, phân tán điều chúng đang cố quy tụ. Cũng vậy, người Đa Minh theo đuổi viễn tưởng mục vụ riêng của mình tách khỏi cộng đoàn, dù có tài năng đến đâu, họ cũng gặp nguy cơ bị phân rễ hơn là phục vụ. Việc phân đoán trong cộng đoàn không giảm thiểu hiệu quả tông đồ nhưng là một trong những điều kiện thiết yếu để đạt được hiệu quả ấy.
Thánh Grêgôriô Cả cảnh báo rằng khi một mục tử im lặng vì sợ làm phật lòng người khác, họ để cho “dịch bệnh câm” lớn lên bên trong.[xix] Chó làm nhiệm vụ canh phòng mà không lên tiếng sủa khi sói đến gần thì đã thất bại trong chính mục đích được giao. Sự im lặng của nó không phải là khôn ngoan, nhưng là lơ là. Đối với nhà giảng thuyết Đa Minh, chiều kích ngôn sứ của việc giảng thuyết – việc sẵn sàng chất vấn, sửa dạy và vạch tên những gì kéo đoàn chiên xa Đức Kitô – không chỉ dành cho những thời khắc phi thường. Nó là những công việc thông thường của sứ vụ. Khi anh em giảng dạy từ chính đời sống chung của cầu nguyện và học hành, sự can đảm ấy vừa được nâng đỡ vừa được thanh luyện: người anh em còn đang do dự sẽ được cộng đoàn khích lệ để lên tiếng, người anh em bị cám dỗ im lặng để được yên thân sẽ bị chất vấn bởi gương sáng của những anh em trung thành với sự cấp bách của Lời Chúa.
2. Anh em cùng nhau thi hành sứ vụ mục tử
Vâng, chúng ta là Domini canes, những chú chó của Chúa; nhưng chúng ta cũng là những người được trao phó tác vụ của người mục tử, dẫu đó chỉ là một tác vụ phái sinh, để đáp lại lệnh truyền của Đức Kitô đã ngỏ với ông Phêrô, vốn cũng được mở rộng cho chúng ta, cho từng người chúng ta, khi Người hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?”
Một băn khoăn đôi khi được nêu lên trong các cuộc kinh lý là mục vụ giáo xứ không phù hợp với anh em Đa Minh, rằng mục vụ ấy khó hài hòa với nếp sống tu viện và đời sống chung. Tuy nhiên, mối quan ngại này không phải là trọng tâm của vấn đề. Khó khăn không ở chỗ anh em Đa Minh phục vụ tại các giáo xứ. Hiến pháp của chúng ta có nói cách trực tiếp và rõ ràng về việc mục vụ giáo xứ, và SHC 128 § I minh nhiên trao cho các bề trên trách nhiệm bảo đảm rằng anh em biết hội nhập cách hài hòa mục vụ giáo xứ với đời sống tu viện. Khó khăn chỉ nảy sinh khi chúng ta bắt đầu phục vụ giáo xứ như thể chúng ta là giáo sĩ triều, chứ không phải như những anh em Đa Minh.
Một giáo xứ do anh em Đa Minh coi sóc không phải là lãnh thổ để một anh em quản lý đơn độc, nhưng là một đoàn chiên nhỏ được Chúa trao phó cho một cộng đoàn gồm những tá điền tỉnh thức, làm việc trong hòa hợp, biết hướng về vị Mục Tử duy nhất, và giữ đoàn chiên luôn ở gần Người qua “tiếng sủa” là việc rao giảng Lời không mệt mỏi, kiên nhẫn và can đảm. Chúng ta phải hiểu sói dữ là có thật, cánh đồng thì mênh mông, và tiếng gọi của Chủ thì không chỉ dành riêng cho một người. Tiếng gọi ấy quy tụ nhiều người và được sai đi cùng nhau như chính Chúa đã sai các môn đệ của Người (x. Lc 10,1), nhờ đó, sứ vụ quy tụ không bao giờ được gánh vác cách đơn độc, nhưng luôn trong hiệp thông nối kết.
Dù là một anh em của chúng ta được bổ nhiệm làm cha sở (parochus), thì để mục vụ giáo xứ thực sự mang tính Đa Minh, mục vụ ấy phải được chia sẻ với các anh em khác hoặc với chính cộng đoàn. Có lẽ điều này còn được diễn tả rõ hơn khi giáo xứ được ủy thác cách liên đới (in solidum) cho một nhóm các linh mục, với điều kiện là một người trong số họ làm điều phối viên (x. Giáo luật, Điều 517 § 1). Dù hình thức nào được chọn đi nữa, cộng đoàn huynh đệ cũng chia sẻ trách nhiệm, cùng nhau lượng định sứ vụ mục vụ và kín múc từ đời sống chung của mình dưỡng chất cần thiết cho sứ vụ giảng thuyết và chăm sóc các linh hồn. Sự dấn thân chung này là một phần của linh đạo Đa Minh đích thực, điều cũng nên được chia sẻ với chính giáo dân trong giáo xứ (chẳng hạn qua Hội đồng Mục vụ Giáo xứ), để toàn thể cộng đoàn giáo dân, cùng với cộng đoàn của anh em, góp phần mình vào hoạt động tông đồ của giáo xứ. Nếu đời sống cộng đoàn Đa Minh của chúng ta suy yếu, nếu việc quản trị lấn át đời sống chung, nếu những hoạt động liên tục lấn át việc cầu nguyện và học hành, và nếu mỗi anh em chỉ tạm trú trong tu viện và thi hành thừa tác vụ một mình, thì giáo xứ không chỉ kém mục vụ hơn mà còn trở nên kém Đa Minh hơn.
Vậy vấn đề chính không phải là liệu anh em Đa Minh có nên phục vụ giáo xứ không, nhưng câu hỏi luôn luôn là, liệu chúng ta có phục vụ giáo xứ như những người Đa Minh hay không?
… và cùng thi hành sứ vụ mục tử với các chị em
Một số nữ tu và thành viên huynh đoàn giáo dân Đa Minh cộng tác với các anh em trong nhiều lĩnh vực tác vụ mục vụ khác nhau. Chính Kinh Thánh cũng cho chúng ta những mẫu gương về các phụ nữ góp phần trong việc chăm sóc đoàn chiên.
Trong sách Sáng Thế (29,9), cô Ra-khên đến bờ giếng không phải như một người thay thế tạm thời, nhưng như người đã thực sự được trao phó trách nhiệm: chăm sóc đàn chiên của cha mình. Tương tự như vậy trong sách Xuất Hành (2,16), Cô Xíp-pô-ra và các chị em của mình đã làm một công việc xem ra rất khiêm tốn: múc nước đầy máng cho đàn chiên uống. Thế nhưng công việc âm thầm và dễ bị bỏ qua này thật ra là điều thiết yếu; vì không có điều ấy, đàn chiên không thể sống sót, dù người mục tư có khả năng đến đâu.
Những nhân vật trong Kinh Thánh ấy soi sáng một sự thật mục vụ rộng hơn: sứ vụ mục tử không thể bị giới hạn vào lời công bố hay việc quản trị mà thôi. Nó được nâng đỡ bởi cả một mạng lưới của sự tận tâm, lòng trung tín và yêu thương – những việc chăm sóc mục vụ đôi khi âm thầm không ai thấy, nhưng tuyệt đối không thể thiếu.
Thánh Catarina Siêna hiểu việc lãnh đạo không gì khác hơn là một sứ vụ mục tử. Trong lá thư gửi cho một viện mẫu, thánh nữ viết với giọng văn thẳng thắn và dịu dàng đặc trưng của mình:
“Còn bà, thưa viện mẫu, hãy là một người mẹ và một mục tử hy sinh mạng sống vì các con của mình nếu cần. Hãy kéo họ ra khỏi đời sống cô độc và những chuyện trò vô bổ; vì điều đó giết chết linh hồn họ và phá hủy sự trọn lành. Trong khi gặp gỡ họ, hãy trở nên một mẫu gương nhân đức, hãy để nhân đức khuyên lớn hơn là lời nói. Hãy dìm mình trong máu Đức Kitô chịu đóng đinh. Hãy ở lại trong tình yêu thánh thiện và dịu ngọt của Thiên Chúa. Giêsu dịu ngọt, Giêsu tình yêu.”[xx]
Đối với thánh Catarina, sứ vụ mục tử không bao giờ có thể bị giản lược vào việc quản trị hay quyền bính thuần túy. Điều đó có nghĩa là đi sâu vào đời sống của các chị em, mang lấy sức nặng của đời sống cộng đoàn, và trên hết, luôn bén rễ trong mầu nhiệm Đức Kitô chịu đóng đinh. Hình ảnh chiếc gương rất gây ấn tượng: đời sống của bề trên tự nó trở thành hình thức giảng thuyết đầu tiên và thuyết phục nhất. Trước khi một lời sửa dạy hay khích lệ nào được thốt ra, cách sống của vị ấy hoặc là phản chiếu hoặc là che khuất dung mạo Đức Kitô.
Thánh Catarina nhấn mạnh rằng “nhân đức có sức khuyên răn mạnh hơn ngàn lời nói.” Nói cách khác, tính khả tín của việc quản trị tùy thuộc vào đời sống thánh thiện hơn là vào việc áp đặt quyền bính. Người mục tử dẫn dắt không chỉ bằng giáo huấn, nhưng bằng việc trở thành một chứng nhân sống động cho tình yêu mà mình công bố.
3. Sự thánh thiện không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang tính mục vụ
“‘Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?’ Ông đáp: ‘Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.’ Đức Giêsu nói với ông: ‘Hãy chăn dắt chiên của Thầy’” (ποιμαινε τὰ πρόβατά μου). Lệnh truyền chăn dắt chiên được đặt trước bởi câu hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” Thứ tự này không thể đảo ngược: tình yêu dành cho Đức Kitô là điều kiện tiên quyết của việc mục vụ hiệu quả, chứ không phải là hệ quả. Một thừa tác vụ đánh mất điểm chính yếu này vẫn có thể tiếp tục vận hành về mặt cơ chế, nhưng theo nghĩa sâu xa nhất, nó trở nên rỗng tuếch. Công việc mục vụ không thể tách khỏi đời sống nội tâm của người mục tử.
“Chiên của tôi thì nghe tiếng Tôi; Tôi biết chúng, và chúng theo Tôi” (Ga 10,27). Chiên nhận ra tiếng người mục tử ấy là vì chúng đã học cách nghe tiếng của chủ. Qua những lần gặp gỡ và lắng nghe, tiếng của Đức Kitô dần trở nên quen thuộc hơn những tiếng khác. Thánh Grêgôriô Cả nhấn mạnh: “Trước hết, người mục tử phải tỉnh thức để không quên sót đời sống nội tâm khi thi hành bổn phận mục vụ.”[xxi] Mục tử là người dẫn người khác tới chính nơi mình đã từng đi qua, và thông truyền chính điều mình đã lãnh nhận. Người anh em của chúng ta, thánh Batôlômêô Các Vị Tử Đạo, được tuyên thánh năm 2019, cũng nêu lên quan điểm tương tự: Người mục tử bỏ bê đời sống thiêng liêng của chính mình đang khi chăm sóc tha nhân thì khác chi người thầy thuốc kê những phương thuốc mà bản thân người ấy từ chối dùng. Toa thuốc ấy có thể đúng, nhưng uy tín của người kê đơn chỉ là hư danh.[xxii] Một người có thể nói những điều đúng đắn và tuân giữ các quy tắc chuẩn mực, nhưng bên trong vẫn thiếu sự thánh thiện cá nhân. Mâu thuẫn này không phải lúc nào người nghe cũng nhận ra ngay lập tức, nhưng họ có thể cảm nhận được: qua lời giảng không có hồn, qua sự thiếu vắng lòng trắc ẩn, và qua khuynh hướng quy ngã tinh vi len lỏi vào một thừa tác vụ đã xa rời sự hoán cải cá nhân.
Rao giảng Đức Giêsu chính là để cho vị Mục Tử Nhân Lành mượn tiếng nói của chúng ta giữa một thế giới đang dần mất đi khả năng lắng nghe Người; và đó là yếu tố cấu thành nên ơn gọi Đa Minh. Thế nhưng, tiếng nói ấy có đang được nghe thấy một cách rõ ràng trong thế giới của chúng ta ngày nay không? Chúng ta đang sống trong một thời đại ngập tràn tiếng ồn, một sự hỗn âm của những tiếng nói đang tranh giành lẫn nhau, mà mỗi tiếng nói đều đòi hỏi sự chú ý, và mỗi tiếng nói đều tự cho mình quyền định nghĩa ý nghĩa của cuộc sống con người. Trong khung cảnh ấy, tiếng nói của vị Mục Tử Nhân Lành cần được vang lên bởi chính những người đã nghe thấy tiếng nói ấy, những người đang cưu mang tiếng nói ấy trong lòng, và sẵn sàng mang tiếng nói ấy vào trong một thế giới, dẫu nhiều khi không ý thức, đang căng tai ra để nghe.
Thế giới của chúng ta đang cần những mục tử đã lắng nghe tiếng của vị Mục Tử Nhân Lành một cách sâu đậm và liên lỉ, đến nỗi, theo một nghĩa nào đó, tiếng nói ấy đã trở thành tiếng nói của chính họ. Nhờ đó, họ có thể cất lên tiếng nói ấy giữa sự náo động của thời đại này với uy quyền của những người biết rõ từ tận thâm tâm tiếng nói ấy là của ai và đang nói điều gì. Đây chính là gia sản mà thánh Đa Minh để lại cho chúng ta: người vốn chỉ nói với Thiên Chúa trong cầu nguyện và nói về Thiên Chúa trong giảng thuyết.
4. Giảng thuyết là hành vi sinh hạ cốt yếu của người mục tử
Trong tác phẩm Stimulus Pastorum, thánh Batôlômêô Các Vị Tử Đạo đưa ra một hình ảnh rất ấn tượng: “Những người mẹ thiêng liêng, tức là các mục tử thánh thiện, có hai cách thức sinh hạ, để qua đó sinh ra hai loại hoa trái khác nhau: qua việc rao giảng, họ sinh hạ các linh hồn; và qua việc suy niệm, họ sinh ra những hiểu biết thiêng liêng.”[xxiii]
Cách mà thánh Batôlômêô chọn hình ảnh này tự nó là một thách thức. Ngài không sử dụng những hình ảnh quen thuộc về quyền bính mục vụ như người cai quản, thẩm phán hay thầy thuốc, nhưng lại chọn hình ảnh người mẹ. Theo ngài, vị mục tử thánh thiện sinh ra con cái bằng hai cách: qua việc rao giảng, sinh hạ các linh hồn; và qua việc chiêm niệm, sinh hạ những hiểu biết thiêng liêng. Hình ảnh này vừa chính xác về thần học, vừa mang tính đòi hỏi cao về mặt mục vụ. Chăm sóc mục vụ không phải là “quản lý các linh hồn”, nhưng là “sinh hạ” các linh hồn: qua giảng thuyết, Lời bén rễ và thức tỉnh đức tin; qua chiêm niệm, trước hết Lời ấy được cưu mang, nghiền ngẫm và trở nên sống động trong người mục tử. Ở đây, một trực giác rất đặc trưng của linh đạo Đa Minh xuất hiện: contemplata aliis tradere, trao cho người khác điều đã được chiêm niệm. Tuy nhiên, giờ đây, trực giác này được diễn tả bằng một hình ảnh cụ thể và sống động hơn; không chỉ trao truyền chân lý mà còn là cưu mang và sinh hạ. Chân lý được cưu mang trong lòng nhà giảng thuyết cho đến khi trở thành một lời sống động. Không có sự thai nghén nội tâm, lời giảng trở nên hời hợt. Ngược lại, nếu không có sự rao giảng, việc chiêm niệm không phát sinh hoa trái. Hai chiều kích ấy thuộc về cùng một chuyển động duy nhất: điều được lãnh nhận như một ân ban trong thinh lặng được sinh ra qua lời nói; điều được cưu mang trong tâm hồn được sinh ra trong cuộc đời của người khác. Như thế, người mục tử không chỉ dạy dỗ, mà còn tham dự vào sự sinh hoa kết trái âm thầm mà qua đó chính Thiên Chúa ban sự sống qua Lời của Người.
Thánh Batôlômêô lặp lại Thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Galát: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em” (Gl 4,19). Vị tông đồ gợi ý rằng việc sinh hạ đức tin nơi người khác là một tiến trình liên tục. Thánh Giacôbê nêu rõ khí cụ của việc sinh hạ này: “Người đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta” (Gc 1,18). Đối với thánh Batôlômêô, giảng thuyết không chỉ là truyền thông, mà là “nơi sinh hạ” của đức tin, sự hoán cải và đời sống mới trong Đức Kitô.
Đây là sự hiệp nhất ở trung tâm hình ảnh của thánh Batôlômêô. Two cuộc sinh hạ không phải là hai hoạt động song song, nhưng là một đời sống mục vụ duy nhất trong chuyển động kép: lãnh nhận trong chiêm niệm, trao ban trong giảng thuyết.
Điều khiến hình ảnh của thánh Batôlômêô trở nên đầy thách đố chính là việc thiên chức làm mẹ đòi hỏi sự hy sinh. Có những người mẹ đã chết khi sinh con. Hình ảnh mục tử như người mẹ thiêng liêng, ở chiều sâu của nó, là hình ảnh của sự hiến thân mục vụ, cùng một logic với vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên (Ga 10,11). Người mục tử chiêm niệm và giảng thuyết cách trung tín là người dám tiêu hao chính mình, lao nhọc cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi những người được trao phó cho sự chăm sóc của mình. Họ hiểu rằng kết quả của thừa tác vụ không phải là thành tựu, nhưng là ân sủng được sinh ra qua việc trả giá chính mình. Những lời đầy tâm tình của thánh Phaolô trình bày điều đó rất rõ ràng: “cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em” (Gl 4,19). Chữ “cho đến khi” ấy là toàn bộ ơn gọi mục tử: một lao nhọc không ngừng nghỉ cho đến khi mục đích được thành toàn, được nâng đỡ trong chiêm niệm, được diễn tả qua giảng thuyết, và được làm cho sống động trọn vẹn bởi tình yêu.[xxiv]
Giảng thuyết là thời điểm người mục tử nuôi dưỡng đoàn chiên, và tác vụ này xứng đáng nhận được sự toàn tâm cầu nguyện, nghiên cứu và tình yêu của người mục tử. Thánh Batôlômêô đã nhấn mạnh điều này tại Công đồng Trentô, và đã thành công trong việc minh định nghĩa vụ giảng thuyết của các giám mục. Xác tín của ngài, được lặp lại nhiều lần trong Stimulus Pastorum, người mục tử không giảng là coi thường phương thế chính yếu mà nhờ đó Thiên Chúa nuôi dưỡng dân Người, nghĩa là dẫn họ đến “đồng cỏ Kinh Thánh.”
5. Người lạc mất, người yếu thế và người nghèo có quyền được người mục tử ưu tiên chăm sóc
“Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh” (Ed 34,16). Khi Đức Kitô mặc khải chính mình là vị Mục Tử Nhân Lành, Người thực hiện điều đó rõ nhất qua việc đi đến với những người nằm bên lề xã hội: đó là những chiên lạc, người bị thương bên vệ đường, người nghèo không có ai lên tiếng bênh vực.
Trong tuyển tập Những bài giảng về Tin Mừng Gioan, thánh Tôma Aquinô xác định ba chiều kích khác nhau mà người mục tử bị ràng buộc phải nuôi dưỡng đoàn chiên. Bằng lời giảng: “Ta sẽ cho các ngươi những mục tử đẹp lòng Ta; chúng sẽ khôn ngoan sáng suốt chăn dắt các ngươi” (Gr 3,15); Bằng gương sáng đời sống: “Anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch” (1 Tm 4,12); và bằng sự trợ giúp: “Khốn cho các mục tử Israel chỉ biết nuôi chính mình” (Ed 34,2).[xxv] Cách thức thứ ba, temporali subsidio, sự trợ giúp về vật chất, đáng được chú ý nhưng dễ bị bỏ qua. Đối với thánh Tôma, người mục tử không trợ giúp vật chất cho những người được giao phó cho mình thì bị ngôn sứ Êdêkien ngầm kết án: người ấy đang nuôi chính mình hơn là nuôi chiên.
Truyền thống Kitô giáo đón nhận điều này với tất cả sự nghiêm túc. Thánh Grêgôriô Cả nhấn mạnh rằng mục tử phải thích ứng sự chăm sóc của mình với hoàn cảnh của từng người, nhất là với những người mong manh hoặc có nguy cơ lạc mất. Sự chếnh mảng mục vụ bộc lộ rõ nhất khi những người dễ bị tổn thương bị bỏ quên.
Thánh Augustinô, khi giảng về đoạn Tin mừng Gioan chương 21 cảnh báo rằng: chăn dắt chiên của Đức Kitô là yêu thương họ như Đức Kitô yêu thương, nghĩa là không tìm sự tiện nghi cho riêng mình, nhưng tìm thiện ích cho những ai không thể đáp trả. Với khát vọng cải tổ, thánh Batôlômêô Các Vị Tử Đạo liên tục nhắc lại bổn phận của các mục tử là phải hiện diện giữa người nghèo, không như các vị quản trị xa cách, nhưng là chia sẻ hoàn cảnh và mang lấy gánh nặng của họ.
Nói rằng những người này phải được “ưu tiên” không có nghĩa là loại trừ người khác, cũng không giảm bớt sự chăm sóc dành cho toàn thể đoàn chiên. Đúng hơn, điều ấy chỉ ra một ưu tiên trong chính lôgic của đức ái mục vụ. Chín mươi chín con không bị bỏ rơi, nhưng con bị lạc không thể tự mình trở về. Người mạnh có thể chịu đựng một thời gian nhưng người yếu thì không. Những người có điều kiện thuận lợi sẽ tìm được đường; nhưng người nghèo vẫn vô hình, trừ khi có ai đến với họ. Vì vậy, nhiệm vụ của mục tử không phải là chia đều sự chăm sóc, nhưng là sắp đặt trật tự của tình yêu – tình yêu hướng về những người dễ bị lãng quên nhất.
Điều này đưa đến những hệ quả cụ thể cho việc mục vụ hôm nay. Nó đòi một thừa tác vụ sẵn sàng bị gián đoạn, sẵn sàng rời bỏ những lối mòn quen thuộc, dám dành thời gian cho những nơi mà kết quả không có ngay lập tức. Điều này chống lại cám dỗ tập trung vào những người dễ phục vụ hoặc những người đáp trả cách tích cực. Nó cũng đòi hỏi nơi người mục tử một sự nghèo khó nội tâm: thoát khỏi nhu cầu tự bảo vệ mình; khỏi tham vọng hiệu năng hay sự nhìn nhận, hầu có thể quan tâm đến những người chẳng có gì để đáp trả.
Ở bình diện sâu xa nhất, nguyên tắc này mặc khải điều gì đó về chính Thiên Chúa. Người mục tử dành ưu tiên cho kẻ lạc mất, người yếu thế và người nghèo là người đang tham dự vào chính chuyển động của tình yêu Thiên Chúa, vì tình yêu của Thiên Chúa không được phân phối theo kiểu cào bằng, nhưng tuôn đổ theo mức độ cần thiết. Đó là điều mà ngôn sứ Êdêkien đã viết, như người cha của đứa con hoang đàng đã làm, và như người mục tử bỏ lại chín mươi chín con chiên để tìm một con chiên lạc đã hiểu. Người mục tử nào để cho trái tim mình được uốn nắn bởi lôgic ấy sẽ trở thành, cách âm thầm nhưng với cái giá rất lớn, một dấu chỉ sống động cho vị Mục Tử duy nhất, Đấng không bao giờ ngừng tìm kiếm kẻ lạc mất, băng bó người bị thương và quy tụ những gì đã bị phân tán.
Kết luận
Trong lần hiện diện sau Phục Sinh được Tin Mừng Gioan thuật lại, Đức Giêsu bảo ông Phêrô thả lưới bên phải mạn thuyền; rồi sau bữa ăn với cá và bánh, Người bảo ông hãy chăm sóc đoàn chiên của Người.[xxvi] Việc chuyển từ ngữ từ ngư phủ sang mục tử ban đầu có vẻ là một sự pha trộn hình ảnh cách gượng ép giữa hai hình ảnh khác nhau, tuy vậy, nó lại chứa đựng điều thật ý nghĩa, nhất là đối với anh em Đa Minh chúng ta. Mỗi nhà giảng thuyết trước hết được gọi để trở thành ngư phủ: Ra đi loan báo Tin Mừng và quy tụ người khác đến với Đức Kitô; rồi sau đó, được mời gọi trở thành mục tử qua việc nuôi dưỡng, đào tạo, hướng dẫn và chăm sóc họ với tinh thần mục tử. Trong Hội thánh, đôi khi chúng ta có khuynh hướng tách rời hai tác vụ này, xem kẻ đi lưới người và người chăm sóc các linh hồn như hai ơn gọi khác biệt. Thế nhưng, khi đọc kỹ chương 21 của Tin Mừng Gioan, chúng ta nhận ra rằng, đó không phải là hai nhiệm vụ đối lập; nhưng là hai chiều kích bất khả phân ly của cùng một sứ vụ tông đồ.
Làm ngư phủ mà không làm mục tử nghĩa là bắt cá rồi bỏ đi. Mục tử mà không đánh cá là chăm sóc một đoàn chiên dần thưa thớt. Công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng đòi cả hai: sự mạnh dạn thả lưới vào những vùng nước sâu, và trung tín ở lại với những người đã được quy tụ, để nuôi dưỡng, chữa lành và đào tạo họ thành một cộng đoàn đức tin sống động. Ngư phủ mà không làm mục tử có nguy cơ đưa về một mẻ cá nhưng không thể duy trì, đào luyện và không dẫn họ tới sự trưởng thành. Ngược lại, làm mục tử mà không làm ngư phủ có nguy cơ chăm sóc một đoàn chiên ngày càng ít đi, có thể trung thành với những người đã hiện diện nhưng lại điếc lác trước lệnh truyền của Chúa: Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá. Trong sự nối kết của hai hình ảnh, chúng mặc khải viên mãn điều Tin Mừng đòi hỏi. Đối với những người Đa Minh, điều này có nghĩa là sứ vụ của chúng ta phải vừa luôn mạnh dạn giảng thuyết, vừa luôn trung thành với việc mục vụ. Đó là can đảm đi ra để đưa “bốn nhóm người” đến với Đức Kitô, Lời hằng sống, rồi bước đi với họ cách kiên nhẫn và trung tín, cho đến khi họ đạt tới sự trưởng thành viên mãn, theo như lời của thánh Phaolô, “cho đến khi Đức Kitô thật sự được thành hình nơi họ” (x. Gl 4,19).
Dĩ nhiên, lá thư này chưa trọn vẹn. Vẫn còn nhiều điều có thể được thêm vào, nhiều điều có thể được bổ sung và đào sâu. Thật khó có thể đề cập hết tất cả những gì liên quan đến mọi thành viên của các tổ chức, các vùng miền và các thế hệ trong toàn Dòng. Hơn nữa, nhiệm vụ suy tư và xác định hành trình của chúng ta hướng về Năm Thánh không chỉ là việc của Bề trên Tổng quyền, nhưng là của toàn thể gia đình Đa Minh.
Vì lý do ấy, tôi mời gọi anh chị em hãy đón nhận lá thư này như một khởi đầu hơn là một kết luận, và tiếp tục đào sâu hơn nữa trong các cuộc trò chuyện cộng đoàn cũng như trong cầu nguyện và suy niệm cá nhân. Những gì còn thiếu sót nơi đây có thể được bổ túc bằng chính những hiểu biết, kinh nghiệm và sự lắng nghe của anh chị em trước Chúa.
Tôi xin gợi lên một vài câu hỏi để hướng dẫn việc suy tư và đối thoại của chúng ta:
Anh chị em có thể đóng góp điều gì để đào sâu, mở rộng hoặc làm phong phú một hay nhiều chủ đề được trình bày trong lá thư này khi xét đến một bối cảnh cụ thể hơn? Có chiều kích nào khác mà anh chị em muốn theo đuổi liên quan đến lời mời gọi trở thành kẻ chài lưới người và trở thành người mục tử? Và khi ý thức về sự đa dạng của các nhóm và những người chúng ta đối thoại trong việc rao giảng, làm sao chúng ta có thể đổi mới để gia tăng sự trung thành, để thiết thực hơn trong sáng tạo tông đồ, đang khi sống theo dự phóng của Dòng, là giảng thuyết vì ơn cứu độ các linh hồn, cũng như cùng với Hội thánh tiến về đại Năm Thánh Cứu Chuộc và Lễ Hiện Xuống năm 2033?
Khi tiếp tục cùng nhau lên đường tiến về Lễ Hiện Xuống 2033, chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa cho chúng ta biết chăm chú lắng nghe tiếng nói của Đấng Phục Sinh, biết nhận định đâu là nơi Người gọi chúng ta thả lưới, đâu là thước đo đích thực cho tình yêu chúng ta dành cho Người qua việc chăm sóc đoàn chiên của Người như lời mời gọi mà Chúa đã dành cho ông Phêrô ngày xưa.
Thân ái trong Chúa và trong thánh Phụ Đa Minh,
Tu sĩ Gerard Francisco Timoner III, OP
Bề trên Tổng quyền
[i] “Ab hoc igitur die tuba evangelicae praedicationis intonuit.” Thánh Lêô Cả, Sermo LXXV, De Pentecoste 1, §2. Dù có người nói về Lễ Hiện Xuống như “ngày sinh của Hội thánh”, chính Hội thánh dạy rằng Hội thánh “được sinh ra trước hết từ việc tự hiến trọn vẹn của Đức Kitô vì ơn cứu độ chúng ta, được tiên báo qua việc thiết lập bí tích Thánh Thể và được hoàn tất trên thập giá” (Giáo lý Hội thánh Công giáo, 766); thánh Ambrôsiô viết rất hay: “Như Evà được hình thành từ cạnh sườn Ađam đang ngủ, Hội thánh cũng được sinh ra từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô đã chết treo trên thập giá” (x. Thánh Ambrosio, In Luc. 2, 85-89, PL 15,1666-1668).
[ii] Thánh Gioan Kim Khẩu, Homilies on the Acts of the Apostles, Bài giảng IV.
[iii] Lá thư gửi toàn Dòng nhân dịp kỷ niệm 800 năm Tổng hội đầu tiên, The General Chapter of the Order of Preachers: Structure of Communion and Mission, mà tôi đã soạn cùng với các cựu Bề trên Tổng quyền: anh Timothy Radcliffe, OP, anh Carlos Azpiroz Costa, OP, và anh Bruno Cadoré, OP.
[iv] Điều đáng chú ý là các Đức Giáo hoàng đã dùng cụm từ “Lễ Hiện Xuống Mới”, vốn cần thiết cho một “cuộc tân Phúc âm hóa” trong một thế giới đang biến đổi hôm nay; x. Thánh Gioan Phaolô II, Gặp gỡ các Phong trào Hội thánh và Cộng đoàn mới, thứ Bảy, 30/05/1998, số 4; Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Sứ điệp gửi người trẻ thế giới nhân Ngày Đại hội Giới trẻ Thế giới lần thứ XXIII, 2008, số 4.
[v] x. SGLHTCG §783-786; Lumen Gentium §10-13. Apostolicam Actuositatem §6: “Vậy việc tông đồ của Hội thánh và của tất cả các chi thể trong Hội thánh trước hết nhằm loan báo sứ điệp của Chúa Kitô bằng lời nói, việc làm và nhằm chuyển thông ân sủng của Người cho trần gian. Công việc này được thực hiện chính là do tác vụ giảng lời Chúa và ban các bí tích, đặc biệt được trao phó cho hàng giáo sĩ, trong tác vụ đó, các giáo dân cũng phải hoàn tất phần quan trọng của mình để trở nên “những kẻ hợp tác với chân lý” (3 Ga 8). Nhất là trong lĩnh vực này, việc tông đồ giáo dân và tác vụ chăn dắt bổ túc cho nhau.”
[vi] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Praedicator Gratiae, 2021. https://www.vatican.va/content/francesco/en/letters/2021/documents/papa-francesco_20210524_lettera-centenario-sandomenico.html
[vii] Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Thư gửi các Nghị huynh Tổng hội, Công vụ Tổng hội Kraków 2025, 8.
[viii] “Tự bản chất, Hội thánh lữ hành là truyền giáo, vì Hội thánh phát xuất từ sứ vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Thiên Chúa Cha.” Công đồng Vaticanô II, Ad Gentes (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Hội thánh), số 2.
[ix] Thánh Augustinô, Tractates on the Gospel of John, 122.
[x] Phần này tóm lược các suy tư của tôi về “những kẻ lưới người” được cảm hứng từ cuộc trò chuyện với các anh em và bạn hữu: anh Clarence Marquez, OP, anh Wenifredo Padilla, OP, và hai chị em song sinh Marilou và Maricel Ibita tất cả đều là các học giả Kinh Thánh.
[xi] Thánh Grêgôriô Cả, Pastoral Rule III, Lời dẫn nhập.
[xii] Thánh Tôma Aquinô, S. Th. I, q. 23, a. 4, ad 3.
[xiii] Thánh Augustinô, Sermons on the New Testament, 73: “… Những thợ gặt là các thiên thần. Còn chúng ta, chúng ta vẫn là con người; chính các thiên thần mới là thợ gặt. Đành rằng, nếu hoàn tất cuộc đời mình cách trung tín, chúng ta cũng sẽ được nên ngang hàng với các thiên thần của Thiên Chúa. Nhưng hiện nay, mỗi khi chúng ta phẫn nộ trước kẻ dữ, chúng ta vẫn còn mang thân phận con người. Vì thế, ngay bây giờ, chúng ta phải lắng nghe lời cảnh tỉnh này: ‘Ai tưởng mình đang đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã.’ – https://www.thelatinlibrary.com/augustine/serm73.shtml
[xiv] Thánh Tôma Aquinô, Catena Aurea: Commentary on the Gospel of Mark, chương 1, trích Rêmigiô thành Auxerre.
[xv] Ngư phủ và mục tử: đáng chú ý là các đấng kế vị Phêrô cho đến hôm nay vẫn mang hai biểu tượng gìn giữ ký ức sống động về ơn gọi nguyên thủy của ngài: các ngài được gọi là pastor supremus, mục tử tối cao (Lumen Gentium, §25), và đeo trên ngón tay anulus piscatoris, nhẫn ngư phủ.
[xvi] Thánh Gioan Phaolô II, Christifideles Laici, 23.
[xvii] Thánh Albertô Cả, Opera Omnia, ed. Borgnet, vol. 23, Paris 1895, tr. 443. Tôi biết ơn anh Viliam Doci, O.P., vì đã lưu ý tôi về bản văn này. Để nhấn mạnh chiều kích chữa lành và thương xót của việc giảng thuyết, thánh Albertô trích sách Huấn Ca (Ecclesiasticus) 36,25 – Si est lingua curationis, est et mitigationis et misericordiae – “Nếu có một lưỡi chữa lành, thì cũng có một lưỡi làm hòa và thương xót.” Tuy nhiên, câu này dường như thuộc về điều các học giả gọi là “những phần thêm của bản Vulgata”: những đoạn có trong bản Vulgata Latinh nhưng không có trong các thủ bản Hy Lạp chính thức hoặc trong các mảnh bản văn Híp-ri được phục hồi, và vì thế không xuất hiện trong các ấn bản phê bình hiện đại hoặc các bản dịch đương đại của sách Huấn Ca.
[xviii] Tôi có được phần mô tả này là nhờ anh Benjamin Earl, nói về cách thức đặc biệt mà những chú chó chăn chiên làm việc với người mục tử, một thế giới hoàn toàn xa lạ đối với tôi, bởi tôi lớn lên ở Philippines.
[xix] X. Thánh Grêgôriô Cả, Pastoral Rule II, 4; III, 14, admonition 15.
[xx] Thánh Catarina Siêna, Le lettere (Edizioni Paoline: Milano, 1987), tr. 1049. Tôi biết ơn chị Mirella Soro, O.P., nữ đan sĩ Đa Minh thuộc đan viện Pratovecchio, vì đã lưu ý tôi về bản văn này của thánh Catarina Siêna.
[xxi] Thánh Grêgôriô Cả, Pastoral Rule, Book II, 7.: Nguyên tắc rằng nhà giảng thuyết trước hết phải lãnh nhận điều mình định thông truyền xuyên suốt các Phần II và III của Regula Pastoralis. Đức Grêgôriô cũng nhấn mạnh không kém về việc phải cẩn trọng giữ một thế quân bình giữa chiều kích tông đồ với chiêm niệm: người mục tử phải “không được giảm các thực tại nội tại giữa những bận rộn của công việc mục vụ, cũng không bỏ bê việc chăm lo cho các nhu cầu mục vụ bên ngoài giữa mối bận tâm dành cho các thực tại nội tại; kẻo, khi hoàn toàn lao mình vào việc mục vụ, người ấy đánh mất đời sống nội tâm, hoặc, khi chỉ bận tâm đến các việc nội tại, người ấy không trao cho tha nhân điều mình mắc nợ họ trong mục vụ.”
[xxii] x. Thánh Batôlômêô Các Vị Tử Đạo, Stimulus Pastorum: A Charge to Pastors, trans. Donald S. Prudlo (South Bend, IN: St. Augustine’s Press, 2022), tr. 20, Kindle Edition.
[xxiii] Ibid., tr. 61-62.
[xxiv] nt., tr. 61.
[xxv] Thánh Tôma Aquinô, Lectures on the Gospel of John, Chương 21, Bài giảng 3. Để khỏi phải lặp lại nhiều lần cùng một lời, cần lưu ý rằng Chúa nói ba lần: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy,” bởi vì người mục tử phải chăn dắt theo ba cách. Trước hết, bằng lời giáo huấn, như sách ngôn sứ Giêrêmia nói: “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử theo lòng Ta; họ sẽ chăn dắt các ngươi bằng tri thức và giáo huấn” (Gr 3,15). Kế đến, bằng gương sáng đời sống, như thư thứ nhất gửi ông Timôthê dạy: “Hãy nên gương cho các tín hữu trong lời nói, trong cách ăn nết ở, trong đức ái, trong đức tin, trong đức khiết tịnh” (1 Tm 4,12); và như sách ngôn sứ Êdêkien nói: “Trên các núi Ítraen – nghĩa là nơi sự cao cả của những con người vĩ đại – “sẽ là đồng cỏ của các ngươi” (Ed 34,14). Sau cùng, bằng sự trợ giúp trong những nhu cầu vật chất, như cũng trong sách ấy có lời: “Khốn cho các mục tử Ítraen, những kẻ chỉ lo chăn nuôi chính mình. Chẳng phải đoàn chiên mới là điều các mục tử phải chăn nuôi sao?” (Ed 34,2).
[xxvi] Trong Tin Mừng Gioan, trước khi Đức Giêsu trao cho ông Phêrô nuôi dưỡng đoàn chiên của Người, Người đã nuôi họ trước: “Anh em đến mà ăn.” Đây là đoạn duy nhất trong Tin Mừng nơi chúng ta thấy Đức Giêsu chuẩn bị bữa ăn! (Ga 21,9-12). Sau bữa ăn sáng, Người nói với ông Phêrô: “Nếu anh yêu mến Thầy, hãy chăn dắt chiên con của Thầy… hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,15-17). Đối với Đức Giêsu, mục tử tốt là người biết nuôi dưỡng đoàn chiên của mình. Khi suy tư về khung cảnh hậu Phục Sinh này, một linh mục người Ý ghi nhận mối liên hệ giữa từ pasto trong tiếng Ý, có nghĩa là “bữa ăn”, và tước hiệu il buon pastore, nghĩa là “mục tử nhân lành.”