Lời khấn và sứ vụ – Hai định nghĩa, một mục đích

0

Sr. Maria Trần Vân, OP

Trong đời sống thánh hiến, lời khấn và sứ vụ là hai thực tại luôn song hành với nhau. Tuy nhiên, nếu nhìn bề ngoài, người ta dễ thấy giữa chúng có sự khác biệt: lời khấn gắn với sự cam kết thuộc trọn về Thiên Chúa, còn sứ vụ lại hướng đến hành động phục vụ con người. Lời khấn diễn tả căn tính của người tu sĩ, một căn tính không thay đổi theo thời gian hay hoàn cảnh; còn công việc phục vụ và môi trường sứ vụ có thể thay đổi tùy nhu cầu của Hội dòng và Giáo hội.

Dẫu vậy, điều thay đổi chỉ là hình thức phục vụ, còn sứ vụ thì vẫn luôn hiện diện trong chính đời sống của người đã tuyên khấn. Bởi lẽ, một khi đã hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, người tu sĩ cũng đồng thời mang lấy sứ mạng làm chứng cho tình yêu của Ngài giữa lòng thế giới. Vì thế, lời khấn và sứ vụ không phải là hai thực tại tách biệt, nhưng gắn bó mật thiết và cùng hướng đến một mục đích duy nhất: thuộc trọn về Chúa để phục vụ con người.

Từ góc nhìn linh đạo, chúng ta càng thấy rõ hơn mối tương quan sâu xa ấy giữa việc tuyên khấn và thi hành sứ vụ.

1. Lời khấn – nguồn “năng lượng” của sứ vụ

Dù có sự khác nhau về định nghĩa nhưng lời khấn và sứ vụ có chung một nền tảng đó là “tình yêu”. Nếu lời khấn là dấu chỉ tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa thì sứ vụ là dấu chứng của tình yêu chúng ta trao ban cho tha nhân. Lời khấn hướng chúng ta đến tương quan chiều cao với Thiên Chúa , còn sứ vụ đưa chúng ta đến với thế giới và con người trong tương quan chiều ngang. Chính nhờ tương quan mật thiết với Thiên Chúa qua việc sống các lời khuyên Phúc Âm mà đời sống sứ vụ của chúng ta trở nên sinh động và sinh hoa kết trái cách phong phú hơn. Việc cam kết sống ba lời khấn: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục giúp chúng ta được giải thoát khỏi những ràng buộc của ý riêng, của cải vật chất, cái tôi hay tình cảm chiếm hữu để có thể toàn tâm cho sứ vụ.

Chúng ta có thể thấy việc lãnh Bài sai Sứ vụ hàng năm là minh chứng rõ nhất cho sự từ bỏ ý riêng ấy. Thường tình, ai trong chúng ta cũng mong được phục vụ ở nơi mình thích, trong công việc muốn với những chị em dễ hoà hợp. Thế nhưng thực tế không phải lúc nào cũng như mong đợi. Dẫu vậy, nhờ tình yêu dành cho Chúa qua lời khấn vâng phục, chúng ta vẫn hân hoan đón nhận sứ vụ mới, nơi ở mới và những chị em mới trong tinh thần hăng say dấn thân phục vụ. Chính sự vâng phục ấy mở ra cho chúng ta những cơ hội mới để trưởng thành hơn trong đời sống cộng đoàn cũng như trong kinh nghiệm phục vụ. Song song đó, lời khấn khiết tịnh giải phóng chúng ta khỏi tình yêu vị kỷ, mở rộng trái tim để yêu thương tất cả mọi người mà không phân biệt tuổi tác, địa vị hay hoàn cảnh. Nhờ sự tự do nội tâm ấy, chúng ta có thể tận tâm phục vụ ở bất cứ nơi đâu được sai đến và trong bất cứ công việc nào được trao phó.

Sau cùng, lời khấn khó nghèo mang lại cho chúng ta sự nhẹ nhàng và thanh thoát, không lệ thuộc vào của cải vật chất hay vẻ đẹp bên ngoài. Nhờ đó, chúng ta dễ dàng đến gần hơn với những mảnh đời bất hạnh, biết lắng nghe và đồng cảm với họ. Quả thật, “Càng có ít, chúng ta càng có nhiều để cho đi. Nghèo khó là một sự tự do để chúng ta có thể yêu thương mà không bị ràng buộc.”[1]

Tóm lại, lời Khấn giúp chúng ta hiện diện trong môi trường sứ vụ như là một dấu chỉ sống động sự hiện diện của Thiên Chúa giữa đời thường, đúng như bản chất của đời sống thánh hiến mà Đức Giáo Hoàng Gioan Paulo II đã nhấn mạnh trong Tông huấn Vita Consecrata, số 105[2] . Và chính sự hiện diện ấy sẽ trở thành động lực giúp chúng ta vượt qua những khó khăn trên hành trình rao loan Tin Mừng.

2. Sứ vụ làm sống động Lời khấn

Nếu lời khấn là nền tảng nuôi dưỡng sứ vụ thì ngược lại, sứ vụ cũng là môi trường giúp lời khấn được tôi luyện và trưởng thành mỗi ngày. Chính trong những hoàn cảnh sống cụ thể, giá trị của các lời khấn được thể hiện rõ nét và trở nên sống động hơn. Một đời sống tu trì thiếu vắng chiều kích sứ vụ rất dễ rơi vào sự khép kín hay hình thức, bởi “Sứ vụ không phải là một thứ gì đó được thêm vào đời sống thánh hiến, nhưng nó thuộc về chính bản chất của đời sống ấy… Một đời sống thánh hiến không có sứ vụ thì sẽ thiếu đi sức sống và căn tính của mình.”[3] Quả thật, ngang qua đời sống phục vụ, lời khấn của người tu sĩ được tái hiện và cụ thể hóa, vì đó là nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa qua chính những con người mình được sai đến.
– Với lời khấn khó nghèo, chúng ta không chỉ sống sự khó nghèo bên ngoài nhưng còn học biết chia sẻ những thiếu thốn và bấp bênh của tha nhân. Giữa một xã hội đề cao hưởng thụ vật chất và hình thức bên ngoài, lời khấn khó nghèo trở thành một lời chứng về đời sống giản dị, liêm chính và tín thác vào tình yêu Thiên Chúa.
– Với lời khấn khiết tịnh, sứ vụ mở rộng trái tim chúng ta đến một tình yêu phổ quát thay vì khép lại nơi những tương quan riêng tư. Nhờ đó, chúng ta được tự do để yêu thương, chăm sóc và phục vụ những người đau khổ, bị bỏ rơi hay sống bên lề xã hội bằng một tình yêu quảng đại và vô vị lợi.
– Với lời khấn vâng phục, sứ vụ giúp chúng ta biết khiêm tốn lắng nghe và tìm kiếm thánh ý Chúa qua Bề trên và qua những nhu cầu thực tế của tha nhân. Trong những hoàn cảnh mục vụ khó khăn, thay vì làm theo ý riêng, chúng ta học biết tín thác vào Đấng mình đã chọn bước theo. Đồng thời, sứ vụ còn giúp chúng ta sống tinh thần đồng trách nhiệm, cùng nhau tìm kiếm điều tốt đẹp nhất cho con người và cho công việc của Thiên Chúa.

Nhờ đó, chúng ta nhận ra rằng vâng phục không làm mất tự do, nhưng giúp chúng ta được tự do hơn để yêu thương và phục vụ. Với tất cả những giá trị ấy, sứ vụ chính là môi trường giúp chúng ta trở về sâu hơn với lời khấn của mình, để lời khấn không chỉ dừng lại ở một lời tuyên hứa trong ngày khấn dòng nhưng trở thành một sự cam kết trung tín được sống mỗi ngày.

Ước gì mỗi người tu sĩ chúng ta ngày càng ý thức hơn về mối liên kết sâu sắc giữa lời khấn và sứ vụ, để đời sống thánh hiến luôn trổ sinh nhiều hoa trái thánh thiện và lan tỏa hương thơm Đức Kitô giữa một thế giới đang “cần nhiều chứng nhân hơn là thầy dạy”[4] hôm nay.

[1] Thánh Teresa Calcutta.

[2] Đời sống thánh hiến không chỉ là một sự hỗ trợ cho các hoạt động mục vụ, nhưng bản chất của nó là trở thành một dấu chỉ… là sự hiện diện sống động của Chúa Kitô giữa nhân loại.”

[3] ĐGH Gioan Paulo II, Tông huấn Vita Consecrata, số 72.

[4] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Loan báo Tin Mừng (Evangelii Nuntiandi), số 41.

Comments are closed.

phone-icon