THÁNH IMELDA – Vị Thiên Thần Nhỏ (Chương VI)

0

Chương sáu: PHÉP LẠ

 Thật buồn vì những cảm nghĩ, tấm tình này không thể được cộng đoàn chia sẻ. Các nữ tu rất tử tế với cô tập sinh nhỏ, nhưng họ phải tuân giữ luật lệ của Giáo Hội. Vài tháng qua đi, Imelda hiểu rằng mọi quyền bính trên trần gian này không thể làm giấc mơ của cô thực hiện. Không có vấn đề cô phải làm việc cực nhọc thế nào, hay cô phải học hỏi về Thánh vịnh, giáo lý ra sao, cô vẫn không thể được Rước Lễ trước khi cô lên 14 tuổi. Mùa xuân năm 1333, cô tập sinh non trẻ này đã viết một lời cầu nguyện ngắn, rất đơn sơ và cô dùng để cầu nguyện một mình :

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói rằng : Hãy để các con trẻ đến với Ta, đừng ngăn cản chúng. Và chính Chúa cũng trở nên nhỏ bé để khuyến khích các trẻ em đến cùng Chúa. Nhưng tại sao tuổi con lại là nguyên nhân làm con phải xa cách Chúa, đặc biệt khi linh hồn con yêu Chúa và khao khát Chúa biết bao ! Trái tim đầy yêu thương của Chúa có thể trở nên vô cảm hay sao mà không nghe thấy con kêu khóc và nài nỉ ? Không biết khi nào con có thể nói được : Con đang đến với Chúa”.

Imelda đọc lời cầu này nhiều lần khi cô làm các nhiệm vụ mà Bề trên giao phó. Cô cũng xin người bạn trên trời, đó là Agnès và Tarcisius chuyển lời cầu nguyện của mình lên Chúa. Sơ Diana Andola cũng được nhắc tới, cả cha Jordan Saxony, một cha dòng Đa Minh, bạn của sơ Diana và là cha giải tội của sơ sau khi cha Réginald qua đời. Không ngày nào qua đi mà Imelda không nhắc nhở các anh chị Đa Minh trên trời cầu cho cô về việc cô ước ao được rước Chúa. Nhưng cô không thể nói chuyện này với bất cứ nữ tu nào hay bất cứ người nghèo nào đến tu viện. Vì không ai có thể làm gì cho cô hết. Đó là thánh ý Chúa muốn cô phải chịu nỗi đau khổ này trong yên lặng và chờ đợi.

Thỉnh thoảng có một vài tin tức bên ngoài lọt vào tu viện Valdipietra. Tuy nhiên các nữ tu lại biết rất ít về những người đồng hương của họ không như họ biết về các người ngoại quốc sống ở Rhineland như Henry Suso John Tauler và John Ruybroeck. Họ là các giáo sư, các nhà giảng thuyết và văn gia của Lời Chúa. Hai tu sĩ trên là các tu sĩ Đa Minh, và câu chuyện cho biết rằng họ đã đến Valdipietra, để làm những điều tốt lành họ đem lại cho các linh hồn. Một số người cho rằng họ là các vị thánh chứ ít biết rằng : Các linh mục này là các tu sĩ Đa Minh thực thụ. Họ cầu nguyện, họ suy niệm và học hành về Chúa. Khi Thánh Thần soi sáng cho họ, họ đã ra đi rao giảng về Chúa và viết sách. Đó là những ơn gọi tuyệt vời.

Imelda lắng nghe chăm chú, cô sung sướng vì mình cũng là một nữ tu Đa Minh. Cô bé thầm nghĩ : “Thánh Đa Minh đã tụ họp các nữ tu trước khi Người thiết lập dòng. Người biết rằng việc giảng và dạy là cần thiết, nhưng Người cũng nhận ra rằng cầu nguyện và hi sinh là những điều tối quan trọng để cứu rỗi các linh hồn. Ôi ! Tôi sung sướng biết bao được tới đan viện Valdipietra ! Điều này cũng có nghĩa là tôi được làm một nhà truyền giáo”.

Những tư tưởng này an ủi sơ bé, đặc biệt trong dịp lễ Phục sinh khi chỉ mình sơ là người trong cộng đoàn không được Rước Chúa. Sơ cảm thấy được xoa dịu vài tuần sau ngày lễ vọng Chúa Lên Trời được cử hành. Trong ngày này, dòng Đa Minh giữ luật chay tịnh rất ngặt, thì trái tim Imelda tràn đầy niềm tín thác một cách phi thường. Có gì đó cho sơ biết rằng Chúa hài lòng với sơ sau nhiều năm kiên nhẫn và chờ đợi. Người sẽ đến với sơ bé rất sớm và ban cho sơ được toại nguyện. Sơ bé tự hỏi : “Nhưng bằng cách nào ? Lạy Chúa dấu yêu, Chúa sẽ làm phép lạ phải không ? Chúa sẽ cho Đức Tổng Giám mục hiểu về điều này phải không ? Và các sơ khác cũng hiểu nữa chứ ?

Điều thắc mắc không được trả lời, nhưng Imelda vẫn thấy sung sướng khi sơ tham dự thánh lễ với những người khác. Một lúc nào đó, có gì tuyệt vời sẽ xảy ra. Bằng cách nào đó sơ sẽ được Rước Lễ lần đầu. Từng phút qua đi, vị linh mục đọc Phúc Âm rồi lời nguyện dâng lễ, rồi tới lời nguyện trọng đại Truyền Phép. Đôi mắt Imelda rực sáng khi ngắm nhìn lên Nhà Tạm, nơi Bánh Thánh được đặt trong chén vàng. Sơ chỉ nhìn thấy được một phía của bàn thờ mà thôi, vì phần dành cho công chúng được xây liền với tu viện và bị khuất đi vì bức tường chấn song chắn lại, giới hạn phạm vi ca hội của các nữ tu. Tuy nhiên, chẳng phải là những chấn song sắt hay khoảng cách xa ảnh hưởng tới đức tin và tình yêu của sơ bé. Vài phút trước đây, quyền năng của Chúa đã đổi bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa rồi. Bây giờ bất cứ ai đón nhận Bánh và Rượu là đón nhận chính Chúa Ba Ngôi. Thực là một mầu nhiệm vượt quá sự hiểu biết của con người cũng như đó là món quà vĩ đại nhất được ban xuống cho nhân loại.

Imelda thầm nghĩ : “Ngay cả các Thiên thần cũng không được rước Mình Máu Thánh Chúa, nhưng chỉ có ai có đức tin thật và những ai giữ giới luật Chúa thì mới có thể được lãnh nhận. Ôi ! Con biết thời giờ sẽ đến với con ! Chỉ thế thôi”.

Lúc này tiếng chuông rung lên ba lần. Imelda quay đầu về phía Mẹ Bề trên với đầy hi vọng nghĩ rằng Mẹ sẽ mỉm cười và ra dấu hiệu rằng mình có thể nhập vào hàng với các sơ khác mà tiến lên bàn thánh Rước Lễ. Khốn thay, Mẹ Bề trên không hề để ý đến sơ tập sinh nhỏ chút nào hết. Tấm khăn che đầu của Mẹ cúi xuống thấp hơn, và đôi tay Mẹ chắp lại cách kính cẩn. Chầm chậm, Mẹ đứng lên và dẫn các sơ đi tới nhà nguyện. Rồi Mẹ ra hiệu lệnh như thường lệ và lập tức cộng đoàn nằm phủ phục xuống đất và đọc kinh Cáo Mình với giọng thật sốt sắng.

Imelda không nhập với các sơ. Sơ tập sinh vẫn còn bất động ở chỗ mình, chăm chú nhìn vào cảnh tượng quen thuộc với đầy nước mắt. Sơ bé lại bị lầm to lần nữa chăng ? Tiếng nói lạ đã an ủi sơ bé với hy vọng là sơ sẽ được Rước Chúa vang lên trong ngày vọng Lễ Chúa Lên Trời đã chẳng gì hơn là tưởng tượng. Sơ vẫn còn quá nhỏ, và chưa biết đủ để xứng đáng đón nhận Thánh Thể.

Đôi dòng nước mắt tràn trụa. Sơ tập sinh như nghẹn thở : “Lạy Chúa, con… con yêu Chúa ! Con yêu Chúa ! Đó là tất cả những gì con biết !”. Hai mươi phút trôi qua, và các nữ tu đã đọc xong Kinh Cám Ơn, nhưng Imelda vẫn còn khóc. Sợ úp mặt vào lòng bàn tay, trái tim sơ bị xé nát ra trong thất vọng và khát mong. Ôi ! Sao sơ bé lại vẫn còn ngu dại đến thế ? Tại sao sơ dám hi vọng rằng ngày hôm nay, ngày lễ vọng trọng đại này sẽ là ngày vĩ đại của đời sơ ?

Có sự thông cảm trên khuôn mặt của các nữ tu lớn tuổi hơn khi họ thoáng liếc nhìn sơ tập sinh trẻ. Thật tội nghiệp đứa bé. Mùa xuân đã đến và sơ nhớ mẹ chăng ! Chắc sơ nhớ những ngày vô tư ở lâu đài của gia đình khi khu vườn sáng rực với những loài hoa đắt tiền và khan hiếm, khi đàn chim sà xuống trên đôi tay cô bé để mổ thức ăn, và không phải thề hứa nên phải vâng lời, và cũng không bị gọi đi cầu nguyện lâu giờ, phải giữ thinh lặng và phải đi làm việc. Họ nghĩ : “Đứa bé trẻ quá khi nó đến ở với chúng ta. Tốt hơn nên để nó ở nhà với cha mẹ thêm thời gian nữa”. Imelda chẳng bao giờ xét đoán điều các sơ nghĩ về mình. Thực vậy, sơ tập sinh trẻ này hoàn toàn không nhớ gì về điều thất vọng đã chất chứa trong lòng sáng nay. Sơ đã không được Rước Chúa như sơ cầu nguyện và hi vọng. Chẳng có gì bây giờ hơn là nỗi sầu muộn.

Sơ vẫn quì cầu nguyện khi các nữ tu ra khỏi nguyện đường. Lần nữa sơ đổ hết tâm hồn bằng những lời yêu mến nồng nhiệt, mắt sơ dán chặt lên bàn thờ nơi vừa mới cử hành thánh lễ, sơ thì thầm : “Lạy Chúa ! Con biết Chúa đang hiện diện thật trong nhà Tạm. Con tin thật như thế với cả tâm hồn con. Nhưng xin đừng tiếp tục ẩn mặt nữa. Hãy đến với con. Con sẽ không nói với một ai hết về việc Chúa đến thăm con”.

Thình lình sơ tập sinh trẻ nhận ra một ánh sáng lạ xuất hiện ở khoảng bàn thờ. Trước vầng ánh sáng này, hàng rào chấn song xem ra như bị cháy tan trong không khí. Sơ nghe thấy những âm thanh, những điệu nhạc từ xa xa, du dương và ngọt ngào không thể diễn tả được. Khi sơ chăm chú nhìn và lắng nghe, trái tim trở nên ngây ngất trong niềm hạnh phúc chứa chan. Ngay trên bàn thờ, một Bánh Thánh đang lơ lửng trên không bằng một sức vô hình. Và kìa, Bánh Thánh đang di chuyển đến chỗ sơ như miếng kim loại bị hút bởi đá nam châm. Sơ thở hổn hển, mắt sơ dán vào tấm bánh sáng chói đã được làm phép : “Lạy Chúa, Chúa đang đến với con ư ?”. Rồi sơ quì xuống nín thở không dám cử động. Bánh Thánh bay qua hàng rào chấn song rồi hạ thấp xuống lơ lửng trong khu vực nguyện đường của các nữ tu, và đến gần hơn, gần hơn cho đến khi tới ngay thẳng trên đầu Imelda thì ngừng lại. Được ra khỏi chính mình, sơ say sưa ngắm nhìn trong mê ly vui sướng. Chúa đã đến với sơ !

Ngay lúc này thì có tiếng truyền đi trong cả đan viện rằng sơ tập sinh trẻ Imelda đã vắng trong việc bổn phận. Sơ không ở trong phòng riêng, cũng không ở ngoài cổng hay ngoài vườn. Hơn thế nữa, sơ không đi ăn điểm tâm. Mẹ Giáo Tập lo lắng : “Đứa trẻ chẳng bao giờ bê trễ một việc gì. Cái gì đã xảy đến cho nó ?”. Mẹ nhớ lại rằng sáng nay Mẹ đã nhìn thấy sơ tập sinh lần chót trong nguyện đường, Mẹ quyết định đi tìm sơ. Nhưng chưa đi được xa thì Mẹ gặp Mẹ Bề trên, bà đang nín thở và thích thú. Mẹ Bề trên kêu lên : “Hương thơm của ngàn hoa. Mẹ có ngửi thấy không ? Cả nhà dường như đầy hoa hồng và hoa huệ”. Mẹ Giáo Tập đứng lại và hít hơi. Đúng thế, một mùi hương thơm kỷ diệu ngạt ngào của ngàn hoa toả khắp nhà. Mẹ nói : “Chắc hương thơm từ ngoài vườn. Mùa xuân đã đến và chúng ta lại được thưởng thức màu sắc và hương thơm của một số loài hoa”. Mẹ Bề trên nói : “Nhưng chúng không đủ để tràn ngập cả nhà như thế này, và sao hương thơm lại toả bất ngờ như thế này ? Mẹ à, tôi tin rằng hương thơm đến từ nguyện đường. Chúng ta hãy đi và tìm hiểu xem sao… !”.

Hai vị nữ tu vội vã đi xuống hành lang, cả hai đều ngây ngất, càng gần nguyện đường càng thấy dịu ngọt và nồng thắm hơn. Nhưng sự tò mò của họ tan biến ngay khi họ mở tung cửa nguyện đường. Đó, ngay trước những đôi mắt ngỡ ngàng, là sơ bé Imelda, và trên đầu sơ là Tấm Bánh Thánh đang lơ lửng trên không.

Mẹ Bề trên ngừng thở và quì gối : “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con”.

Bị quyến rũ bởi hương thơm của các loài hoa và sự vắng mặt lâu của Mẹ Bề trên và Mẹ Giáo tập, các sơ khác của cộng đoàn kéo nhau vào nguyện đường. Cảnh tượng tuyệt diệu đang mời đón họ. Cô bé Imelda 11 tuổi đang trong trạng thái xuất thần. Cô dường như ngừng thở. Tất cả sinh lực của cô lộ ra trong đôi mắt chiếu sáng rực rỡ, đang ngây ngất dán chặt vào Tấm Bánh Thánh đang lơ lửng ngay trên đỉnh đầu.

Nguyên tác: Mary Fabyan Windeatt

Chuyển ngữ: Sr. Teresa Thơm Nguyễn, OP.

Comments are closed.