Dictionaire de Liturgie – Từ điển Phụng Vụ

0

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ (Dictionaire de Liturgie) 

Nguyên tác bằng Pháp ngữ Dictionaire de Liturgie của tác giả Dom Robert Le Gall xuất bản năm 1982

được chuyển dịch ra Việt Ngữ vào Mùa Chay 1997.

Nguồn:  VIETNAMESE MISSIONARIES IN ASIA


Phụng vụ đáng được xem là việc thực thi chức vụ tư tế của chính Đức Giê-su Ki-tô, trong đó, công cuộc thánh hóa con người được biểu tượng nhờ những dấu chỉ khắc ghi và được thể hiện hữu hiệu cách khác nhau theo từng dấu chỉ, và trong đó việc phụng tự công cộng vẹn toàn cũng được thực thi nhờ Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, nghĩa là gồm cả Đầu cùng các chi thể của Người (PV 7).


 A

 A-men (= Amen)

Lời tung hô của người Do Thái nói lên sự ưng thuận. Bắt nguồn từ động từ âman, diễn tả tính chất của những gì có cơ sở vững chắc, những gì bền bỉ. Theo nghĩa ẩn dụ, động từ này vừa ám chỉ phẩm chất của một người trung tín, vừa nói lên hành vi qua đó người ta tín thác nơi một người khác.

Tiếng A-men đôi khi được lặp lại để kết thúc bốn trong năm tập thánh vịnh (Tv 40,14; 71,19; 88,53; 105,48).

Thưa Amen có nghĩa là bằng lòng với điều vừa mới nói hay vừa được thực hiện. Tiếng Amen biểu lộ hành vi đồng lòng của dân đối với Công Trình Thiên Chúa như được các thừa tác viên thể hiện. Tiếng A-men cũng là hành vi tán đồng của cộng đoàn đối với những lời nguyện do vị chủ tế dâng lên nhân danh cộng đoàn. Lời A-men long trọng nhất chính là lời A-men ở cuối kinh Tạ Ơn, khi các tín hữu tung hô A-men bày tỏ sự tán đồng với Hiến Tế Thánh Thể, được kết thúc bằng Vinh Tụng Ca “Chính nhờ Đức Kitô…” (Per Ipsum). Sự tán đồng này cũng chính là sự ưng thuận của dân Ít-ra-en đối với Giao Ước trong Phụng Vụ Xi-nai (xc. Xh 24,7).

Cũng cần đặc biệt nhấn mạnh đến lời thưa A-men của tín hữu khi hiệp lễ, được coi như một sự tin tưởng trọn vẹn vào lời Mình Thánh Chúa Kitô được linh mục hay thừa tác viên có thẩm quyền công bố.

 A-na-pho-ra (= Anaphore)

Từ ana trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là trên cao, và phora nghĩa là đem theo. Như thế, a-na-pho-ra là một hành động biểu thị cử chỉ hiến tế. Cũng vậy, trong tiếng Híp-ri, hiến lễ là lễ vật dâng lên Thiên Chúa (Ơlâh: hy lễ toàn thiêu, bởi động từ âlah: đưa lên). Điểm cốt yếu của hy lễ là việc tiến dâng lễ vật lên giới thần linh, là thế giới thánh thiêng, viên mãn.

Trong phụng vụ Đông Phương, kinh a-na-pho-ra biểu thị phần trung tâm của thánh lễ, tương đương với phần kinh Tạ Ơn của phụng vụ La Tinh, không chỉ do cấu trúc của kinh Tạ Ơn, nhưng còn do chính bản văn. Nói khác đi, kinh A-na-pho-ra chính là phần hiến tế đúng nghĩa nhất trong thánh lễ.

Các kinh a-na-pho-ra nổi tiếng nhất là kinh trong phụng vụ do thánh Gioan Kim Khẩu và thánh Ba-xi-li-ô soạn. Nhưng cũng phải kể đến các kinh của Addai và Mari, Der Balizeh, Sérapion, thánh Mác-cô và thánh Gia-cô-bê…

Á Phụng Vụ (= Paraliturgie)

Á phụng vụ là tất cả những hành vi đạo đức mang tính cộng đoàn, không thuộc về phụng vụ theo nghĩa chặt (việc cử hành thánh lễ, các bí tích, các phụ tích hay các Giờ kinh Phụng vụ) chẳng hạn như Chầu Thánh Thể (xc. Chầu Thánh Thể), việc chuẩn bị sám hối mà không cử hành bí tích Sám hối, Chặng đàng Thánh giá và lần chuỗi Mân Côi cộng đoàn và tất cả những hình thức đạo đức tập thể khác như tháng kính Đức Mẹ, các Kinh Cầu…

Cần ghi nhận rằng việc phát triển một số hình thức đạo đức bình dân có thể làm sai lạc tinh thần Kitô giáo đích thực, là tinh thần cần được nuôi dưỡng bằng phụng vụ đúng nghĩa hơn là những việc sùng kính ít nhiều có tính cách chủ quan, gắn liền với những tình cảm mau qua. Khi phê chuẩn những việc đạo đức hoặc việc thánh thiện ấy, Công đồng Va-ti-ca-nô II thêm: “Phải chiếu theo các mùa phụng vụ mà xếp đặt các việc ấy cho hòa hợp với phụng vụ, để có thể được coi là phát xuất từ phụng vụ và để tiến dẫn Dân Chúa đến với phụng vụ, vì tự bản chất, phụng vụ vượt xa các việc ấy” (PV số 13).

Am-Rô-Xi-Ô (Nghi thức) (= Ambrosien)

(Xc. Phụng vụ)

An-Pha (= Alpha)

Chữ hoa đầu tiên trong mẫu tự Hy-Lạp. Vào lúc bắt đầu nghi thức Phục Sinh, trọng tâm của năm phụng vụ, vị linh mục vừa vẽ chữ An-pha phía trên đầu cây thánh giá và chữ Ô-mê-ga (chữ cuối của bảng mẫu tự) phía dưới thánh giá, vừa đọc:

“Chúa Kitô, hôm qua và hôm nay, nguyên thủy và cùng đích, An-pha, Ô-mê-ga, thời gian là của Chúa và mọi thế hệ là của Chúa, vinh quang và vương quyền là của Chúa, qua mọi thế hệ cho đến muôn đời. A-men” (xc. Kh 1,8; Ô-mê-ga).

Ngay đầu cuốn Tự điển phụng vụ này, cần nhấn mạnh rằng mọi Công trình Thiên Chúa đều có Đức Kitô là trung tâm, Người là lời mở đầu và kết thúc cho tất cả các buổi cử hành phụng vụ. Vừa là Con Thiên Chúa, vừa là Con loài người, nên duy chỉ mình Người, qua vai trò trung gian và hy tế của mình, mới có thể đóng ấn trên Giao ước mới và vĩnh cửu, một Giao ước trong đó chúng ta được tháp nhập vào nhờ việc tham dự thánh lễ, các bí tích, các phụ tích và các Giờ kinh phụng vụ.

An Táng (= Sépulture)

Đó là việc chôn cất người quá cố tại nghĩa trang, có làm phép huyệt, rảy nước thánh và xông hương. Khi hạ huyệt, vị chủ sự nói vài lời, có thể triển khai thành lời nguyện giáo dân, kết thúc bằng kinh Lạy Cha và lời nguyện (xc. Quá cố, Chết, Tang lễ).

Áo Các Phép (= Surplis)

Áo các phép có màu trắng, nhẹ, hơi rộng và dài quá đầu gối. Các giáo sĩ mặc áo này bên ngoài áo chức khi tham dự các buổi cử hành trọng thể. Ngày nay áo này ít được dùng, và được thay thế bằng áo trắng dài. Vị chưởng nghi, kể cả các tu sĩ, đôi khi mặc một áo các phép dài và thẳng gọi là áo Ghê-gô-ri-ô (xc. Áo ren).

Áo Choàng (= Chape)

Đó là áo khoác dài phủ hết thân người, dùng trong các cuộc lễ, may bằng một tấm vải hình bán nguyệt. Hai vạt áo khoác được giữ thẳng trước các khuy cài.

Áo choàng được dùng trong các buổi cử hành phụng vụ long trọng ngoài thánh lễ. Thông thường, đó là y phục của vị chủ sự, nhưng đôi khi cả người tham dự cũng mặc, gọi là những người mặc áo choàng. Trong những dịp trọng thể, các ca viên cũng mặc áo choàng đó.

Áo Choàng Vai (= Camail)

Nguyên thuỷ là một chiếc mũ trùm đầu đan theo kiểu mắt lưới. Sau biến thành loại phẩm phục của giám mục, các kinh sĩ và một số phẩm chức khác trong Hội thánh. Loại áo này phủ kín vai, ngực và tay, được mặc bên ngoài áo ren khi tham dự các giờ kinh thần vụ long trọng (xc. Khăn phủ ngực).

Áo Dài Có Mũ (= Coule)

Lúc đầu, đây là một loại áo khoác của các dân quê để che mưa nắng. Sau đó, nó trở thành áo riêng của các đan sĩ: một loại áo dài rộng, tay áo cũng rộng, có mũ trùm đầu, giống như áo dài mặc khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, dựa theo lời thánh Phaolô: “Khi được dìm vào nước Thánh tẩy để nên một với Đức Ki-tô, thì tất cả anh em được mặc lấy Đức Ki-tô” (Gl 3,27). Đan sĩ lãnh nhận áo dài này khi khấn trọng, và sẽ mặc áo này ít là trong các giờ kinh chính. Áo này mặc bằng cách trùm qua đầu. Các linh mục triều cũng có thể sử dụng áo này thay cho áo dài trắng.

 Áo Lễ (= Chasuble)

Vào những thế kỷ đầu, đây là loại áo choàng được dùng như thường phục. Còn trong các nghi lễ phụng vụ, người ta sử dụng một loại áo choàng đặc biệt, dần dần trở thành một loại áo dành riêng cho các giáo sĩ, thuộc mọi cấp bậc, kể cả các thày giúp lễ. Chỉ mãi sau này, áo choàng mới trở thành lễ phục dành riêng cho giám mục và linh mục.

Áo lễ ngày nay lấy lại hình thức và kích thước như ban đầu. Trong vài thế kỷ gần đây, nó từng được thu gọn lại như cái hộp đựng đàn violon. Hình thức hộp đựng đàn này đã là cơ hội cho nghệ thuật thêu làm nên nhiều kiệt tác. Ngày nay, nhiều nước, trong đó có Ý, vẫn còn sử dụng kiểu áo đó.

Trong nghi lễ truyền chức, linh mục nhận áo lễ sau khi được xức dầu trên tay. Áo lễ mặc ngoài áo trắng dài và dây các phép. Đó là áo của vị chủ sự thánh lễ. Khi đồng tế, ít nhất vị chủ sự phải mặc áo lễ.

Khi mặc áo lễ, vị linh mục mang lấy Đức Ki-tô, và hành động trong tư cách của Người.

Áo Nhà Tạm – Áo Phủ Bình Đựng Thánh Thể (= Pavillon)

Áo nhà tạm là tấm vải phủ trên nhà tạm (xc. Khăn phủ nhà tạm). Áo phủ bình đựng Thánh Thể là tấm vải hình tròn phủ trên bình đựng Thánh Thể.

 Áo Phó Tế (= Dalmatique)

Đó là loại áo khoác ngoài, có nguồn gốc từ vùng Dalmatia (ngày nay là một phần của Nam Tư) được sử dụng khá phổ biến trong đế quốc La Mã ở những thế kỷ đầu. Đó là một áo lễ tay ngắn, nhưng được xẻ ra ở phía dưới cánh tay.

Khoảng thế kỷ IV hay V, áo này trở thành y phục riêng của các phó tế mặc bên ngoài áo dài trắng và dây các phép. Trong những buổi lễ đại triều, các giám mục có thể mặc áo này bên trong áo lễ: y phục này ám chỉ giám mục là phó tế đích thực, nghĩa là dấu chỉ bí tích của Đức Ki-tô. Người Tôi tớ (xc. Phục vụ). Chức phó tế là sự tham dự vào sứ vụ của giám mục và những cộng tác viên của người, trong mối dây phục vụ.

 Áo Ren (= Rochet)

Áo ren là loại áo các phép có ren, các giám mục, các kinh sĩ và một số phẩm chức mặc ngoài áo chùng, khi tham dự những buổi lễ long trọng các vị không đích thân cử hành. (xc. Áo các phép).

 Áo Trắng Dài (= Aube)

Trong các tôn giáo, việc cử hành nghi lễ được hiểu như một sự mô phỏng hoạt động của thần linh. Người hành lễ, đặc biệt là vị tư tế hay vị chủ sự, phải giữ mình tinh sạch theo nghi tiết đòi buộc, được biểu trưng bằng y phục trắng. Vì vậy, các thợ dệt của Ít-ra-en đã làm cho tư tế A-a-ron và các con ông “những áo dài bằng vải gai mịn, một khăn chít bằng vải gai mịn, mũ tế bằng vải gai mịn, quần bằng vải gai mịn se, đai lưng bằng sợi gai mịn se…” (Xh 9,27-29).

Trong Tân ước, y phục trắng là dấu chỉ đặc biệt của sự phục sinh, của đời sống mới do mầu nhiệm Phục sinh đem lại cho chúng ta. Theo bốn tác giả Tin mừng, các thiên thần xuất hiện trong biến cố Phục sinh mặc áo dài trắng: “Thiên thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá rồi ngồi trên đó. Người có diện mạo rực rỡ và áo người trắng như tuyết” (Mt 28,3; Xc. Mc 16,5; Lc 24,4; Ga 20,12).

Khi Đức Ki-tô vinh quang hiện ra với thánh Gio-an trong phần mở đầu sách Khải huyền, Người mặc một chiếc áo dài (podèrès trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là áo dài phủ tới chân). Đó là y phục của vị thượng tế (1,13; Hc 50,11). Người hứa ban cho những tín hữu thông phần chiến thắng của Người được mặc áo trắng: “Họ sẽ mặc áo trắng cùng đi với Ta, vì họ xứng đáng. Như thế, ai thắng sẽ được mặc áo trắng; Ta sẽ không xóa tên người ấy khỏi sổ trường sinh” (3,4-5; xc. c.18). Thực vậy, đoàn lũ đông đảo những người được chọn xuất hiện trong y phục hoàn toàn trắng: “Đứng trước ngai và trước Con Chiên, tay cầm nhành lá thiên tuế, họ lớn tiếng tung hô: Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” (7,9-10).

Thánh Gio-an được nghe giải thích rằng những người mặc áo trắng này là “những người đã đến sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Vì thế, họ được chầu trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền thờ của Người; Đấng ngự trên ngai sẽ căng lều của Người cho họ trú ẩn” (14,15). Khi vị Hôn thê xuất hiện, sẵn sàng vào dự tiệc cưới Con Chiên, vẻ xinh đẹp của nàng được điểm tô bằng mầu trắng: “Nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền; vải gai đây chỉ những việc lành của các Thánh” (19,8).

Như vậy, áo trắng là y phục của những người được tái sinh, những người đã giặt áo mình trong máu Con Chiên: những người đã chịu Thánh tẩy coi như đang sống phụng vụ Nước trời và đã bước vào đời sống thần linh. Chính vì thế, khi lãnh bí tích Thánh tẩy, các trẻ nhỏ và người lớn đều mặc áo trắng trừ ngày Thứ bảy và Chúa nhật in albis. (xc. Bài ca Quasimodo). Trong ngày lễ bao đồng, các thiếu niên cũng mặc áo trắng.

Trong những cuộc cử hành phụng vụ, các linh mục, các vị chủ sự, cũng như các người tham dự, mặc áo trắng như dấu chỉ sự tháp nhập của họ vào đời sống Thiên Chúa, được phụng vụ thể hiện nhờ những nghi thức thánh. Màu trắng là màu của phụng vụ vĩnh cửu, là lời kêu gọi ta sống thánh thiện tinh tuyền để bước vào ánh vinh quang.

Cần ghi nhận rằng, đối với Hội thánh Đông phương, màu trắng là màu của tang chế.

 Âm Nhạc (= Musique)

Âm nhạc được coi là ngành nghệ thuật cao nhất. Phụng vụ nhằm qui tụ và hiến dâng toàn thể nhân loại lên Thiên Chúa, nên không thể không dành cho âm nhạc một vị trí quan trọng, vì âm nhạc có khả năng rất lớn trong việc giúp cho những lời thánh thiêng cũng như những tâm tình cầu nguyện đạt tới hết tầm mức của mình; đồng thời âm nhạc cũng là một yếu tố hiệp nhất cộng đoàn đang ca hát và lắng nghe.

Công đồng Va-ti-ca-nô II nhấn mạnh đến vị trí ưu tiên của âm nhạc trong phụng vụ: “Truyền thống âm nhạc của Hội thánh toàn cầu đã làm nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn mọi ngành ghệ thuật khác, nhất là vì điệu nhạc thánh đi liền với lời ca làm nên thành phần cốt yếu và trọn vẹn của Phụng vụ long trọng” (PV số 112 và những số tiếp theo) (xc. Tiếng hát, Bình ca, Nghệ thuật).

 Ân Xá (= Indulgence)

Ân xá là ơn Hội thánh ban để tha hình phạt do tội lỗi gây ra, qua việc thực thi một vài hành vi cụ thể. Ban đầu, ân xá được gắn liền với các cuộc hành hương Đất Thánh, sau đó được phát triển nhân cơ hội thánh Phan-xi-cô xin Tòa thánh ban ơn toàn xá cho những người viếng đền Portiuncula. Đến cuối thời Trung cổ, việc gia tăng ân xá một cách thái quá, cùng với việc lãnh nhận dường như máy móc, là một trong những nguyên nhân đưa đến cuộc Cải cách của ông Luther.

Sau Công đồng Va-ti-ca-nô II, đức Giáo hoàng Phaolô VI đã ban hành tông hiến Giáo lý về Ân xá (01/01/1967). Cần ghi nhận rằng: việc ban ân xá không phải là lỗi thời, nhưng được gắn liền với tín điều Hiệp thông các thánh. Thực vậy, ân xá là việc tha thứ trọn vẹn hay một phần những hình phạt tạm thời do các tội đã phạm, dù các tội này đã được tha về phương diện lỗi phạm. Người tín hữu nhận được ân xá khi có lòng chân thành thực hiện một số điều kiện được quy định, qua sự can thiệp của Hội thánh. Là Thừa tác viên ban phát ơn cứu độ, Hội thánh có quyền ban phát kho tàng đền bồi của Đức Ki-tô và của các thánh. Các ân xá, đại xá hay tiểu xá, được ban cho các tín hữu. Có thể giữ lại cho mình hay nhường cho người đã qua đời, nhưng không thể nhường cho người còn sống.

Trong phụng vụ, cần lưu ý rằng: linh mục có quyền ban ơn toàn xá cho người hấp hối (in articulo mortis), đặc biệt khi ban bí tích Xức dầu hoặc ban Của Ăn đàng. Ai tham dự nghi thức Suy tôn Thánh giá ngày thứ sáu tuần Thánh cũng được lãnh nhận ơn toàn xá, nếu có ý muốn lãnh nhận.

Theo truyền thống, việc tham dự thánh lễ và các bí tích không đem lại ân xá, vì thánh lễ và bí tích đã có hiệu quả trổi vượt là thánh hóa và tẩy luyện. Trong những trường hợp đặc biệt (rước lễ lần đầu, lễ mở tay, các cuộc lễ mừng kỷ niệm) nếu có ban ân xá thì không phải vì do tham dự thánh lễ hay bí tích, nhưng là vì những trường hợp đặc biệt đi kèm với việc cử hành thánh lễ hoặc bí tích. Mọi việc lành, nếu được hưởng ân xá, chỉ vì có liên hệ với đời sống phụng vụ, nguồn mạch và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Ki-tô giáo (xc. Sống).

 Ấn Tích (= Caraetère)

Ấn tích là hiệu quả đầu tiên và bền bỉ của các bí tích chỉ lãnh nhận một lần: Thánh tẩy, Thêm sức và Truyền chức. Có thể làm mất ân sủng là hiệu quả cuối cùng của mọi bí tích, nhưng không thể mất dấu tích thiêng liêng in vào tâm hồn qua ba bí tích vừa nói trên. Ấn tích là một một năng quyền thánh được ban cho để cử hành phụng vụ. Chỉ có con cái Thiên Chúa được ghi dấu Thánh Thần để trở thành nghĩa tử (2 Cr 1,12; EP 1,13) mới được cử hành Giao ước chung cục trong Bửu huyết Đức Ki-tô, được tiến vào công cuộc ngợi khen Vinh quang (Ep 1,14) nhờ tham dự vào địa vị của Con Thiên Chúa. Chỉ những người được đóng ấn của Thiên Chúa trên trán (Kh 7,3tt; 9,4) mới được tham dự phụng vụ thiên quốc. Khi tham dự phụng vụ dưới thế, đó cũng là tham dự trước phụng vụ trên trời.

Nhờ ấn tích Thánh tẩy và Thêm sức, mọi Ki-tô hữu được tham dự phụng vụ một cách sung mãn, liên kết với Đức Ki-tô như Hôn thê với Hôn phu, và như thế, được tham dự vào đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, trong địa vị là người con, Ấn tích Truyền chức đồng hóa Ki-tô hữu sâu xa hơn với sứ vụ của Con Thiên Chúa nhập thể, để phục vụ ơn cứu độ (phó tế) và để tế tự (giám mục và linh mục), vì lợi ích của toàn Dân Chúa. Linh mục không phải chỉ là người hành động hiệp nhất với Đức Kitô để dâng lên Chúa Cha mọi danh dự và vinh quang, nhưng còn là người hành động như chính Đức Ki-tô (in persona Christi). Khi đứng trước cộng đoàn, linh mục là hiện thân sống động của Đức Ki-tô trong Hội thánh, dấu tích của chính Hôn phu. Nếu không có ấn tích Truyền chức ghi trên một số phần tử của Dân Chúa, thì ấn tích của Thánh tẩy và Thêm sức sẽ mất đi năng quyền quan yếu nhất: tức là việc liên kết có tính khách quan và bí tích với Đức Ki-tô, và việc tham dự sung mãn vào Hy tế của Người (xc. Cộng đoàn Phụng vụ, Tư Tế).

B

 Ba Lần Thánh (= Trisagion)

Tiếng Hy Lạp trisagion có nghĩa là ba lần thánh. Trong phụng vụ Hy Lạp, từ này chỉ kinh Thánh, Thánh, Thánh. Đây cũng là điệp khúc ba lần Hagios trong những lời Than vãn ngày thứ sáu Tuần Thánh (xc. Hagios o theos).

 Ba Ngôi (= Trinité)

Chúa nhật sau ngày lễ Ngũ tuần là lễ trọng kính Chúa Ba Ngôi. Vào cuối chu kỳ phụng vụ kính mầu nhiệm Nhập thể và Cứu độ (Giáng sinh, Phục sinh), kết thúc bằng việc ban Thánh Thần, Hội thánh có ý dừng lại ở mầu nhiệm Ba Ngôi. Dù lễ này nhắm đến ý nghĩa tín lý, có lẽ xa lạ với cung giọng quen thuộc của những ngày lễ trọng cổ truyền (đó cũng là trường hợp của lễ Mình Máu Thánh), việc mừng kính mầu nhiệm Ba Ngôi là một lời nhắc nhở thích hợp về nguồn mạch và đích điểm của toàn bộ đời sống Ki-tô giáo.

Mọi cử hành phụng vụ đều bắt đầu bằng công thức “Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, hòa nhịp với kinh chúc tụng “Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa”, hay những vinh tụng ca khác về Chúa Ba Ngôi (xc. Per Ipsum). Chính vì đã được thánh tẩy “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, nên người Ki-tô hữu có thể cử hành Giao ước, nhờ chức tư tế cộng đồng: không chỉ sẵn sàng đón nhận tác động cứu độ của Chúa Ba Ngôi. Các tín hữu nên nhớ: phụng vụ Giê-ru-sa-lem trên trời chính là việc cử hành chúng ta được tham dự thực sự thông qua phụng vụ trần thế và là việc tháp ghép hoàn hảo của Hội thánh, Hiền thê và Thân mình Đức Ki-tô, vào trong đời sống Chúa Con, Đấng sinh ra bởi Chúa Cha và trong Chúa Thánh Thần và lại trở về với Chúa Cha trong cùng một Thánh Thần (xc. Vinh quang, Chúa Thánh Thần, Giao ước, Cộng đoàn).

 Bài Công Bố Các Lễ Di Động (= Annonce des fêtes mobile)

Theo phong tục cổ xưa của phụng vụ Rô-ma, vào ngày lễ Hiển linh, người ta có thể hát bài công bố các lễ di động sau bài Tin mừng. Âm điệu của bài này rất gần với âm điệu của phần dẫn nhập trong bài ca Exultet, tức là bài công bố Tin mừng Phục sinh. Những bài ca với nhạc điệu rất đơn giản này có nguồn gốc rất xa xưa từ bình ca ghê-gô-ri-a-nô.

 Bài Công Bố Tin Mừng Phục Sinh (= Exultet)

Còn gọi là bài Exultet, do động từ La-tinh exultare, nghĩa là nhảy mừng, hân hoan vui sướng. Exultet là bài công bố long trọng lễ Phục sinh do một phó tế hát lúc khởi đầu đêm canh thức trọng thể, sau nghi thức làm phép lửa mới, chuẩn bị nến Phục sinh và cuộc rước vào thánh đường dưới ánh nến Phục sinh. Bài ca Exultet kết thúc phần đầu của đêm canh thức mừng ánh sáng Đức Ki-tô phục sinh.

Mừng vui lên hỡi các cơ binh Thiên thần trên trời! Đó là lời mở đầu bài ca trọng thể này, một tổng hợp đầy thi vị, cô đọng toàn thể mầu nhiệm Phục sinh và tất cả niềm vui xuất phát từ mầu nhiệm đó. Bài ca xuất hiện ít là từ thế kỷ IV. Sau khi hân hoan hát lời mở đầu, thầy phó tế hát tiếp phần xướng đáp của kinh Tiền tụng như trong thánh lễ, rồi đến phần chính của bài Exultet, bằng giọng trang trọng của kinh Tiền tụng Rô-ma,, điểm thêm những biến tấu khác thường.

Trong suốt thời gian hát bài Exultet, các tín hữu cầm nến sáng trong tay và hiệp thông với niềm hân hoan của thầy phó tế bằng lời thưa A-men, kết thúc. Thầy phó tế xin và nhận phép lành của chủ tế trước khi hát, giống như khi hát hoặc đọc Tin mừng trong thánh lễ. Linh mục hoặc giáo dân cũng có thể đảm nhận trách nhiệm này khi không có thầy phó tế, nhưng bỏ phần xin chúc lành.

 Bài Đọc (Giờ Kinh) (= Lecon)

Là bài đọc khi cử hành phụng vụ, gồm bài dài trong giờ kinh Sách, bài ngắn trong các giờ kinh khác (xc. Bài đọc).

 Bài Đọc (Sách) (= Lectionnaire)

Đây là sách phụng vụ gồm các bài đọc đã được soạn sẵn cho các buổi cử hành lễ. Người ta phân biệt Sách bài đọc Chúa nhật và ngày trong tuần, Sách bài đọc cho các nghi lễ Rửa tội, Hôn phối, An táng… Ngoài ra, còn có Sách bài đọc sử dụng trong giờ kinh Sách.

 Bài Đọc (Văn Bản) (= Lectures)

Trong thánh lễ, cũng như trong các buổi cử hành khác, các bài đọc không chỉ có mục đích loan báo hay giáo huấn cho các tín hữu, nhưng còn thực sự là bản công bố chương trình của Thiên Chúa trong Lịch sử Cứu độ, một sự hiện thực hóa Mặc khải cho cộng đoàn phụng vụ. Chính trong phụng vụ, Thánh kinh cho thấy những chiều kích đích thực của “Lời Thiên Chúa sống động và hữu hiệu” (Dt 4,12). (xc. Thánh kinh, Tin mừng).

Trong các Giờ kinh Phụng vụ, giờ kinh Sách được dành để suy niệm Thánh kinh và những trang tuyệt tác của các văn nhân chuyên về đời sống thiêng liêng, đặc biệt là các giáo phụ. Giờ kinh Sách gồm có: lời dẫn, thánh thi, ba thánh vịnh hoặc các phần thánh vịnh, bài đọc Thánh kinh với phần xướng đáp, bài đọc giáo phụ hay hạnh tích các thánh kèm phần xướng đáp, và phần kết thúc. Để giờ kinh giữ được tính cách riêng của việc đọc sách thiêng liêng, tức là lời cầu nguyện nội tâm kín múc từ Thánh kinh và Thánh truyền, có thể cử hành giờ kinh này vào thời điểm thuận tiện nhất trong ngày. Nếu giờ kinh sách được cử hành trước tiên trong ngày, nó được khởi sự với lời giáo đầu. Các Giờ kinh Phụng vụ khác có một bài đọc ngắn sau các thánh vịnh (xc. bài đọc).

 Bài Đọc Ngắn (= Capitule)

Đây là một trích đoạn từ một chương trong Thánh kinh, dùng làm bài đọc ngắn sau phần thánh vịnh của một Giờ kinh Phụng vụ.

 Bài Đọc Tin Mừng (Sách) (= Evangéliaire)

Sách có những đoạn Tin mừng được dùng để công bố hay hát Tin mừng trong thánh lễ.

 Bài Giảng (= Homélie)

Đây là bài huấn từ của chính vị chủ tế (hoặc một linh mục khác hay một phó tế). Bài giảng tiếp ngay sau bài Tin mừng, có mục đích hiện tại hóa các bài đọc mỗi ngày cho cộng đoàn; và như vậy giúp các tín hữu cử hành Thánh Thể một cách đích thực hơn. Bài giảng được coi như thành phần thiết yếu của phụng vụ, nên buộc phải giảng trong các lễ Chúa nhật và lễ buộc, kể cả trong các lễ tu viện có giáo dân tham dự. Trong các thánh lễ khác cũng nên có bài giảng.

 Bái Gối (= Génuflexion)

Bái gối là một hành vi thờ phượng, tỏ bày sự tôn kính bằng cả thân xác. Khác với việc quì gối là một tư thế ổn định, bái gối là một cử chỉ nhất thời. Trong thánh lễ, linh mục bái gối sau mỗi lần thánh hiến và trước khi hiệp lễ. Qua việc bái gối hoặc bằng một cử chỉ thờ phượng khác lúc sắp hiệp lễ. Các tín hữu biểu lộ lòng kính trọng đối với Thánh Thể. Trước Thánh Thể, dù được trưng ra hay cất giữ trong nhà tạm, người ta đều bái một gối.

 Bàn Chuẩn Bị Lễ Vật (= Crédence)

Lúc đầu đó là cái bàn trên đó người ta đặt những đồ ăn đồ uống cần phải thử trước khi dọn cho các bậc vị vọng. Người ta nếm trước để có thể an tâm dọn cho các thực khách.

Trong phụng vụ, đó là cái bàn để đặt chén thánh, dĩa, bình thánh, bánh rượu và nước cần dùng cho bữa tiệc hiến tế Thánh Thể. Các sách, nến và những thứ khác cần dùng trong nghi lễ cũng thường được đặt trên đó. Tất cả những thứ này sẽ được mang lên bàn thờ vào những lúc qui định.

 Bàn Thờ (= Autel)

Trong La ngữ, từ altare, bắt nguồn từ chữ altus nghĩa là cao. Thoạt đầu, bàn thờ là một nơi cao dùng làm điểm giao kết giữa Thiên Chúa và thế giới. Bởi vậy, các ngọn núi hay các quả đồi là những nơi dành riêng để xây dựng các tế đàn nơi Thiên Chúa ngự xuống, và là nơi con người đi lên “Chạm núi cao cho khói tỏa mịt mù” (Tv 143,5). Cũng có khi một tảng đá từ trời rơi xuống – thiên thạch – làm cho nơi ấy thành một nơi phụng tự (chẳng hạn thánh địa La Mecque). Mặc dù bàn thờ cũng có thể ám chỉ toàn bộ một nơi thờ phượng (Đông phương vẫn giữ thói quen này), nhưng dần dần được dùng để chỉ nơi trung tâm, tức là cái bàn, trên đó người ta dâng lên Thiên Chúa hoa màu lợi tức của mình. Việc đặt các thực phẩm ấy trên bàn thờ bằng đá như vậy là đặt chúng trong tay Thiên Chúa, hỏa thiêu chúng tức là dâng chúng lên trời để Thiên Chúa thưởng thức linh hương ngạt ngào của chúng (xc. St 8,21). Là cái bàn trên đó các lễ vật chuyển sang lãnh vực linh thánh, đương nhiên bàn thờ tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Chính vì thế, bàn thờ không phải là nơi ai cũng được đụng chạm đến, thông thường chỉ có các tư tế mới được tới gần (xc. Xh 29), với những cử chỉ cung kính, như việc hôn kính bàn thờ trong thánh lễ.

Là bàn dâng lễ toàn thiêu, trên đó tế vật hoàn toàn trở thành khói hương bay lên Thiên Chúa, nên bàn thờ cũng là nơi Thiên Chúa và cộng đoàn cùng chia sẻ lương thực, dấu chỉ hiệp thông. Lương thực do Chúa ban được dâng lại cho Người, phần còn lại thuộc về con người và được nhìn nhận như là vật thánh thực sự (xc. Bữa tiệc). Thiên Chúa và con người hiệp thông trong cùng một sự sống: cả hai đều là thực khách. Khi kết thúc giao ước Xi-nai, một phần máu của các vật hy lễ được rưới trên bàn thờ, tượng trưng cho Đức Gia-vê, còn lại phần kia rẩy trên dân. Nhờ hy lễ, Thiên Chúa và con người trở thành đồng huyết thống (xc. Xh 24).

Trong Tân ước, xét như Thiên Chúa, Đức Ki-tô là Bàn thờ: với tư cách nhân loại, Người là Lễ vật và Tư tế. Lời tiền tụng thứ 5 của mùa Phục sinh tung hô: “Khi Người hiến mình trên thánh giá, Người đã làm cho hết thảy các hy lễ của Giao ước cũ đạt đến thành toàn; và khi hiến thân để cứu độ chúng con, chỉ một mình Người là bàn thờ, tư tế và tế vật”.

Khi thánh hiến bàn thờ, việc dùng dầu thánh xức trên năm dấu thánh giá (ở giữa và bốn góc) và trên khắp mặt bàn thờ, biến tảng đá ấy biến thành biểu tượng của Đức Ki-tô, Đấng đã được xức dầu Thánh Thần. Việc xông hương bàn thờ biểu trưng cho hy lễ Đức Ki-tô. Đấng hiến mình cho Chúa Cha tựa hương thơm ngào ngạt (Ep 5,2), đồng thời biểu tượng cho lời cầu nguyện nhờ Thánh Thần tác động trong tâm hồn. Khăn trải bàn thờ cho thấy đó là bàn tiệc Thánh Thể, nơi đây Thiên Chúa và con người cùng hiệp thông, không phải bằng máu của súc vật hy tế, nhưng trong Bửu huyết của Ngôi Lời nhập thể, Đấng đã chết và phục sinh. Những ngọn nến bao quanh bàn thờ gợi lên Đức Ki-tô là “Ánh sáng muôn dân” (Lc 2,32). Bên dưới mặt bàn thờ có đặt hài cốt các thánh: đó là biểu hiện sự hiệp nhất giữa hy lễ của Đầu và các chi thể trong Nhiệm Thể.

Trong các thánh đường, bàn thờ, nơi tái diễn hy lễ độc nhất của Tân ước, là trọng tâm qui tụ của toàn bộ toàn kiến trúc. Nhằm làm nổi bật hơn nữa giá trị đích thực của bàn thờ, không nên đặt nhà tạm ở đó. Ngoài những cử chỉ tôn kính dành cho bí tích Thánh Thể (xc. Bái gối), bàn thờ cũng xứng đáng được các tín hữu biểu lộ sự cung kính hơn cả thánh giá nữa (xc. Cúi). Việc các linh mục hôn bàn thờ khi cử hành thánh lễ là biểu hiệu của lòng tôn kính và sự hiệp thông. Bàn thờ, Tư tế và Hiến tế Tạ ơn là những biểu tượng của Đức Ki-tô theo những cấp độ khác biệt, nhưng bổ túc cho nhau.

Chỉ có bàn thờ cố định mới được thánh hiến. Một bàn thờ di động được làm phép do đức giám mục hay vị linh mục phụ trách nhà thờ nơi đặt bàn thờ đó và không đặt hài cốt các thánh bên dưới.

 Bánh (= Pain)

Bánh là thức ăn chính yêu của con người, nhất là ở Tây phương. Bánh còn là biểu tượng của thực phẩm. Với ý nghĩa này, bánh được dâng lên Thiên Chúa như lễ vật. Trong Giao ước cũ, Đức Gia-vê truyền dâng cho Người bánh tiến – theo nghĩa đen, là bánh của Nhan Người – Bánh này được đặt trước Nhan Thiên Chúa suốt cả tuần, trong nơi thánh Lều Tạm hay Đền thờ, trước khi được vị tư tế lãnh nhận (Xh 25,30; Lv 24,5-9; 1 Sm 21,5). Thiên Chúa muốn con người luôn nhớ rằng: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3; Mt 4,4).

Ngôi Lời Thiên Chúa là Lời đến từ Thiên Chúa và lại về với Thiên Chúa (Is 55,11). Chỉ Lời Chúa mới có khả năng “làm cho tâm hồn con người được vững mạnh” (Tv 103,15). Trong diễn từ về Bánh Hằng sống (Ga 6), Đức Giê-su tuyên bố Người là “Bánh Thiên Chúa ban, là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (6,33). Chính Chúa Cha là Đấng ban cho chúng ta Bánh Hằng sống, và chính Ngôi Lời Nhập thể đã tự hiến mình khi ban tặng Thân thể Người để thế gian được sống (6,51).

Trong bí tích Thánh Thể, Thân thể Đức Ki-tô là của ăn và Bửu huyết Người thật là của uống (6,55). Khi lãnh nhận Thân và Huyết Đức Ki-tô, Ki-tô hữu tham dự vào hy tế của Người, hiệp thông với chính Chúa Con, Đấng sống nhờ Chúa “lương thực cần dùng” (Mt 6,11, theo ý nghĩa nguyên thủy của từ Hy Lạp épousios). Do đó, chúng ta không ngừng dâng lên Chúa Cha lời kinh Lạy Cha. Bánh Chúa Cha ban cho chúng ta là chính Con của Người đã tự hiến vì chúng ta, và bánh chúng ta dâng lên Chúa Cha cũng chính là Người Con ấy. Trong phụng vụ, đó là hai chiều kích không thể tách rời được (xc. Bánh không men; Tế phẩm).

Trong một vài trường hợp, chẳng hạn lễ Hiển linh, trước khi chuẩn bị lễ vật, người ta có thói quen chúc lành trên bánh và các thứ bánh không thánh hiến. Các nghi thức làm phép bánh rất cổ xưa. Việc lãnh nhận bánh này đôi khi thay thế việc hiệp lễ, khi không thể hiệp lễ theo đúng nghĩa được.

 Bánh Không Men (= Azyme)

Hội thánh Tây phương có thói quen dùng bánh không men trong phụng vụ Thánh Thể, căn cứ vào tính chất lễ Vượt qua của bữa Tiệc ly đầu tiên. Trong bữa tiệc này, Đức Giêsu chắc hẳn đã dùng bánh không men theo nghi thức mừng lễ Vượt qua của người Do Thái. Ngược lại, Hội thánh Đông phương quen cử hành Thánh Thể với bánh thông thường. Những cách thực hành khác biệt này giữa Hội thánh Hy Lạp và Hội thánh La-tinh đã là nguyên nhân phát sinh những cuộc tranh luận. Nhưng rất may là những tranh luận ấy ngày nay đã bớt phần gay gắt.

Từ khởi thủy, việc dâng bánh không men là một nghi lễ hiến tế của các nông dân định cư, gắn liền với việc cử hành lễ Vượt qua: việc cử hành này mô phỏng theo một hiến lễ của các người chăn chiên du mục qua việc sát tế chiên vượt qua (xc. Xh 12 và 13). Đức Ki-tô, lễ Vượt qua của chúng ta, vừa là Con Chiên vô tì tích, vừa là bánh chân thực, không vương một chút men cũ là lòng gian tà và độc ác (1 Cr 5,5-8).

Đúng ra, Tin mừng nói về men theo một nghĩa tích cực và một nghĩa tiêu cực. Đức Giêsu nói tới lời giảng dạy của các người Pha-ri-sêu như một thứ men xấu, có thể làm hư cả khối bột (Mt 16,5-12; Xc. 1 Cr 5,6; Gl 9). Nhưng chỗ khác, Người lại nói: “Nước Trời giống như men được một người đàn bà lấy trộn vào ba đấu bột cho đến khi tất cả dậy men” (Mt 13,33). Câu trích dẫn này cùng với những câu khác nữa có thể biện minh cho tập tục của Hội thánh Đông phương.

 Bao Đựng Khăn Thánh (= Bourse)

Là một tấm bìa hình vuông, có thể mở và gấp được, dùng để đựng khăn thánh. Bao này thường cùng màu với áo lễ và được đặt trên tấm khăn phủ chén thánh. Ngày nay, người ta có khuynh hướng đặt khăn thánh bên dưới tấm khăn phủ chén thánh, và vì thế, không cần bao này nữa. Tuy nhiên, người ta vẫn còn dùng bao này khi chầu phép lành Thánh Thể.

 Bẻ Bánh (= Fraction du pain)

Bẻ bánh là một trong những danh xưng cổ nhất để chỉ Thánh Thể (Lc 24,35; Cv 2,42). Theo nghi thức bữa ăn của người Do Thái, sau khi đọc lời chúc tụng, vị chủ tọa bẻ bánh chia cho các thực khách. Đức Giê-su đã thi hành những cử chỉ này trong hai lần Người làm cho bánh hóa nhiều (Mt 14,19; 15,36; Ga 6,11) và lúc Người thiết lập bí tích Thánh Thể (Lc 22,19). Từ lúc đó, nghi lễ bẻ bánh trở thành biểu tượng để chỉ Đức Ki-tô – Người Tôi Trung dâng hiến mạng sống mình để chúng ta được sống dồi dào: Người tự trao nộp để được bẻ ra (qua đau khổ) và phân phát cho mọi người. Như vậy bẻ bánh trở thành động tác cốt lõi của phụng vụ Ki-tô giáo (Cv 2,46; 20,7.11; 27,35; 1 Cr 10,16).

Trong lúc cử hành thánh lễ, sau lời chúc bình an, đang khi đọc kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, chủ tế bẻ bánh Thánh Thể. Khi đưa lời cầu khẩn đó vào trong thánh lễ, đức Giáo hoàng Xéc-gi-ô (687-701) qui định phải hát kinh này trong lúc cùng nhau chia sẻ Mình Chúa. Bẻ bánh là một cử chỉ chuẩn bị hiệp lễ, cần thực thi với lòng sùng kính đặc biệt, vì đó là lặp lại cử chỉ của Chúa. Tính cách biểu tượng của cử chỉ này được nhấn mạnh qua ba lần kêu cầu Chiên Thiên Chúa, Đấng đã nộp mình vì chúng ta, Đấng chúng ta hưởng dùng như là Chiên Vượt qua mới. Bẻ bánh trong thánh lễ đồng tế càng cần thiết và ý nghĩa hơn: một tấm bánh Thánh Thể duy nhất, phân phát cho các vị đồng tế và ít là vài tín hữu, sẽ diễn tả biểu tượng hiệp nhất rõ ràng hơn (xc. 1 Cr 10,16-17).

 Bể Nước (= Piscine)

Bể nước thanh tẩy là một cái hồ lớn, nơi người ta làm Thanh tẩy bằng cách dìm. Cũng có thể là một cái chậu để rửa tội bằng cách đổ nước (xc. Giếng, Thánh tẩy). Trong ngôn ngữ phụng vụ, bể nước còn chỉ một cái bồn ở gần bàn thờ, hoặc trong giếng rửa tội, hoặc trong phòng thánh, dùng để xả nước đã dùng trong bí tích Thánh tẩy và trong việc tẩy rửa các đồ thánh khác.

 Bí Tích (Bảy) (= Sacrement)

Bí tích là một hành vi hay một thực tại liên hệ tới sự linh thánh. Ý nghĩa đầu tiên của từ sacramentum trong tiếng La-tinh là lời thề: người ta thề dựa trên điều linh thánh. Bí tích bao gồm sự linh thánh giống như thuốc men (medicamentum), sự chữa trị, hoặc giống như đài tưởng niệm (monumentum), gồm chứa điều người ta phải ghi nhớ (monere).

Nhân tính của Đức Ki-tô, kết hợp với ngôi vị Con Thiên Chúa, có thể gọi được là bí tích của Thiên Chúa: “Nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9). Chính từ nhân tính của Đức Ki-tô đã phát sinh ra đời sống thần linh làm sống động tất cả mọi chi thể của Nhiệm thể Người. Như vậy, bí tích trọn vẹn của Thiên Chúa – hoặc bí-tích-nguồn-mạch – là toàn Thân mình Đức Ki-tô, gồm Đầu và các chi thể, chứa đựng sự sống của Thiên Chúa. Trong viễn tượng đó, Công đồng Va-ti-ca-nô II đã muốn định nghĩa Hội thánh. “Trong Chúa Ki-tô, như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (GH 1). Thực vậy, trong khi chờ đợi Hội thánh được sáp nhập trọn vẹn vào đời sống của Thiên Chúa, Đức Ki-tô, Đấng đang ngự trị trong vinh quang Thiên Chúa, đã thánh hóa Thân mình của Người, không phải trực tiếp qua nhân tính thánh thiện, nhưng nhờ Hội thánh là Hiền thê và là Người Cộng tác trong công trình cứu độ của Người. Chính trong bí tích nguồn mạch, tức là Hội thánh, Thánh truyền đã giữ lại bảy bí tích, là những hành vi chính yếu của Chúa Ki-tô và của Hội thánh để thánh hóa con người.

Là những dấu hiệu bên ngoài mang ân sủng bên trong, hoặc là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, nên các bí tích phù hợp với bản tính con người, vừa tinh thần vừa thể chất. Khi người ta nói bí tích tác động do sự (ex opere operato), thì không nên hiểu rằng các bí tích có hiệu quả một cách máy móc, nhưng đúng hơn, đó là những tác động của Thiên Chúa được Đức Ki-tô trực tiếp thiết lập, mang lại hiệu quả theo sự chuẩn bị của người lãnh nhận. Chính qua các bí tích, phụng vụ biểu lộ rõ ràng nhất cách thức gặp gỡ giữa Thiên Chúa và Dân Người, sự gặp gỡ do sáng kiến của Thiên Chúa và sự đồng ý của con người (xc. Phụng vụ).

Vì đời sống ân sủng gắn liền với đời sống tự nhiên của con người, nên các bí tích thánh hóa những giai đoạn chính yếu của đời sống cũng như những tình huống quan trọng của nhân loại. Bí tích Thánh tẩy là sự sinh ra trong đời sống thần linh; bí tích Thêm sức là đánh dấu việc đạt đến tầm mức trưởng thành trong đức tin; bí tích Thánh Thể là nền tảng của toàn bộ các bí tích vì đó là sự hiện tại hóa một cách mỹ mãn Giao ước và sự hiệp thông hoàn toàn với Đức Ki-tô. Ba bí tích đầu tiên này là các bí tích khai tâm. Bí tích Hôn nhân thánh hóa sự kết hợp vợ chồng nhằm sinh sản và giáo dục con cái; bí tích Truyền chức đem lại cho Hội thánh những thừa tác viên: giám mục, linh mục, phó tế; bí tích Sám hối giúp tìm lại đời sống ân sủng hay thực thi đời sống đó một cách sâu xa hơn. Bí tích Xức dầu bệnh nhân vừa là sự nâng đỡ vừa là sự tẩy luyện trong viễn tượng một cuộc hành trình tiến đến đời sống đích thực cùng với Đức Ki-tô.

Về hiệu quả của bí-tích, thánh Âu Tinh phân biệt sacramentum tantum là dấu hiệu thuần túy ngoại tại, như việc đổ nước, sử dụng bánh, rượu; res tantum là hiệu quả tối hậu của các bí tích tức là ân sủng của Thánh Thần ban trong mỗi lãnh vực bí tích; và cuối cùng là res et sacramentum là thực tại trung gian, vừa là hiệu quả trước tiên, vừa là dấu chỉ hiệu quả tối hậu: đây là ấn tích trong các bí tích Thánh tẩy. Thêm sức, Truyền chức và là sự hiện diện thực sự của Chúa trong bí tích Thánh Thể. (Xin tham khảo thêm những khảo luận thần học. Xc. Chất liệu, Mô thức, Thánh Thần).

 Bí Tích (Sách) (= Sacramentaire)

Trong phụng vụ Ki-tô giáo thời sơ khai, sách bí tích là sách linh mục dùng khi cử hành thánh lễ, gồm các lời cầu, các kinh tiền tụng, kinh Tạ ơn. Các sách bí tích của đức Lê-ô Cả (thế kỷ IV-V), đức Ghê-la-xi-ô (VI-VII) và đức Ghê-gô-ri-ô (VII) là những nguồn tài liệu chính của sách lễ Rô-ma.

 Bìa Xếp (= Diptyques)

Thời đầu, bìa xếp chỉ đồ vật có thể gấp làm đôi: bìa xếp là những tấm bìa có thể gấp lại với nhau; bìa gấp ba là tấm bìa gấp lại thành 3 phần bằng nhau, hai phần mép bìa đặt lên nhau.

Trong phụng vụ, bìa xếp là những tấm bìa gấp đôi, trên đó ghi tên người sống và người chết được đến trong Lễ qui. Trong số những người còn sống, phải đặc biệt nhắc đến các vị lãnh đạo Hội thánh để bày tỏ mối hiệp thông với các vị ấy. Vì thế, việc rút danh tính một người ra khỏi tấm bìa xếp có nghĩa là khai trừ người đó khỏi cộng đoàn. Trong số những người chết, các thánh thuộc diện ưu tiên: xét về nguồn gốc, phong thánh lại chẳng phải là ghi danh vào kinh Tạ ơn sao?

Trong kinh Tạ ơn Rô-ma, những tấm bìa xếp tồn tại dưới hình thức kinh cùng hiệp thông (Communicantes) và kinh xin cũng cho chúng con (Nobis quoque), gồm một danh sách các thánh khá dài, và hai kinh xin nhớ đến (Memento), một cầu cho người sống và một cầu cho người chết (xc. Kinh Tạ ơn).

 Biến Hình – Hiển Dung (= Transfiguration)

Là lễ kính Chúa mừng vào ngày 6 tháng 8. Lễ Biến hình mừng biến cố các tông đồ Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê được chiêm ngắm vinh quang của Đức Ki-tô, tám ngày sau khi ông Phê-rô tuyên tín tại Xê-da-rê và Đức Ki-tô loan báo cuộc tử nạn lần thứ nhất. Đức Giê-su muốn củng cố tâm hồn các tông đồ trước các đau khổ đang chờ đợi Người. Người đã nói với các ông những lời sau này Người sẽ nói với các môn đệ trên đường Em-mau: “Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế, rồi mới được hưởng vinh quang dành cho Người hay sao?” (Lc 24,26). Như vậy, lễ Biến hình là một ngày lễ của vinh quang, là sự tiến đến đích điểm Lịch sử Cứu độ, tức là tham dự hoàn toàn vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu như các ông Mô-sê và Ê-li-a rạng ngời vinh hiển, đó chính là vì các ông đã tham dự một phần vào vinh quang tại núi Xi-nai (xc. Xh 33,18-23; 1 V 19,9-14). Khi ông Phêrô nêu lên việc dựng lều – mặc dù chính ông không biết mình nói gì (Lc 9,33) -đó là một ám chỉ lều Hội ngô, tại đó Đức Chúa đã đàm đạo với ông Mô-sê, diện đối diện (Xh 33,7-11). Đám mây cũng gợi đến sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người trong cuộc Xuất hành (13,21-22; 19,9; 33,9-10). Tiếng nói của Chúa Cha, cũng là những lời trong đó Chúa Con được sinh ra, cho thấy chúng ta chỉ có thể tham dự vào vinh quang của Chúa Con (xc. Ga 7,22-24) bằng việc lắng nghe Đức Giê-su và bước theo Người. Lễ Biến hình là một lời mời gọi hướng tới vinh quang, và cũng là một nhắc nhở về hành trình đau khổ dẫn tới vinh quang.

 Biến Thể (= Transsubstantiation)

Vào thế kỷ XVI, từ Biến thể được Công đồng Tren-tô thừa nhận, tuy nhiên nó đã được ông Tê-tu-li-a-nô (thế kỷ II-III) và cả thời Trung cổ sử dụng để nói về sự biến đổi kỳ diệu vào lúc truyền phép trong thánh lễ. Bản thể – cốt lõi của hữu thể – của bánh đã được biến đổi thành bản thể của Mình Đức Ki-tô, và bản thể của rượu được biến đổi thành bản thể của Máu Đức Ki-tô. Như vậy, từ biến thể là một cố gắng giải thích các lời Đức Ki-tô nói trong bữa tiệc ly: “Đây là Mình Thầy… Đây là Máu Thầy” (xc. Thánh Thể).

 Biển Đức (Đan sĩ) (= Bénédictins)

Là các tu sĩ thuộc dòng thánh Biển Đức (từ La-tinh là Benedictus). Qua tu luật, các tu sĩ này hiến thân tìm kiếm Thiên Chúa, nên họ “không được ưa thích điều gì hơn là Công trình Thiên Chúa” (Tu luật ch. 43), nghĩa là việc phụng vụ. Truyền thống Biển Đức luôn đề cao việc cử hành trọng thể kinh Thần vụ. Về điểm này, thánh Biển Đức Aniane (thế kỷ VIII-IX) và các đan viện phụ Cluny (thế kỷ X-XII) đã củng cố những chỉ thị của Tu luật thánh Biển Đức. Các đan viện Biển Đức vẫn luôn là những trung tâm của sinh hoạt phụng vụ.

 Biểu Tượng – Kinh Tin Kính (= Symbole)

Trong Hy ngữ Symbolon chỉ một dấu để nhận ra nhau, hoặc một miếng thẻ làm tin, được sử dụng thời Trung cổ: hai vật lồng khít vào nhau, ăn khớp với nhau, chứng tỏ sự hiệp thông giữa những người sở hữu các vật đó.

Từ Symbolon không những có nghĩa là biểu tượng mà còn là kinh Tin kính. Đó là toàn bộ những điều khoản diễn tả các chân lý cốt yếu của đức tin. Đó là một cách để các tín hữu nhận ra nhau, một cách thiêng liêng chứ không phải cách vật chất. Kinh Tin kính là dấu chỉ chính yếu để nhận ra sự thông hiệp giữa các tín hữu. Khi sắp chịu phép Rửa tội, người ta trao kinh Tin kính như là môt điều bí truyền; đối với người lớn, đây mới chỉ là giai đoạn dự tòng. Trong thánh lễ ngày chúa nhật và lễ trọng, tín hữu cùng nhau tuyên xưng niềm tin của mình bằng kinh Tin kính các Tông đồ hoặc kinh Tin kính của các Công đồng Ni-xê và Công-tăng-ti-nô-pô-li.

Theo nghĩa tổng quát hơn, biểu tượng là một thực tại gợi lên, hoặc mang theo một thực tại khác. Biểu tượng tuy phong phú hơn, nhưng lại không chính xác bằng dấu chỉ. Vai trò chủ yếu của biểu tượng là vừa bày tỏ nhiều mức độ khác nhau của thực tại, vừa nối kết chúng lại: nơi con người toàn diện, biểu tượng diễn tả rõ nét sự hòa hợp của các sự vật. Phụng vụ là một tác động toàn diện, qua đó con người sống tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với thế giới, nên không thể vượt ra ngoài sự nối kết có tính cách biểu tượng. Thiên Chúa là Đấng không ngừng tập họp Dân Người bằng cách sử dụng toàn bộ những biểu tượng của cuộc sáng tạo; trái lại ma quỉ lại phân tán, chia lìa, cắt đứt. Ý nghĩa các dấu chỉ bí tích tác dụng bên trong tính chất biểu tượng của các thành tố được sử dụng trong bí tích Thánh Thể; đối với dầu và nước cũng vậy. Lửa, hương, nến… không phải là một dấu chỉ bí tích, nhưng là một biểu tượng.

 Bình (= Vase)

Trong phụng vụ, tiếng bình thánh để chỉ chung các chứa đựng: chén thánh, dĩa thánh, bình thánh, mặt nhật, hộp đựng Thánh Thể, bình đựng dầu thánh.

 Bình An (= Paix)

Trong thánh lễ, nghi thức chúc bình an được thực hiện ở giữa vinh tụng ca cuối lời nguyện tiếp theo kinh Lạy Cha và lời nguyện thầm của linh mục trước khi hiệp lễ. Nghi thức này gồm có lời nguyện xin ơn bình an, lời nguyện công khai duy nhất dâng lên Đức Ki-tô trong phần thường lễ, tiếp đó linh mục và các tín hữu chúc bình an cho nhau, cuối cùng là kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa”, kết thúc bằng lời cầu: “Xin ban bình an cho chúng con”.

Một khi đã được hòa giải với Thiên Chúa và với nhau, nhờ tái diễn hy lễ của Đức Ki-tô, và một khi đã cùng nhau hát kinh Lạy Cha, các tín hữu có thể trao cho nhau bình an trước khi đóng ấn lên mối quan hệ giữa họ với nhau qua việc hiệp lễ. Bình an là hoa trái tuyệt hảo của mầu nhiệm Vượt qua (Ga 14,27; 20,19.20.26; xc Ga 5,22).

Theo truyền thống, cử chỉ hoặc dấu hiệu bình an là cái hôn chúc bình an. Tự nó, cái hôn đã rất có ý nghĩa. Nhưng vì không phải ở đâu cũng quen cử chỉ ấy, nên có thể sử dụng nhiều cách chúc bình an khác. Trong vấn đề này, thái độ tinh tế và kính trọng những tập quán của người khác chính là dấu hiệu chúc bình an tốt nhất.

 Bình Ca (= Plain-chant)

Từ này không hoàn toàn đồng nghĩa với từ “nhạc Ghê-gô-ri-ô” (xc. Ghê-gô-ri-ô).

 Bình Thánh (= Ciboire)

Bình thánh là bình dành riêng đựng và lưu trữ Thánh Thể, để phân phát cho tín hữu trong hoặc ngoài thánh lễ. Thông thường, bình thánh có dạng bán cầu; khác với chén thánh, bình thánh thường có nắp đậy với cây thánh giá ở trên (xc. Áo nhà tạm; Hộp đựng Thánh Thể).

 Bộ Lễ (= Kyriale)

Trong sách Ca tiến cấp hoặc trong các Sách kinh giáo dân, bộ lễ là một phần của cuốn sách gồm các bài hát phần thường lễ, viết theo những giai điệu khác nhau, và còn tồn tại đến nay là: kinh Thương xót, kinh Vinh danh, kinh Thánh, Thánh, Thánh, và kinh Chiên Thiên Chúa, được đánh số từ I-XVIII; tiếp theo đó là các kinh tự do, nghĩa là tùy ý lựa chọn, gồm: kinh Tin kính, kinh Thương xót, kinh Vinh danh, Thánh Thánh Thánh và các câu Chiên Thiên Chúa để riêng. Toàn thể bộ lễ chỉ xuất hiện sau thế kỷ X và không dùng dấu neuma. Một vài kinh Thương xót có nguồn gốc tương đối muộn hơn, như kinh thứ VIII De Angelis, chịu ảnh hưởng nhạc Bình ca nhiều hơn là nhạc Ghê-gô-ri-ô.

 Bổn Mạng (= Patron)

Bổn mạng là vị thánh được chọn hoặc chấp nhận như là vị bảo trợ đặc biệt cho một cộng đoàn Ki-tô giáo nào đó: một quốc gia, tỉnh, giáo phận, giáo xứ, dòng tu. Vị thánh được người ta dâng kính một thánh đường hay một công trình kiến trúc thì gọi là thánh bảo trợ. Còn thánh bổn mạng là vị thánh che chở cho cả một nơi nào đó, một vùng đất hoặc một người: thị trấn hoặc thành phố, tỉnh , quốc gia, đại lục hoặc một dòng tu, một cộng đoàn tu trì.

Ngày lễ kính thánh bảo trợ của một thành, hoặc một cộng đồng, là lễ được mừng trọng thể trong tất cả các nhà thờ thuộc khu vực đó. Lễ thánh bảo trợ chính của một dòng tu cũng được cử hành trọng thể trong tất cả mọi nhà thuộc về dòng tu đó. Lễ thánh bảo trợ chính của một giáo phận, một tỉnh hay một quốc gia là lễ kính. Ngày lễ các thánh bảo trợ thứ hai là lễ nhớ buộc (xc. Lịch phụng vụ; Lễ riêng). Không thể chọn Ba Ngôi Thiên Chúa là Đấng Bảo trợ, vì chính Thiên Chúa không tự giới hạn quyền bảo trợ của mình vào một nơi nào, và cũng không phải là Đấng Bảo trợ ngang hàng với bất cứ ai khác.

 Bữa Tiệc (= Repas)

Là một hành vi của cộng đoàn để bồi bổ sức khỏe, từ ngữ bữa tiệc, trong tất cả mọi miền, đã được thánh hóa thành như một hành vi thánh thiêng, hoặc hy tế tuyệt hảo. Thật vậy, Bữa tiệc thánh là một hành vi, nhờ đó con người chính thức sống mối dây nối kết mình với vũ trụ, với người khác và với Thiên Chúa. Đó là khoảng thời gian đặc biệt để khi dùng các của ăn, người ta nhìn nhận mình là người cùng sống và đồng bàn, nghĩa là nhận mình lệ thuộc vào sự sống của Thiên Chúa và người khác (xc. Hy tế).

 C

Ca Đoàn (= Chorale)

Trong phụng vụ giáo xứ, ca đoàn có nhiệm vụ làm chỗ dựa cho cộng đoàn hát theo và họ chỉ hát riêng những phần khó hơn. Việc điều phối những phần vụ của chủ tế, của cộng đoàn và của ca đoàn không phải là chuyện đơn giản: phải tránh đừng để những buổi cử hành phụng vụ trở thành dịp trình diễn nhạc đạo. Nhưng hiển nhiên là trong toàn bộ hòa điệu của phụng vụ, vì lợi ích tinh thần của cộng đoàn, một vài phần ca hát phải được dành cho những giọng ca điêu luyện.

 Ca Tiến Cấp (= Graduel)

Xuất phát từ tiếng La-tinh gradus nghĩa là cấp, bậc. Thánh vịnh tiến cấp là những thánh vịnh dân Ít-ra-en hát trong khi bước lên các bậc Đền thờ, trong dịp hành hương về Giê-ru-sa-lem (Tv 119-133). Trong phụng vụ Rô-ma, các thánh vịnh tiến cấp hay các thánh vịnh khác được hát giữa bài thánh thư và bài Tin mừng. Người ta có thói quen hát thánh vịnh này ở giảng đài, vị trí hơi cao, có nhiều bậc bước lên, trong khi cung nghinh Tin mừng.

Ca tiến cấp Ghê-gô-ri-ô là bài hát xen giữa bài đọc đầu tiên và Tin mừng. Đó là một bài xướng đáp: phần thứ nhất mọi người đều hát và một câu do các ca viên hát. Để tôn trọng bản chất hát đối đáp trong thánh lễ, có thể lặp lại phần thứ nhất sau câu do ca viên hát. Phần lớn các bản văn trong sách hát Ghê-gô-ri-ô đều được trích từ tập thánh vịnh.

Vào ngày chúa nhật, ca tiến cấp được cất lên giữa các bài đọc một và hai, trừ mùa Phục sinh người ta hát Ha-lê-lui-a ở đầu. Ngày thường trong tuần và ngoài mùa Phục sinh, có thể hát ca tiến cấp hoặc Ha-lê-lui-a giữa bài đọc đầu tiên và bài Tin mừng. Mùa chay chỉ được hát ca tiến cấp. Vì ca tiến cấp là bài hát hoa mỹ nhất của nhạc Ghê-gô-ri-ô trong thánh lễ, nên trở thành tên gọi chung cho một tập gồm những bài hát khi cử hành thánh lễ: ca Nhập lễ, ca Tiến cấp, ca Tiếp liên, Ha-lê-lui-a, ca Tiến lễ, ca Hiệp lễ, kinh Thương xót. Do đó, ca tiến cấp là sách hát Ghê-gô-ri-ô được sử dụng trong thánh lễ. Theo như công đồng Va-ti-ca-nô II mong ước (PV 117), ca tiến cấp phổ thông đã được xuất bản gồm những giai điệu đơn giản hơn dùng cho những nhà thờ nhỏ, nơi không thuận tiện để hát những bài công phu.

 Ca Tiếp Liên (= Séquence)

Tiếng La-tinh sequentia nghĩa là tiếp theo, liên tiếp. Ca tiếp liên là bài ca có nhịp điệu tiếp nối và kéo dài câu Ha-lê-lui-a. (xc. Câu tung hô).

 Ca Tiếp Liên Mùa Chay (= Trait)

Tiếng La-tinh tractus, hay đầy đủ hơn là psalmus tractus nghĩa là thánh vịnh hát một mạch. Trong phụng vụ Ki-tô giáo sơ khai, ca tiếp liên khác ca tiến cấp ở chỗ chỉ có một người đơn ca chứ cộng đoàn không hát. Hiện nay, loại ca tiếp liên này được hát vào ngày chúa nhật và các ngày lễ trong mùa chay, giữa bài đọc hai và bài Tin mừng, thay thế cho Ha-lê-lui-a. Bản văn ca tiếp liên này hầu như bao giờ cũng trích từ thánh vịnh, thậm chí lấy nguyên cả một thánh vịnh (như Chúa nhật I mùa Chay và Chúa nhật Thương khó).

 Ca Tụng (= Louange)

Tiếng La-tinh, laus có nghĩa là ca tụng, vinh quang, kính trọng. Tán tụng là một trong những chiều kích chính yếu của kinh nguyện phụng vụ, đến nỗi sách thánh vịnh, tập sách diễn tả rõ rệt nhất hình thức cầu nguyện này còn được gọi là Tohillim, tiếng Híp-ri nghĩa là ca tụng. Ca tụng là vui thích vì vẻ đẹp và lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng đã nối kết chúng ta vào cuộc sống của Người, trong khi chờ đợi Người dẫn đưa chúng ta vào vinh quang của Người (xc. Vinh tụng ca).

 Ca Viên (=Choriste)

Ngay từ thế kỷ IV đã xuất hiện những ca đoàn thiếu nhi góp tiếng trong trẻo vào giọng ca của các bậc đàn anh. Các em có nhiệm vụ đọc sách, xướng ca hay xướng thánh vịnh, được qui tụ thành từng nhóm hát thánh ca thánh vịnh cạnh nhà thờ chính tòa hay đan viện. Tại đây, các em được đào tạo về âm nhạc, huấn luyện về nhân bản và tôn giáo.

Từ ngữ này thường được dùng để chỉ một cậu bé trong ban thánh ca thi hành nhiều nhiệm vụ khác nhau để giúp vị chủ tế. Ngày xưa gọi là cậu bé hát thánh ca.

 Ca Viên Tu Viện (= Schola)

Từ La-tinh schola phát xuất từ tiếng Hy-Lạp scholè có nghĩa là niềm vui chuyên chú vào việc học. Về sau có nghĩa là trường lớp nơi người ta theo học. Schola cantorum hoặc trường ca viên là một trường âm nhạc do thánh Ghê-gô-ri-ô Cả thiết lập ở Rô-ma để dạy các thiếu niên hát trong phụng vụ. Khi cử hành phụng vụ, các thiếu niên này đứng ở một vị trí đã chỉ định trong nhà thờ. Ngày nay, ca viên tu viện chỉ một nhóm các ca xướng viên. Trong các đan viện, các ca xướng viên đứng ở giữa cung nguyện để hát một vài phần trong thánh lễ hoặc trong kinh thần vụ (xc. Ca xướng viên, Ca đoàn).

 Ca Xướng Viên (=Chantre)

Tiếng La-tinh cantor có nghĩa là ca sĩ, người có giọng tốt, giữ nhiệm vụ xướng cung hoặc hát những bài ca phụng vụ. Các ca xướng viên họp thành ca đoàn hay ca hội. Người đứng đầu nhóm gọi là ca trưởng, có trách nhiệm lĩnh xướng những phần quan trọng và lo cho việc ca hát khi cử hành phụng vụ được tốt đẹp.

Trừ những lúc họ hợp thành ca đoàn, tùy theo tầm quan trọng của các cộng đoàn, chỗ của các ca xướng viên thường được bố trí giữa các hàng ghế dành cho ca đoàn, để họ dễ thi hành phận vụ của mình. Trong các lễ trọng, hai hoặc bốn ca xướng viên mặc trang phục riêng, tức là áo choàng, đứng ở một vị trí đặc biệt. Lúc đó, sẽ có việc hát đối đáp giữa các ca xướng viên với thành phần còn lại của ca đoàn.

 Cải Táng (= Translation)

Cải táng là chuyển cốt một vị thánh sang một nơi khác. Thường ngày cải táng được giữ làm ngày lễ kính vị thánh đó. Chẳng hạn ở Pháp, lễ thánh Biển Đức, ngày 11 tháng 7, bắt nguồn từ cuộc lễ cải táng người sang đan viện Fleury (Saint-Benoit-sur-Loire).

 Canh Thức – Vọng Lễ (= Vigile)

Tiếng La-tinh vigilia có nghĩa là buổi canh thức, giờ canh thức. Đối với người Do Thái, bữa ăn Vượt qua vào chiều ngày 14 tháng Nisan không chỉ là kỷ niệm ngày được giải phóng khỏi Ai cập, nhưng còn là buổi canh thức mong chờ Đấng Cứu thế (xc. Phục sinh, Vượt qua). Tương tự như vậy, canh thức lễ Vượt qua (xc. Nến Phục sinh), vào đêm thứ bảy Tuần Thánh rạng Chúa nhật Phục sinh, là để cầu nguyện trong tâm tình chờ mong Đức Ki-tô Phục sinh. Đỉnh cao của buổi canh thức này là việc cử hành lễ Tạ ơn, gặp gỡ Đấng đã chiến thắng sự chết. Mọi thánh lễ đều mang chiều kích này, tức là chờ mong Chúa quang lâm, hoặc ngày Chúa Ki-tô trở lại vĩnh viễn.

Một vài lễ trọng cũng có thánh lễ vọng (canh thức), cử hành vào buổi chiều hôm trước cùng với kinh Chiều I.

 Canh Thức Cầu Cho Người Quá Cố (= Veillée)

Phụng vụ cầu hồn quy định có một buổi cầu nguyện bên cạnh người vừa được gọi về nhà Cha. Buổi canh thức này gồm việc đọc kinh Lạy Cha, thánh vịnh, và Lời Chúa, trong bầu khí thanh bình lặng lẽ (xc. Người quá cố).

 Câu Chuyển Nghĩa (= Trope)

Trong tiếng Hy Lạp, tropos có nghĩa là vòng xoay. Câu chuyển nghĩa là một câu ngắn, xen kẽ, dùng để lấp đầy những chỗ có dấu ngân dài (neuma) trong một số bài nhạc bình ca Ghê-gô-ri-ô. Kiểu khai triển này – rất thịnh hành thời Trung cổ – do người ta không hiểu giá trị diễn cảm của những âm ngân dài theo cung nhạc. Đến thế kỷ VI, công cuộc canh tân phụng vụ của đức Thánh Cha Pi-ô V đã loại bỏ kiểu câu chuyển nghĩa này, chỉ còn lại dưới hình thức một số câu tung hô hay ca tiếp liên. Một số kinh Thương xót vẫn còn được gọi là những câu chuyển nghĩa cổ (xc. Câu tung hô; Bình ca, Ghê-gô-ri-ô).

 Câu Tung Hô (= Prose)

Trong tiếng La-tinh prosus hay prorsus có nghĩa là hướng về phía trước (pro: phía trước; versus: quay). Prosa oratio là một bài diễn từ đều đều, là lối phối hợp các từ ngữ một cách đơn giản. Trong số các bản văn phụng vụ, Câu Tung hô hoặc Ca Tiếp liên là một bài sáng tác theo thể thơ tự do, nhằm giúp kéo dài các dấu neuma trong bài Ha-lê-lui-a. Âm cuối bài Ha-lê-lui-a được ngân dài giúp cho thầy phó tế có đủ thời gian tiến lên giảng đài. Vì các đan sĩ Pháp không quen điệu hát Jubilus có âm vực rộng này, nên các ông hát nuốt chữ. Đó là nguồn gốc của kiểu sắp xếp từ ngữ prosa theo sau (sequentia) bài Ha-lê-lui-a. Chính vì thế, nếu trước đó đã hát bài Ha-lê-lui-a, thì mới hát tiếp một trong bốn Ca Tiếp liên của sách lễ Rô-ma: Ca Tiếp liên tuần Phục sinh, lễ Ngũ tuần, lễ Mình Máu Thánh Chúa và lễ Đức Mẹ Bảy sự. Các câu tung hô hoặc Ca Tiếp liên khác đôi khi được hát lúc chầu Thánh Thể hay trong những buổi cử hành á phụng vụ, như việc lần chuỗi, tôn kính trong tháng Đức Mẹ (xc. Á phụng vụ). Sách nghi thức La-tinh, trừ sách nghi thức Ghê-gô-ri-ô, vẫn đặc biệt duy trì các câu tung hô của đan sĩ Notker thuộc đan viện Saint Gall (thế kỷ IX-X) và Adam St Victor (thế kỷ XII).

 Câu Xướng Đáp (= Verset)

Tiếng La-tinh versus có nghĩa là luống, hàng chữ, câu thơ. Để sắp xếp các bản văn, Kinh thánh không những được chia thành quyển, chương, nhưng còn thành câu, tức là những phần nhỏ gồm một hay vài hàng. Trong các bài thơ, chẳng hạn như thánh vịnh hay thánh ca dùng trong Phụng vụ, câu thường gồm một hay hai câu thơ. Trong khi đọc hay hát thánh vịnh kiểu đối đáp, mỗi bên hát một câu xen kẽ nhau. Việc hát đáp ca, Ca tiến cấp và Ha-lê-lui-a gồm có phần chung dành cho cộng đoàn, sau đó là câu do một người hay một nhóm xướng lên. Cuối thánh vịnh kinh Sách hay kinh Trưa, ca xướng viên sẽ đọc câu xướng, tức là một câu ngắn, thường rút ra từ thánh vịnh, rồi cả cộng đoàn đáp lại, như một hình thức tung hô nối tiếp vào câu xướng.

 Cầu Mùa (= Rogations)

Tiếng La-tinh rogatio có nghĩa là cầu xin, khẩn cầu, cầu nguyện. Các lễ cầu mùa xuất hiện từ thế kỷ thứ V. Trong những thời kỳ đói kém, thánh Mamert, giám mục Vienne, đã ấn định một hình thức chay tịnh và những buổi rước kiệu có hát thánh ca suốt ba ngày trước lễ Thăng thiên. Khi qua cơn nguy biến, tục lệ đó vẫn tồn tại và được phổ biến sang các giáo phận khác. Những lời khẩn cầu long trọng này đặc biệt xin Chúa chúc lành cho công việc đồng áng để mùa thu hoạch sắp tới được tốt đẹp.

Thánh lễ và cuộc rước cầu mùa không nhất thiết phải cử hành vào ngày thứ hai, thứ ba và thứ tư trước lễ Thăng thiên. Các hội đồng giám mục có quyền xác định một hoặc nhiều ngày cầu mùa và cho phép các cộng đoàn giáo xứ được tự do chọn lựa những ngày thuận tiện. Hát Kinh Cầu là phần chính yếu của các lời kinh được hát trong buổi rước cầu mùa.

Công Trình Thiên Chúa (= Oeuvre de Dieu)

Trong tiếng La-tinh Opus Dei nghĩa là công trình Thiên Chúa hay các kỳ công của Thiên Chúa, những điều kỳ diệu Thiên Chúa thực hiện với dân củaNgười để cứu độ họ (xc. St 2,2-3; Is 55,15; 26,12; 28,21; 2,23; Gr 48,1; Gv 11,5). Trong Tin mừng, người Do Thái đặt vấn đề: “Chúng tôi phải làm gì để phục vụ công trình của Thiên Chúa?”. Đức Giê-su trả lời: “Công trình của Thiên Chúa là anh em hãy tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,28-29). Đối với thánh Phao-lô, sứ vụ của vị tông đồ là cộng tác vào công trình của Thiên Chúa (1 Cr 3,9; 15,58; 16,10) và tiếp tục công trình của Đức Ki-tô (Pl 2,3) đã được hoàn tất trong mầu nhiệm Vượt qua, tuyệt phẩm của công trình yêu thương. Toàn bộ đời sống Ki-tô hữu có đặc tính là một công trình cộng tác giữa Thiên Chúa và Dân Người; nó hệ tại ở việc sống những hồng ân của Thiên Chúa cho tới khi chúng được viên thành trong vinh quang bất diệt. Tuy nhiên, nếu Ki-tô hữu được kết hợp với công việc của Thiên Chúa bằng đời sống đức Tin, thì còn có một hoạt động mang giá trị chủ yếu trong số những hoạt động khác: đó là đời sống phụng vụ. Thực vậy, phụng vụ là toàn bộ những hành vi nối kết hoạt động của Thiên Chúa với hoạt động của con người, đó là thời khắc trọn vẹn và sâu sắc nhất của sự kết hợp này. Chính vì thế, suốt thế kỷ V và VI, nhất là trong qui luật của thánh Biển Đức, từ ngữ la-tinh Opus Dei đồng nghĩa với phụng vụ. Nhờ có hai nghĩa – khách quan và chủ quan – của thuộc từ Dei. Opus Dei có thể chỉ đồng thời và duy nhất, công việc của Dân Thiên Chúa thực hiện dâng lên Thiên Chúa. Kiểu nói cổ điển: công trình Thiên Chúa rất thích hợp để giải thích phụng vụ như là cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với dân Người, để cử hành Giao ước (xc. Phụng vụ, Giao ước).

Trong cuộc hội họp Thánh Thể, nhiều lời nguyện trong thánh lễ gợi lên toàn bộ thực tại của Opus Dei: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ơn tham dự thực sự vào mầu nhiệm Thánh Thể này, vì mỗi lần hy tế tưởng niệm được cử hành, là công trình cứu độ chúng con được hoàn tất” (lời nguyện tiến lễ, Chúa nhật Thường niên). “Lạy Chúa, sau khi đã được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, chúng con nài xin Chúa cho mỗi lần chúng con cử hành mầu nhiệm này là mỗi lần làm lớn lên trong chúng con công trình cứu độ của Ngài” (lời nguyện hiệp lễ, Chúa nhật XV Thường niên).

 Cộng Đoàn (= Synaxe)

Tiếng Hy Lạp sumaxis có nghĩa là tụ họp để cử hành phụng vụ (xc. Cộng đoàn phụng vụ).

 Cộng Đoàn Phụng Vụ (= Assemblée)

Là một thực tại cốt yếu của phụng vụ, Cộng đoàn phụng vụ là một cuộc họp mặt Dân Chúa do Thiên Chúa quy tụ đối diện với Người để cử hành Giao ước.

Ở chung cuộc, Công trình Thiên Chúa luôn là việc quy tụ đoàn Dân thuộc về Người. Người không ngừng giải thoát những kẻ thuộc về Người “để họ thờ phượng Người” (xc. Xh 7,16.26; 8,16; 9,1.13; 10,3.7.11.26). Tức là để họ cùng với Người đi vào phụng vụ. Khi thất bại không thể giải thoát và hợp nhất người Híp-ri, ông Mô-sê đã cảm nghiệm thấy sự bất lực của những cố gắng thuần túy nhân loại (Xh 2,1-15). Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể giải thoát con người khỏi ách nô lệ mọi thứ ngẫu tượng để dẫn vào sự cao cả của việc phụng vụ. Việc ký kết Giao ước tại Xi-nai làm cho dân Ít-ra-en trở thành Dân của Thiên Chúa, được qui tụ do Người và vì Người: qehal Yahvé (Đại hội của Đức Chúa). “Chính các ngươi thấy Ta đã xử với người Ai Cập như thế nào, và đã mang các người như trên cánh chim bằng mà đem đến với Ta” (Xh 19,4). Đối với dân Ít-ra-en, cuộc cử hành phụng vụ vĩ đại, Giao ước Xi-nai, vẫn là “Ngày Đại hội tuyệt hảo” (Đnl 9,10; 10,4; 18,1-16). Mọi cộng đoàn phụng vụ chỉ là nhắc lại, hiện tại hóa Ngày đầu tiên, ngày Thiên Chúa làm cho Ít-ra-en thành Dân Hiền thê.

Nhưng dân Ít-ra-en không trung tín với Đức Chúa được lâu. Giao ước chẳng mấy chốc đã bị phá vỡ vì họ đã phản bội Chúa, tức là thờ lạy con bò vàng. Dù Giao ước đã được phục hồi và không ngừng được mừng kính suốt thời gian Cựu ước, Lời Thiên Chúa phán qua các ngôn sứ luôn cố gắng gợi cho tâm hồn con người nỗi khao khát có một Giao ước mới, Giao ước duy nhất có khả năng qui tụ Dân một cách bền vững quanh Thiên Chúa và đối diện với Người. Đức Ki-tô là Thiên Chúa và là con người; mọi con cái Thiên Chúa đã tản mác được “qui tụ thành một” (Ga 11,52). Hy lễ trên núi Can-vê là một hành vi tuyệt mức của tình yêu; qua hy lễ đó, Đức Giê-su, Lời của Chúa Cha, mời gọi Hội Thánh đã được Người đổ máu ra cứu chuộc đến tham dự vào trong chính sự duy nhất của Chúa Ba Ngôi (xc. Cv 20,28; Ga 17,11.21.22).

Trước khi trở về với Chúa Cha, Đức Ki-tô đã để lại cho Hội thánh một cách thế để tưởng niệm Hy lễ của Người; Hy lễ đó là nguồn mạch và là cách diễn tả sự hiệp nhất một cách đầu đủ. Thánh Thể – và toàn thể phụng vụ xuất phát từ đó – là hành vi chủ yếu liên kết Tân nương với Tân lang trong việc cử hành Giao ước. Khi cộng đoàn phụng vụ nghe Lời Thiên Chúa và nghe linh mục, phó tế giải thích, khi cộng đoàn tung hô, xướng đáp để nói lên lòng mình gắn bó với Công trình cứu độ được hiện tại hóa trong việc cử hành, khi cộng đoàn hát kinh Lạy Cha và rước Mình Máu Chúa, tất cả những lúc đó, cộng đoàn đã xử sự với tư cách là Hiền thê, đồng thời thể hiện phẩm giá của mình một cách sâu xa nhất.

Nhờ chức tư tế, linh mục vừa là bí tích của Đức Ki-tô, vừa là phát ngôn viên của cộng đoàn. Không thể có sự qui tụ các Ki-tô hữu đúng nghĩa mà lại thiếu vắng giám mục và các cộng tác viên của người. Thánh Xíp-ri-a-nô đã chẳng định nghĩa Hội thánh như là đoàn Dân được liên kết với vị tư tế và là đoàn chiên gắn bó với vị chủ chăn của mình (Plebs sacerdoti adunata et pastori suo grex adhaerens) (69,8)? Vì được kết hợp với Đức Ki-tô như Tân nương với Tân lang, cộng đoàn các tín hữu chỉ là một với Người. Do đó, cộng đoàn có thể bày tỏ thái độ hiếu thảo một cách tự phát và hướng về Chúa Cha một cách trọn vẹn. Tóm lại, cộng đoàn phụng vụ là một cuộc tham dự vào  sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, theo một công thức khác của thánh Xíp-ri-a-nô về Hội thánh: “Dân đã được hiệp nhất do chính sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (De unitate Patris et Filii et Spiritus Sancti plebs adunata – De oratione dominica, 23; so với lời Tiền tụng số 8 các Chúa nhật Thường niên).

Nếu cộng đoàn phụng vụ mang tính chất sinh động và chung cuộc đối với các Ki-tô hữu như thế, thì ta có thể hiểu tại sao thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a đã nhắn nhủ các tín hữu Ê-phê-xô: “Anh em hãy siêng năng họp mặt nhau nhiều hơn nữa để cử hành Thánh Thể và dâng lời ca tụng Thiên Chúa” (13,1).

 Cộng Tác (= Synergie)

Tiếng Hy Lạp sunergia hoặc sunergeia có nghĩa là hợp tác hoặc cộng tác: (Sun: với và ergon công việc). Phụng vụ là một công việc chung giữa Thiên Chúa với Dân của Người (xc. Phụng vụ, Công trình Thiên Chúa). Cộng tác là một kiểu nói đặc biệt để chỉ hành vi trọng yếu, tức là việc cử hành Giao ước. Thiên Chúa hành động vì Hội thánh của Người và Hội thánh hành động vì Thiên Chúa của mình: cả hai cùng hành động.

 Cốp (Nghi Thức) (= Copte)

Xc. Phụng vụ (các nghi thức).

 Của Ăn Đàng (= Viatique)

Trong tiếng La-tinh, viaticum có nghĩa là lương thực cho cuộc hành trình (via: con đường). Của ăn đàng là Thánh Thể được trao cho một bệnh nhân sắp qua đời, nhằm nâng đỡ người ấy để họ vượt qua đời này về thiên quốc. Đức Ki-tô đã nói Người là Đường (Ga 14,6), vì thế, việc lãnh nhận Thánh Thể đây là một sự nâng đỡ tuyệt hảo trong hành trình tiến về nơi chính Người đã chuẩn bị cho chúng ta. Nghi thức rước lễ như của ăn đàng được trình bày chi tiết trong nghi thức hiệp lễ và việc tôn thờ Thánh Thể ngoài thánh lễ, hay trong nghi thức bí tích Xức dầu bệnh nhân. Sau lời chào mở đầu và nghi thức sám hối – có khi là bí tích Sám hối – là một bài đọc Lời Chúa ngắn, nhắc lại lời tuyên xưng đức tin của bí tích Rửa Tội theo công thức ngắn, lời nguyện cộng đồng cầu cho bệnh nhân đang bị cái chết rình rập, kinh Lạy Cha, hiệp lễ, lời nguyện kết thúc và phép lành. Sau phần sám hối hay bí tích Sám hối, linh mục có thể ban ơn toàn xá trong trường hợp nguy tử. Nếu bệnh nhân không thể dùng thức ăn, có thể cho hiệp lễ dưới hình rượu.

 Cúi (= Inclination)

Cúi đầu hay cúi mình là một dấu chỉ tự nhiên để tỏ lòng kính trọng và lịch sự. Trong phụng vụ, cử chỉ đó nói lên phẩm tính của những mối quan hệ: giữa chúng ta với Thiên Chúa, với các thánh và với những người đang cùng chúng ta cử hành công trình của Thiên Chúa (xc. Phụng vụ). Có ba hình thức: cúi đầu, cúi mình và cúi sâu. Cử điệu của thân thể cũng là một thành tố cốt yếu của phụng vụ; nó đóng góp một cách rõ rệt vào vẻ đẹp của phụng vụ (xc. Cử điệu).

 Cung Hiến (= Dédicace)

Có lẽ việc cung hiến thánh đường là một trong những nghi lễ phụng vụ đầy đủ nhất và có ý nghĩa nhất. Khi dâng kính một công trình kiến trúc để làm địa điểm hội họp cử hành Giao ước, nghi thức cung hiến này hân hoan ca mừng toàn thể mầu nhiệm hôn lễ, liên kết chúng ta với Chúa Ki-tô, trong Chúa Thánh Thần, cho phép chúng ta cùng với Chúa Con thưa lời “Lạy Cha!”

Một nghi lễ như vậy đòi buộc toàn thể cộng đoàn hội thánh liên quan phải qui tụ quanh vị giám mục, các linh mục và phó tế. Người ta đi rước tới tòa nhà sắp được thánh hiến; các cửa được mở ra một cách trịnh trọng. Vị giám mục làm phép nước dùng để rảy trên dân chúng, trên những bức tường bên trong và bàn thờ của thánh đường. Đây là nghi thức giống như nghi lễ Rửa tội. Sau kinh Vinh danh và lời tổng nguyện, đức giám mục cầm sách bài đọc, nâng lên cho dân chúng nhìn và nói: “Ước chi Lời Chúa luôn vang dội ở chốn này; ước chi đây là nơi mặc khải Mầu nhiệm Đức Ki-tô và ban ơn cứu độ cho anh chị em trong Hội thánh”. Cần ghi nhận là cách diễn tả trên nhằm nhấn mạnh ơn cứu độ là Công trình Thiên Chúa và Lời của Người.

Sau kinh Tin kính; đọc kinh cầu Các Thánh thay cho lời nguyện chung: Hội thánh dưới thế liên kết với Hội thánh trên trời. Hài cốt các thánh tử đạo và các thánh khác được đính vào bàn thờ, biểu tượng sự hiệp nhất của Nhiệm thể trong Chúa Ki-tô. Tiếp theo là lời nguyện thánh hiến trọng thể, gồm tóm toàn bộ mầu nhiệm Hội thánh hiến trọng thể, gồm tóm toàn bộ mầu nhiệm Hội thánh và phụng vụ. Như muốn nói lên tính kiên vững của việc thánh hiến, đức giám mục xức dầu bàn thờ bằng năm hình thánh giá, đồng thời xức dầu toàn thể bàn thờ, rồi 12 dấu thánh giá (hoặc ít là bốn) để cung hiến thánh đường. Dầu dùng để xức là Dầu Thánh. Sau đó, đốt hương trên bàn thờ, biểu tượng cho lời cầu nguyện không ngừng dâng lên Thiên Chúa làm cho thánh đường nức hương thơm Chúa Ki-tô (2 Cr 2,14-16). Việc xông hương cộng đoàn cho thấy chính cộng đoàn là đền thờ sống động, còn đền thờ vật chất chỉ là hình ảnh. Tiếp theo, trải khăn lên bàn thờ, ý nói đây là bàn dâng hy lễ Thánh Thể; nến được thắp lên, gần bàn thờ hay trên bàn thờ, và trước mỗi dấu thánh giá ghi dấu thánh hiến, cùng với tất cả các đèn nến khác, biểu tượng cho Đức Ki-tô là Ánh sáng soi thế gian (Ga 8,12; 9,5). Sau cùng là cuộc cử hành hiến tế Thánh Thể, phần chính yếu của lễ cung hiến. Sau hiệp lễ, đức giám mục long trọng khánh thành nhà chầu: qua hiến tế thánh lễ từ nay Đức Ki-tô mãi mãi hiện diện giữa các tín hữu của Người.

Cần phân tích đôi chút về những nghi tiết của lễ cung hiến, vì đó là cả một khối biểu tượng và cử chỉ chính yếu của phụng vụ. Những gì các bí tích Khai tâm thực hiện nhằm vào một con người, thì nghi lễ cung hiến thực hiện hướng đến ngôi thánh đường, dấu chỉ hữu hình của việc qui tụ con cái Thiên Chúa trong Nhà Cha.

Ngày được chọn làm kỷ niệm giáp năm cung hiến thánh đường là ngày lễ trọng đối với thánh đường đó. Ngày kỷ niệm cung hiến nhà thờ chính tòa được mừng như ngày lễ kính trong toàn thể giáo phận (xc. Lễ riêng). Ngày 9 tháng 11, toàn thể Hội thánh liên kết với niềm vui của các tín hữu Rô-ma, chung quanh đức thánh cha, cũng là giám mục của họ, để tạ ơn dịp cung hiến đền thờ La-tê-ra-nô, Mẹ và Bà Chúa của mọi thánh đường, vì đó là vương cung thánh đường của giám mục Rô-ma. Ngoài thành Rô-ma chỉ mừng lễ này như lễ kính.

 Cung Nguyện (= Choeur)

Tiếng Hy Lạp choros ban đầu có nghĩa là một vũ điệu theo vòng tròn, từ đó được sử dụng để chỉ vòng tròn các vũ công, rồi vòng tròn các ca sĩ, vì một vũ điệu luôn kèm theo các bài hát. Trong phụng vụ, từ ngữ cung nguyện chỉ vòng tròn những ca xướng viên, ca đoàn và theo nghĩa rộng hơn, chỉ tất cả đan sĩ hay các kinh sĩ của nhà thờ, là những người có nhiệm vụ hát khen Thiên Chúa.

Theo sự tiến triển thông thường của nghĩa ngữ, danh xưng cung nguyện từ chỗ chỉ nhóm các ca viên, được dùng để chỉ nơi họ đứng hát. Do đó, cung nguyện trong một nhà thờ chính tòa hay một đan viện là khu vực phía trước cung thánh, và bàn thờ. Đây là cách sắp xếp của phần lớn các nhà thờ Tây phương. Nhưng trong những vương cung thánh đường cổ xưa, cung nguyện được xếp thành vòng tròn, trong lòng nhà thờ, bao quanh hai bên ngai giám mục. Các linh mục ngồi tại vị trí này, quây quần bên vị giám mục (xc. Hc 50, 12).

Vì được đặt trước bàn thờ, nên cung nguyện không thể có hình tròn, vì vậy, các hàng ghế cung nguyện tại các nhà thờ chính tòa hay các đan viện thường được xếp song song với nhau: hai bên cung nguyện đối diện nhau; khi các xướng viên đứng thành ca đoàn để hát, vị trí vòng cung thuận tiện cho họ hơn.

 Cung Thánh (= Sanctuaire)

Tiếng La-tinh sanctuarium có nghĩa là nơi thánh, phát xuất từ chữ sanctus. Trong các thánh đường, cung thánh là nơi linh thánh nhất, có đặt bàn thờ dâng lễ. Trong Cựu ước, Lều Hội ngộ hay Đền thờ Giê-ru-sa-lem, cũng như mọi đền đài thánh trong các tôn giáo khác, có một nơi cực thánh (xc. Nơi thánh và Nơi cực thánh 1V 6,16; Ed 41,4). Cung thánh trong các nhà thờ là biểu tượng cho nơi cao vời thánh thiện, tức là cung thánh không do tay người phàm làm ra: đó là chính thiên đàng nơi Đức Ki-tô đã vào (Dt 9,11-12.24), là Nhà Cha (Ga 14,2), là cung lòng Chúa Cha (Ga 1,18), nơi Chúa Con đang ngự trị và đợi chờ chúng ta.

 Cùng Hiệp Thông (Kinh) (= Communicantes)

Lời cầu nguyện trong phần đầu của lễ qui Rô-ma – kinh Tạ Ơn thứ nhất – bắt đầu bằng từ ngữ La-tinh communicantes nghĩa là hiệp cùng toàn thể Hội thánh. Đây là lời van xin sự chuyển cầu của các thánh, theo danh sách: Đức Trinh nữ Ma-ri-a, thánh Giu-se, các thánh Tông đồ, một số vị thánh thuộc Hội thánh Rô-ma. Trong giây phút trang trọng của hy tế Thánh Thể. Hội thánh trần thế hiệp nhất với Hội thánh trên trời và thể hiện mầu nhiệm các thánh thông công (đây là một tín điều trong kinh Tin kính các Tông đồ) (xc. Bìa xếp).

Trong một số lễ trọng, phần đầu của lời cầu nguyện này được soạn riêng (lễ Giáng sinh và tuần bát nhật, Hiển linh, Phục sinh và tuần bát nhật, Thăng thiên, Ngũ tuần). Một danh sách khác nêu danh tánh các vị thánh, được đọc trong kinh Nobis quoque pecatoribus (cả chúng con nữa, những người tội lỗi) ở cuối phần hai của lễ qui Rô-ma.

 Cử Chỉ (= Geste)

Phụng vụ đưa toàn thể con người vào cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Vì thế phụng vụ gồm chứa toàn bộ những cử chỉ, của cá nhân cũng như của cộng đoàn, diễn tả thái độ đón nhận ân sủng của Thiên Chúa và dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa. Một số cử chỉ dành riêng cho linh mục trong vai trò làm trung gian cho hai bên. Cần phân biệt những cử chỉ có tính tạm thời vơii những thái độ hoặc tư thế phụng vụ có tính bền vững hơn (xc. Tư thế).

Về cử chỉ của các tín hữu, xin xem: Tôn thờ, Hôn chúc bình an, Bái gối, Cúi, Rước kiệu, Phủ phục, Đền tội, Thánh giá. Những cử chỉ của linh mục chủ yếu là ở hai bàn tay, xin xem: Xá giải, Rảy nước, Pép lành, Trừ tà, Dìm xuống nước, Đặt tay, Tẩy rửa, Xức dầu, Thánh tẩy vắn tắt. Về những điều liên quan đến thánh lễ, xin xem: Xông hương, Lễ vật, tế phẩm, Rửa tay, Nâng lên, Chính nhờ Đức Ki-tô…, Bẻ bánh, Hòa chung, Chấm, Hiệp lễ.

 Cử Hành (= Célébration)

Cử hành một nghi lễ, một lễ kính hay một lễ kỷ niệm tức là sống cách sung mãn một biến cố, làm cho biến cố ấy nổi bật và hoàn tất nó cách trang trọng. Thực vậy, một cử hành bao gồm tính chất toàn vẹn nào đó: tính công khai, tưng bừng biểu lộ rõ ràng bằng những nghi thức, của dịp kỷ niệm trong gia đình hay ngày lễ của một quốc gia hoặc mừng một chức vụ trong dòng. Đặc tính toàn diện ấy là thành phần của phụng vụ và của điều linh thánh được phụng vụ thể hiện: cử hành tức là thực hiện tất cả một công cuộc, nhằm mang lại mọi chiều kích cho một hành vi trang trọng.

Thiết tưởng cần khảo sát một chút về từ nguyên của một khái niệm khá quan trọng song đã bị phai nhạt một khi trở nên thông dụng. Tiếng La-tinh celeber nghĩa là nhiều, một số đông: một nơi nổi tiếng là nơi có rất nhiều người lui tới; một cuộc lễ nổi tiếng bởi vì có cả một khối đông người tham dự: các nhân vật hay các sự việc được coi la nổi tiếng vì được một số đông người biết đến.

Bởi đó, celebrare hay cử hành trước tiên có nghĩa là nhiều người thường xuyên lui tới một nơi, hoặc vây quanh một người nào; rồi có nghĩa là nhiều người tham dự một cuộc lễ, hành lễ long trọng với một số đông người tham dự; kế đến còn có nghĩa là lan tỏa giữa một số đông, công bố cho đám đông biết; và sau cùng có nghĩa là sử dụng thường xuyên hay thực hành.

Trong ý nghĩa đó, celebratio hay việc cử hành có thể hiểu là đổ xô về, sự hội họp đông người, sự qui tụ; rồi sau đó được hiểu cách rộng rãi là lễ trọng, lễ mừng.

Những nhận xét về phương diện tầm nguyên này có lợi điểm là qui chiếu về thực tại nền tảng của Dân Thiên Chúa trong Thánh kinh, Dân được Thiên Chúa triệu tập, nhằm thực thi một cách sung mãn đời sống theo Giao ước. Một cuộc cử hành là một tác động toàn diện, nối kết Dân Giao ước với Thiên Chúa của họ, và làm cho dân ấy bước vào đời sống của Thiên Chúa. Bất kể có bao nhiêu người tham dự, mỗi cuộc cử hành đều liên quan đến toàn thể Hội thánh, tập thể anh em đông đúc (Rm 8,20) đã được Đức Ki-tô cứu chuộc bằng Bửu huyết (Mt 26,28) và đưa vào cuộc hiệp nhất vơii Thiên Chúa Ba Ngôi.

Khi linh mục hành lễ, người luôn thực thi vai trò qui tụ – như Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô – mọi người trong mối dây hiệp nhất của Thánh Thần (xc. Chủ sự); sau cùng, với linh mục và trước mặt linh mục, cộng đoàn càng ngày càng trở nên đúng với bản chất của mình: Dân Thiên Chúa, Thân Mình Đức Ki-tô, Đền thờ Chúa Thánh Thần (xc. Kinh Tiền tụng số 8 các Chúa nhật Thường niên).

Các bậc lễ cử hành phụng vụ theo thứ tự sau đây: lễ trọng, lễ kính, lễ nhớ (buộc hoặc tự do).

Cửa (= Portes)

Trong các nhà thờ Đông phương, bức bình phong đặt ảnh thánh có ba cửa khi cử hành phụng vụ, các cửa này dành cho các giới. Ở giữa là cửa ngọ môn hay cửa thánh, có hai cánh, dành riêng cho giám mục hay linh mục. Nếu nhìn lên bàn thờ, thì phía bên phải là cửa phó tế, dành cho các thầy phó tế; còn bên trái, là cửa chung, dành cho các giáo sĩ khác.

 

 

 

 

Comments are closed.