Bài Huấn dụ của ĐTC Beneđictô XVI cho các tham dự viên cuộc họp quốc tế thứ I

0

 Bài Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Beneđictô XVI (ngày 7-9-2012)

cho Các Tham Dự Viên Cuộc Họp Quốc Tế Thứ Nhất

Chúa Nhật, ngày 16.10.2012

****

Các Tác Viên Mới cho Việc Rao Giảng Mới của Tin Mừng

Lời của Thiên Chúa tiếp tục lan rộng ra và đón nhận các người đi theo

 

Anh Em đáng kính trong Hàng Giám Mục,

Anh Chị Em thân mến,

Hôm nay Tôi cử hành Thánh Lễ với niềm vui cho Anh Chị Em là những người đang dấn thân tại nhiều nơi trên thế giới trong môi trường của Việc Rao Giảng Mới của Tin Mừng. Buổi cử hành Phụng Vụ này kết thúc Cuộc Họp diễn tiến cho đến hôm qua, trong đó Anh Chị Em trao đổi với nhau trên nhiều bình diện của sứ vụ này và để lắng nghe một vài chứng từ đầy ý nghĩa. Chính Tôi cũng muốn cống hiến cho Anh Chị Em một số suy tư, trong khi hôm nay Tôi bẻ tấm bánh của Lời Chúa và bánh Thánh Thể với Anh Chị Em, và chắc chắn – Lời Chúa và Thánh Thể được chia sẻ bởi chúng ta – mà nếu không có Đức Kitô, là Lời và Bánh của sự sống, chúng ta không thể làm được điều gì (xem Ga 15, 5).  Tôi sung sướng vì Đại Hội này phù hợp với bối cảnh tháng 10, còn đúng một tuần trước Ngày Thế Giới Truyền Giáo: điều này nhắc nhở chúng ta về chiều kích phổ quát riêng của Việc Rao Giảng Mới của Tin Mừng, (nhấn mạnh là của tôi) hòa hợp với chiều kích của việc truyền giáo tới muôn dân (ad gentes).

Tôi thân ái chào thăm tất cả Anh Chị Em là những người đã chấp nhận lời mời của Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Việc Rao Giảng Mới của Tin Mừng. Đặc biệt, Tôi chào thăm và cám ơn Vị Chủ tịch của Cơ Quan mới được thành lập tại Giáo Triều, Đức Tổng Giám Mục Salvatore Rino Fisichella, và các Cộng sự viên của Ngài.

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với các Bài đọc Sách Thánh trong đó Chúa nói với chúng ta hôm nay. Bài Đọc thứ nhất, trích từ Sách thứ hai của Sách Isaia, nói cho chúng ta rằng Thiên Chúa là Đấng duy nhất, không còn có Chúa nào khác; không có thần nào khác ngoài Thiên Chúa và ngay cả Vua Cyrus, Hoàng đế của người Persia, thì Vua cũng chỉ là một phần của một kế đồ lớn lao hơn, mà chỉ một mình Thiên Chúa biết và thực hiện. Bài Đọc này cho chúng ta ý nghĩa thần học của lịch sử: những thăng trầm của các thời đại và sự nối tiếp nhau của những quyền lực lớn lao ở dưới sự lãnh đạo tối cao của Thiên Chúa; không quyền lực trần thế nào đứng vững thay cho Ngài. Thần học lịch sử thật quan trọng và là điểm chính của Việc Rao Giảng Mới của Tin Mừng, vì các dân tộc thời đại chúng ta, sau giai đoạn, mà lại là giai đoạn không đáng mong ước, của các đế quốc độc tài trong thế kỷ thứ 20, thì người ta cần khám phá lại một cái nhìn toàn diện về thế giới và về thời điểm, một cái nhìn thực sự tự do, thanh thản, cái nhìn mà Công Đồng Chung Vatican II đã truyền đạt trong các Văn Kiện của mình và cái nhìn nới các Vị Tiền Nhiệm của Tôi, Người Tôi Tớ của Thiên Chúa Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Chân Phước Gioan Phaolô II, được soi sáng với Giáo Quyền Tuyên Huấn.

Bài Đọc Thứ Hai là khởi đầu của Thư thứ Nhất gửi cho Dân Thessalonica và đây là bài đọc rất gợi hứng, vì đó là bức thư lâu đời nhất đến với chúng ta từ Vị Rao Giảng Tin Mừng lớn lao nhất của mọi thời đại, Thánh Tông Đồ Phaolô. Thánh nhân nói cho chúng ta trước hết rằng, người ta không loan báo Tin Mừng từ chính mình: thật thế Thánh nhân có những cộng tác viên, là ông Silvanus và ông Timothê (xem 1Ts 1, 1) và nhiều người khác. Và ngay lập tức Thánh nhân thêm một vài điều khác là điều rất quan trọng: đó là việc loan báo luôn luôn phải được việc cầu nguyện đi trước, đồng hành và theo dõi. Thực thế, Thánh nhân viết: “Chúng tôi luôn cảm tạ Thiên Chúa vì Anh em, luôn luôn nhớ tới Anh em trong lời cầu nguyện của chúng tôi” (c. 2). Rồi Thánh Tông Đồ nói rằng Ngài ý thức rõ về sự kiện là Ngài không chọn các thành phần của cộng đoàn, nhưng xác quyết rằng [Thiên Chúa]: “đã chọn Anh em”, Thánh nhân nói như thế (c. 4).

Mỗi một nhà rao truyền Phúc Âm luôn phải mang trong tâm trí chân lý này: chính Thiên Chúa đánh động tâm hồn với lời của Ngài và với Thần Khí của Ngài, kêu gọi các dân tộc đến Đức Tin và tới sự hiệp thông trong Giáo Hội. Sau cùng, Phaolô để lại cho chúng ta một giáo huấn, rút ra từ kinh nghiệm của Ngài. Thánh nhân viết: “Phúc Âm của chúng tôi đến với Anh em không chỉ bằng lời nói mà thôi, nhưng cũng bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần và với xác tín trọn vẹn” (c. 5). Việc rao giảng Tin Mừng, để có thể hữu hiệu, cần do quyền lực của Thánh Thần, là Đấng ban sự sống cho việc loan báo và đem vào nơi những người đem Tin Mừng với “sự xác tín trọn vẹn”, mà Thánh Tông Đồ nói tới. Từ ngữ “xác tín” hoặc “xác tín trọn vẹn” trong tiếng Hy lạp là “Pleroforia” : một lời không diễn tả đủ khía cạnh chủ quan, tâm lý, đúng hơn, nó có nghĩa là trọn vẹn, trung tín, hoàn bị, trong trường hợp này, là sự xác tín trọn vẹn của việc loan báo Đức Kitô. Đó là việc loan báo mà, để thực hiện hoàn bị và trung thành, đòi hỏi phải được đồng hành bởi các dấu hiệu và cử chỉ, giống như việc rao giảng của Chúa Giêsu. Vì thế Lời, Thần Khí và sự chắc chắn – được hiểu như thế này –  không thể tách rời nhau và lo lắng để bảo đảm rằng sứ điệp Phúc Âm được lan tỏa ra cách hữu hiệu.           

Bây giờ chúng ta hãy suy tư về đoạn Phúc Âm. Đó là bản văn về tính hợp pháp của việc nộp thuế cho Hoàng đế Cesar chứa đựng câu trả lời thật thời danh của Chúa Giêsu: “Vì thế hãy trả cho Cesar những gì thuộc về Cesar, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (Mt 22, 21). Nhưng, trước khi nói tới điểm này có một đoạn khác có thể được áp dụng cho những người có sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Thực thế, những người đang nói với Chúa Giêsu – môn đệ của nhóm Pharisiêu và của Vua Herođê – ca tụng Ngài, đang nói “chúng ta biết rằng anh em nói sự thực, và dạy con đường của Thiên Chúa cách đích thực, và hãy không lo cho ai cả” (c. 16). Đó là chính câu quả quyết này, cho dù là do sự giả hình, là điều phải lôi kéo sự chú ý của chúng ta. Các môn đệ của Người Pharisiêu và Nhóm Vua Herođê không tin vào điều họ nói. Họ chỉ xác quyết điều đó như để có thể bắt nắm lấy lòng yêu thương (captatio benevolentiae) để làm cho người ta lắng nghe họ, nhưng cõi lòng của họ thì ở xa sự thật; thật vậy, họ muốn lôi cuốn Chúa Giêsu vào trong cạm bẫy để có thể  tố cao Ngài. Với chúng ta, trái lại, những lời nói này thật là quý hóa: thật vậy, Chúa Giêsu là chân thật và dạy con đường của Thiên Chúa theo như sự thật, và đứng trong sự lo sợ không của bất cứ ai. Chính Ngài là “con đường đó của Thiên Chúa”, là điều mà chúng ta được gọi để lên đường. Ở đây chúng ta có thể nhắc lại những lời của chính Chúa Giêsu trong Phúc Âm: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (14, 6). Về điều này chú giải của Thánh Augustino soi sáng : “Cần thiết cho Chúa Giêsu để nói: ‘Ta là đường, là sự thật và là sự sống’, khi biết rằng con đường qua đó Ngài đi họ đã học biết đâu là chỗ Ngài đang đi tới. Con đường dẫn tới sự thật, con đường đó dẫn tới sự sống …  Và là nơi chúng ta đang đi tới, nhưng là đi tới Ngài, và qua đường nào chúng ta đi, nhưng là đi qua con đường đó? (In Evangelium Johannis tractatus 69, 2). Những người mới loan báo Tin Mừng được kêu gọi để trước nhất bước đi trên con đường này là Đức Kitô, để làm cho người khác biết vẻ đẹp của Phúc Âm trao ban sự sống. Và trên Con Đường này người ta không bao giờ bước đi một mình, nhưng cùng đi với người khác, một kinh nghiệm về sự hiệp thông và tình huynh đệ được cống hiến cho tất cả những ai chúng ta gặp, để chia sẻ với họ kinh nghiệm của chúng ta về Đức Kitô và về Giáo Hội của Người. Như thế chứng tá pha trộn với việc loan báo có thể mở những tâm hồn của những người đang tìm chân lý để rồi họ có thể tới được ý nghĩa của cuộc đời riêng của họ.

            Môt sự suy tư ngắn ngủi cũng về vấn đề trung tâm việc trả thuế cho Cesar. Chúa Giêsu trả lời với một thực tại chính trị thật gây ngỡ ngàng, nối liền với việc quy hướng về Thiên Chúa của truyền thống tiên tri. Thuế trả cho Cesar phải được trả, bởi vì hình ảnh của Hoàng đế in ở trên đồng tiền; nhưng cuộc sống con người, của từng người, mang trong mình – người nam hay nữ, một hình ảnh khác, đó là hình ảnh của Thiên Chúa, và vì thế chính là phải trả cho Ngài và cho Ngài mà thôi, mà mỗi người mắc nợ sự hiện hữu của mình, nam hay nữ. Các Giáo Phụ của Giáo Hội, đưa ra sự linh hứng từ sự kiện là Chúa Giêsu đang nói tới hình ảnh của Hoàng đế được in trên đồng tiền để trả thuế, đã giải thích đoạn văn này trong ánh sáng của quan điểm nền tảng của cuộc sống con người như là hình ảnh của Thiên Chúa, được chứa đựng trong đoạn thứ nhất của Sách Sáng Thế.        

            Một tác giả vô danh đã viết: “Hình ảnh của Thiên Chúa không được in trên vàng, nhưng trên loài người. Đồng tiền của Vua Cesar là vàng, đồng tiền của Thiên Chúa là nhân loại . . . Vì thế hãy đem tiến của cho Vua Cesar nhưng giữ cho Thiên Chúa sự trong sạch nguyên tuyền của lương tâm của anh em, là nơi Thiên Chúa được chiêm ngắm . . .  Cesar, quả thế, hỏi rằng hình ảnh của ông ta có trên mỗi đồng tiền, nhưng Thiên Chúa chọn con người, mà Thiên Chúa đã dựng nên để phản ảnh vinh quang của Ngài” (Tác giả vô danh, Tác Phẩm không hoàn bị trong Phúc Âm Mathêô, Bài giảng 42). Và Thánh Augustinô dùng điều này một vài lần trong các bài giảng của Ngài: “Nếu Cesar đòi hình ảnh của ông được in trên đồng tiền”, ông nói, “sẽ không phải là Thiên Chúa đòi hỏi từ con người hình ảnh của Thiên Chúa được in trong họ sao?” (Enarrationes in Psalmos, Ps 94, 2). Và xa hơn nữa, “như là món thuế bằng tiền thì trả lại cho ông ta [Cesar[, cũng thế linh hồn thì trả lại cho Thiên Chúa, vì linh hồn được soi sáng và được in với ánh sáng của Ngài” (Nt., Tv 4, 8). Lời nói này của Chúa Giêsu thật phong phú trong nội dung nhân bản và không thể bị rút lại chỉ trong phạm vi chính trị. Giáo Hội, vì thế, không bị giới hạn trong việc nhắc lại con người về sự phân biệt cho đúng giữa phạm vi của quyền bính của Cesar và quyền bính của Thiên Chúa, giữa bối cảnh chính trị và tôn giáo. Sứ vụ của Giáo Hội, giống như sứ vụ của Đức Kitô chính yếu là nói về Thiên Chúa, là nhớ lại sự ưu việt tối cao của Thiên Chúa, là nhắc nhớ mọi người, nhất là các Kitô Hữu đã đánh mất căn tính riêng của mình, nhắc lại quyền lợi của Thiên Chúa với những gì thuộc về Ngài, đó là đời sống của chúng ta.

            Một cách xác định rõ hơn nữa, cho thấy một sức thúc đẩy mát tươi tới việc truyền giáo của toàn thể Giáo Hội, để dẫn đưa con người ra khỏi cảnh hoang vu trong đó họ thường tìm thấy chính mình họ thay cho chỗ của cuộc sống, cho tình bạn với Đức Kitô Đấng ban cho chúng ta sự sống viên mãn. Tôi đã quyết định loan báo “NĂM ĐỨC TIN”, năm mà Tôi sẽ cho cơ hội để soi sáng với một Tông Thư. Năm này sẽ bắt đầu từ ngày 11-10-2012, dịp mừng kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng chung Vatican II và sẽ kết thúc vào ngày 24 tháng 11 năm 2013, Lễ Trọng Chúa Giêsu là Vua Vũ Trụ. Đó sẽ là thời điểm của ơn thánh và của sự dấn thân cho một cuộc trở lại trọn vẹn hơn về với Thiên Chúa, để tăng cường Đức Tin của chúng ta nơi Ngài và để loan báo Ngài với niềm hoan lạc cho con người thời đại chúng ta.      

            Anh Chị Em thân mến, Anh Chị Em ở giữa các tác nhân của Việc Loan Báo Mới của Tin Mừng mà Giáo Hội đã nhận lấy và thực hiện, không phải là không có khó khăn nhưng với cùng một sự hứng khởi như các Kitô hữu đầu tiên. Để kết luận, Tôi mượn làm như lời của Tôi, các Lời của Tông Đồ Phaolô mà chúng ta đã nghe: Tôi luôn cảm tạ Thiên Chúa về anh em tất cả, liên lỉ nhắc tới anh em trong  lời cầu nguyện của Tôi, nhớ tới trước Thiên Chúa chúng ta và là Cha, các công việc của anh em của Đức Tin và lao nhọc của tình yêu và sự kiên vững trong hy vọng nơi Chúa Giêsu Kitô.

            Xin Mẹ Maria đồng trinh, Mẹ đã không sợ hãi khi trả lời tiếng “XIN VÂNG” cho Ngôi Lời của Thiên Chúa và, sau khi thụ thai trong lòng, đã ra đi đầy hoan lạc và hy vọng, xin Mẹ luôn là mẫu gương cho Anh em và là người hướng đạo cho Anh em. Anh em hãy học với Mẹ của Đức Kitô và của chúng ta để sống khiêm nhường và cùng lúc can đảm, đơn sơ và khôn ngoan; hiền lành và mạnh mẽ, không phải với sức mạnh của thế gian nhưng với sức mạnh của sự thật. Amen.    

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh do Phòng Báo Chí Tòa Thánh công bố, ngày 7-9-2012.

Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 7-9-2012.

Comments are closed.