Mẹ Mễ Du

0

MỄ DU – TIẾNG NÓI CUỐI CÙNG

CỦA MẸ MARIA NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH

 Bài chia sẻ của Sr. Maria Nguyễn Thị Hùy, OP

 Lời mở:

Kính thưa Chị Tổng,

Quí Chị trong Ban Tổng

Chị Bề Trên Tu Viện

Quí chị Giáo, các Chị và các Em.

Biến cố Mễ Du đã xảy ra từ cuối tháng 6 năm 1981, tính cho đến nay vừa tròn 20 năm. Một chuyện không còn mới mẻ! Riêng với bản thân em, đây cũng không phải lần đầu được nghe câu chuyện lạ: Đức Maria hiện ra ở Mễ Du với lời cảnh báo đây là những lần hiện ra cuối cùng kêu gọi thế giới ăn năn trở lại… Vì trước đây em đã từng thấy nhiều cuốn sách đề cập đến vấn đề này. Thấy nhưng không đọc và cũng chẳng quan tâm. Có lẽ vì thế mà hôm nay, vì thương em, Đức Mẹ phải dùng kế “gậy em đập lưng em”. Em cảm nhận rằng Đức Mẹ “bắt” em không những phải cầm lấy mà đọc, mà thấm thía, mà còn phải làm tông đồ loan rao thông điệp hòa bình của Mẹ nữa. Vâng, chính vì thế mà em xin được trình diện với gia đình trong diễn đàn Chúa Nhật hằng tuần hôm nay.

Thưa gia đình,

Ngày 11 tháng 9 năm 2001 vừa qua, trong khi cả thế giới xôn xao, hoảng sợ về vụ máy bay khủng bố làm sụp đổ hoàn toàn hai tòa nhà cao tầng trung tâm thương mại thế giới tại New Jork, tòa nhà tượng trưng cho sức mạnh kinh tế của Mỹ thì ngày 13/9/2001, hai ngày sau biến cố, Mẹ Maria qua người con của Mẹ đã đến với Hội Dòng và trao gởi cho chúng ta cách giải quyết vấn đề cách hữu hiệu nhất. Vâng, em muốn nói đến cuộc gặp gỡ đầy thiên duyên giữa chúng ta với chị Liên, người về từ Mễ Du.

Chị Liên chưa hề quen biết ai trong chúng ta, thế nhưng bằng một cách rất đơn giản (xe Tân Mai dư chỗ… nên các con Đức Mẹ Tà Pao đã có phương tiện đón chị Liên về vùng này). chị Liên đã đến với chúng ta, nói chuyện về Mẹ, cầu nguyện và chữa bệnh nhất là đã trao tặng tận tay chị Tổng và em những cuốn sách nói về Mẹ Mễ Du và thông điệp của người. Được thôi thúc em cầm cuốn sách và đọc đi đọc lại nhiều lần, ngẫm nghĩ, suy tư và cảm thấy thật sung sướng nếu có dịp chia sẻ với gia đình. Đang cầu nguyện như thế, thì chị Thérèse Oanh, Tổng Học Vụ từ Sài Gòn gọi điện thoại về đề nghị em làm thuyết trình viên cho buổi chia sẻ hôm nay với mục đích chuẩn bị tâm hồn chúng ta bước vào tháng mười, tháng Mân Côi của Mẹ. Thánh ý Chúa đã rõ. Em xin vâng lời.

Trước khi chia sẻ, em xin chân thành cám ơn chị Tổng và gia đình đã sẵn sàng đón nghe em; em cám ơn chị Thérèse, Tổng Học Vụ đã tạo điều kiện cho buổi nói chuyện hôm nay.

Xin Mẹ Maria nói trong em những gì người muốn để những gì chúng ta chia sẻ với nhau hôm nay nảy sinh những hoa trái thiêng liêng tốt đẹp cho mỗi chúng ta và những tâm hồn chúng ta gặp gỡ.

I. HIỆN TƯỢNG MỄ DU

Về mặt địa lý, Mễ Du hay Medjugorje là một làng quê nằm lọt giữa thung lũng xung quanh có những ngọn núi bao bọc. Nằm về phía tây nam nước Yougoslavie (Nam Tư cũ), một nước cộng sản, đối diện với nước ý và cách nhau là biển Adriatique.

Dân chúng ở đây sinh sống bằng cách khai phá đất đồi để trồng nho, lúa mì và thuốc lá. Cả vùng không có suối, giếng đào cũng khan nước. Vì thế, đất đai cằn cỗi khô chồi. Đại đa số các gia đình sống nhờ vào đồng lương của những lao động chính của gia đình đi hợp tác lao động với nước ngoài…

Về mặt tôn giáo Mễ Du là một giáo xứ do các cha Phan Sinh coi sóc từ nhiều thế kỷ. Giáo dân hiện nay khoảng 3400 người. Sau thế chiến thứ hai, giáo xứ đã xây dựng được một thánh đường khang trang với hai ngọn tháp cao uy nghiêm. Thánh đường được dâng kính thánh Gia-cô-bê tiền.

Nằm trong ranh giới của giáo xứ có hai ngọn núi Sipovac cao 540m, từ năm 1933 được đổi tên là Krizevac (núi Thánh Giá). Trên ngọn núi này xứ đạo đã vất vả mang các vật liệu lên tận ngọn núi để xây một Thánh Giá cao 12m, còn ngọn núi thấp hơn gọi là Crnica nay gọi tắt là Đồi Hiện Ra.

Một làng quê bé nhỏ, tầm thường không ai để ý thì Đức Nữ Trinh Hồng Phúc đã chọn để từ 6 thị nhân đơn sơ nghèo nàn, Mẹ bắt đầu trao gởi những thông điệp của Mẹ cho các em, sau đó qua giáo xứ, đến khách hành hương và sau cùng là cho tất cả thế giới.

Mẹ hiện ra lần đầu 24.6.1981.

Vào xế chiều ngày lễ thánh Gio-an tẩy giả 24.6.1981 khi hai cô bé Ivanka (15tuổi) và Mirjana (16 tuổi) cùng nhau đi dạo về phía núi Crnica. Lúc ấy trời phủ mây, khi đến ngã tư về nhà, các cô bỗng ngó lên sườn đồi thấy một bóng người sáng láng đứng trên cụm mây… Hai cô hoảng sợ chạy một mạch về nhà. Tại gia đình các cô kể lại chuyện vừa xảy ra, nhưng không ai tin…

Đến 6g30 cảm được điều thôi thúc trong lòng, hai cô trở lại chỗ cũ, lần này có thêm Vicka (16 tuổi rưỡi) và Iran (16 tuổi)… Tất cả đều nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp tay ôm một trẻ nhỏ. Người đó đưa tay gọi mời các em đến gần nhưng các em không dám đến. Cha mẹ các em bối rối cho rằng các em bị đầu óc lệch lạc. Họ xin các em đừng nói đến việc này nữa, nhưng các em vẫn can đảm nói sự thật.

Mẹ hiện ra lần hai: 25/6

Cũng vào giờ hôm trước, Đức Mẹ lại hiện ra đứng trên cụm mây. Lúc ấy có Ivanka, Vicka, Mirjana. Giữ lời hứa với Mirjana, Vicka về gọi cô và kéo theo cậu bé Jakov (10 tuổi) nữa.

Các em leo lên đồi và ở đây họ gặp cậu Ivan và một số bạn khác.

Không còn sợ hãi nữa, các em đã đến và thấy Đức Mẹ rất gần. Sau đây là diễn tả của Vicka: Mẹ tràn đầy tình thương, đơn sơ và xinh đẹp không thể tả được. Mẹ mặc một áo dài xám sáng láng, óng ánh bạc, làn tóc đen lượn sóng dưới một khăn choàng đầu màu trắng, có 12 ngôi sao kết lại thành triều thiên trên đầu, mắt màu xanh da trời, mũi nhỏ, môi thắm, má hồng. Mẹ dịu dàng và chứa chan trìu mến. Một số người trong làng cũng đến xem vì tò mò. Họ chỉ nhìn thấy luồng sáng. Họ có nghe các em nói nhưng không nghe tiếng Đức Mẹ trả lời. Ivanka hỏi mẹ về mẹ của cô mới chết tròn hai tháng. Đức Mẹ trả lời: Mẹ con bây giờ hạnh phúc và đang ở với Mẹ trên trời.

Các em hỏi: hôm sau Mẹ có trở lại không, Mẹ trả lời bằng một cái gật đầu nhẹ nhàng. Sau đó Mẹ nói: “Tạm biệt các thiên thần của Mẹ”, rồi biến đi.

Mẹ hiện ra lần thứ ba: 26/6/1981.

6g00 chiều 26.06, có tới hai ba ngàn người kéo đến chân đồi. Sáu em leo đến nơi hẹn thì thấy trời chớp sáng ba lần chiếu vào chỗ sườn đồi cao hơn chỗ hôm truớc khoảng 200m. các em nhanh nhẹn vượt đá lởm chởm, băng qua gai góc rồi quì gối xuống, các em lại thấy bà lạ.

Vicka nhớ lời bà nội dặn, em lấy chai nước phép mang theo rẩy xối xả rồi nói: “Nếu bà là mẹ Thiên Chúa thì ở lại, nếu không thì đi ngay đi.” Đức Mẹ mỉm cười, dù Vicka đã rảy cạn chai nước thánh.

Mirjana hỏi tên của người là gì? Đức mẹ đáp:

–   Mẹ là trinh nữ Maria diễm phúc.

–   Mẹ đến đây làm gì? Mẹ muốn gì nơi chúng con, chúng con tốt gì hơn người khác đâu? Các em hỏi.

–   Mẹ không chọn người tốt hơn, Mẹ đến đây vì Mẹ muốn ở giữa những người có lòng tin. Mẹ cũng muốn chúng con ăn năn trở lại và đem bình an đến cho dân tộc này. Mẹ đến để làm cho cả thế giới trở lại. Mẹ còn nói với Marija: Hòa bình, hòa bình! Hãy nói với thế giới là phải hòa giải với thiên chúa và với nhau để hòa bình được vãn hồi.

Mẹ tiếp tục hiện ra mỗi ngày và ban thông điệp.

Cho dù các em bị người ta chế diễu, bị đưa đi xét nghiệm tâm thần, bị dẫn đến những nơi vui chơi để khỏi trở về với Đồi Hiện Ra thì Đức Mẹ vẫn tiếp tục gặp gỡ các em. Có những lúc có đông người (10 ngàn) như ngày 28.06; Có những khi ở cách xa nơi hiện ra cả 3, 4 cây số (ngày 30.06) và đã có những phép lạ xảy ra, những người bệnh lâu năm, bệnh nan y được chữa lành.

Khi được diện kiến với Đức Mẹ các thị nhân như sống ngoài không gian và thời gian.

Mắt các em như bất động và cùng hướng về một phía-dù có dùng đèn sáng khuyếch đại cũng không ảnh hưởng. Toàn thân các em như bị thôi miên, chìm ngập trong bầu khí của thiên đàng. được hỏi về dung nhan của Mẹ, Jakov (10 tuổi), một trong sáu thị nhân trả lời: “em chưa thấy người đàn bà nào đẹp như vậy, nếu phải chết ngay bây giờ, em không tiếc gì, vì em đã được xem thấy Đức Mẹ”.

Mirjana thì nói: “Chúng tôi nóng lòng chờ đợi… chúng tôi tính từng phút… chỉ sợ làm điều gì sai quấy mà Đức Mẹ không hiện ra nữa. khi thấy Mẹ chúng tôi vui sướng hết sức không cầm được nước mắt”.

Ngoài việc tiếp tục trao gởi và hướng dẫn hướng dẫn thực thi các thông điệp mang lại hòa bình cho thế giới, Mẹ Maria còn tín nhiệm trao cho các em thị nhân các bí mật về tương lai của hành tinh này.

Mirjana là người được biết cả 10 bí mật này qua cuộn giấy da huyền bí mà chỉ có mình cô đọc được.

Ivanka cũng được biết cả 10 bí mật. Và từ khi đón nhận cả hai em đều không được nhìn thấy Đức Mẹ hàng ngày nữa. Mẹ thường hiện ra một năm một lần như ngày 25.06 hay vào ngày sinh nhật của các cô.

II. NỘI DUNG SỨ ĐIỆP

Thế giới hôm nay đang bị Satan khống chế, đầu độc… tội ác lan tràn khắp nơi khiến nhiều người không tin, nhiều người tin lại xa rời thiên chúa. Tương lai của hành tinh này thật đen tối. Vì thế, vâng lời Thiên Chúa Cha, Mẹ đã đến với thế giới qua đất Mễ Du này, Mẹ van nài các con hãy giúp Mẹ tái tạo lại niềm tin và vãn hồi hòa bình. Nhưng hòa bình thế giới sẽ không hiện hữu, nếu trái tim mỗi người chưa hòa điệu với nhịp đập yêu thương của Thiên Chúa và chưa hiệp nhất với anh chị em mình.

Vì thế, chương trình hòa bình của Mẹ bắt đầu với năm bước thanh luyện để đem hòa bình cho mỗi cá nhân và đó cũng là năm khí giới lợi hại đối đầu với Satan.

1. Khí giới thứ nhất: cầu nguyện

Cầu nguyện được nhắc đến luôn luôn trong các cuộc gặp gỡ của Mẹ với thị nhân vì cầu nguyện là trọng tâm của sứ điệp Mễ Du.

Cầu nguyện sẽ thanh luyện tâm hồn con người, giúp con người dễ dàng cảm nhận được tình yêu thiên chúa và các ân ban của ngài. (25.02.1989)

Ngày 25/4/1987, Mẹ đã nói:

– Hôm nay Mẹ lại đến để kêu gọi chúng con cầu nguyện. Chúng con đã biết, Thiên Chúa ban nhiều hồng ân cho chúng ta khi cầu nguyện. Mẹ kêu nài các con hãy cầu nguyện và cầu nguyện bằng trái tim.

Cầu nguyện với trái tim là cầu nguyện với tâm tình phó thác, đầy lòng yêu mến, tin cậy và hết sức tập trung. Cầu nguyện như thế chúng con sẽ được ơn chữa lành,  không chỉ cho thân xác mà còn chữa lành cả một lịch sử tội lỗi của nhân loại.

Mẹ Maria Mễ Du mong mỏi mỗi chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi mân côi (vui, Thương, Mừng) mỗi ngày lần chuỗi trước Thánh Thể. Cầu nguyện trước Thánh Giá, trước ảnh Trái Tim Chúa Giêsu và Trái Tim Mẹ.

Ngày 25.08.1997 Mẹ phán:

“Chúng con hãy làm cho lời cầu nguyện ngự trị trên toàn thế giới.”

Nhờ cầu nguyện, chúng ta sẽ thắng được quyền lực của Satan, đón nhận được hòa bình và ơn cứu độ.

“Các con hãy biết rằng Mẹ yêu các con và vì yêu mà Mẹ có mặt ở nơi này. Mẹ sẽ chỉ cho các con, con đường của hoà bình và cứu độ. Mẹ muốn các con lắng nghe lời Mẹ và đừng để Satan khống chế các con. Satan rất mạnh mẽ. Vì thế, Mẹ xin các con hãy dâng hiến tất cả những lời cầu nguyện cho Mẹ để cứu những kẻ đang bị chi phối dưới ảnh hưởng của nó. Hãy làm chứng bằng đời sống các con. Hãy hy sinh mạng sống của các con cho nhân loại được cứu rỗi.

Hỡi các con, đừng sợ hãi. Nếu các con cầu nguyện, Satan không thể làm hại các con, dù chỉ một sợi tóc, vì các con là con Thiên Chúa và Người chăm sóc các con.

Cầu nguyện và luôn để tràng hại Mân Côi trong tay như một dấu hiệu cho Satan biết rằng các con thuộc về Mẹ (25.02.1998).

2. Khí giới thứ hai: Ăn chay

Ngay lần hiện ra thứ ba (26.06.1981), khi nhắc nhớ Marija về bí quyết tái tạo hòa bình, Mẹ Maria đã nhắc nhớ đến việc ăn chay. Trong Cựu ước và Tân ước, chúng ta đã chứng kiến việc ăn chay. Chúa Giêsu cũng đã từng chay tịnh – theo truyền thống, ăn chay giúp con người can đảm trong thử thách. Và chắc chắn có những loại quỷ chỉ khử trừ được nhờ ăn chay và cầu nguyện (Mc 9, 29).

Chay tịnh là một khí cụ thắng vượt thế lực của sự tối tăm đang hiện diện trên thế giới và chay tịnh còn là việc thanh luyện đầy giá trị. Thời đại chúng ta là thời giờ của tối tăm vì thế, cần thiết chúng ta phải chay tịnh.

Mẹ Maria động viên chúng ta ăn chay mỗi tuần 2 lần:

“Hãy ăn chay cách nghiêm túc vào các ngày thứ tư và thứ sáu” (14.08.1984).

Mẹ đòi hỏi chúng ta hãy chấp nhận điều này với một ý chí kiên vững và bền bỉ.

“Ăn chay tốt nhất là ăn bánh mì với nước lã. Nhờ ăn chay và cầu nguyện người ta có thể ngưng được chiến tranh và cản được những định luật thiên nhiên. Làm việc bác ái không thay thế cho việc ăn chay. Hết mọi người phải ăn chay, trừ người bệnh.” (21.07.1982)

Ăn chay giúp ta chế ngự được ma quỷ. Ngày 16.11.1987 Mẹ quả quyết:

“Ma quỷ cố gắng chiến thắng chúng con. Đừng cho phép chúng. Hãy giữ vững đức tin, ăn chay và cầu nguyện. Mẹ sẽ ở với chúng con trong mọi tình huống.”

Ăn chay còn có sức chữa lành bệnh nhân. Về điều này, Mẹ dạy:

“Để chữa lành bệnh nhân, hãy đọc Kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha, Kính mừng, Sáng Danh và ăn chay với bành mì và nước lã” (25.07.1982).

Ăn chay, nếu làm vì lòng yêu mến Chúa sẽ biến chúng ta thành của lễ và thanh luyện thân xác chúng ta khiến chúng ta trở nên những chiến binh, can đảm sẵn sàng tuyên chiến với Satan.

Ngày 06.11.1982, Mẹ Maria vui mừng loan báo: Nhờ có nhiều người nghe lời Mẹ ăn chay và cầu nguyện mà hình phạt thứ 7 dành cho thế giới được giảm nhẹ.

Mẹ còn nhắn nhủ: Ăn chay là hiến tế vì thế chay tịnh không chỉ là kiêng ăn mà còn là dâng tiến Chúa điều gì mình thích nhất. Ví dụ: ai thích thuốc và hay uống rượu thì từ nay hi sinh. Ai mê coi truyền hình cũng vậy. Mẹ than phiền rằng: Chúng con mất quá nhiều thì giờ cho truyền hình. Nó đã trở thành “bà chủ” điều khiển nhiều người trong chúng con và họ đã là những nô lệ của nó.

3. Khí giới thứ ba: Đọc Thánh Kinh mỗi ngày

Thông thường Đức Mẹ hiện đến với các thị nhân trong niềm vui tươi, hạnh phúc. Nhưng cũng có những trường hợp Mẹ buồn sầu, thỉnh thoảng Mẹ khóc. Mẹ đã khóc khi nói đến sách Thánh Kinh bị bỏ quên. Cha Joza, chánh xứ Mễ Du nói rằng: là một linh mục, cha từng chứng kiến các bà mẹ thương khóc con mình tại nghĩa trang nhưng cha chưa thấy bà mẹ nào sầu não như Mẹ Maria khi Mẹ đề cập đến vấn đề Thánh Kinh, Mẹ vừa khóc vừa bảo:

“Chúng con đã bỏ quên Kinh Thánh”

Kinh Thánh là cuốn sách khác hẳn với những cuốn sách khác trên cõi đời này. Nó được viết ra dưới sự thúc động của Chúa Thánh Thần và Thiên Chúa là tác giả. Không có quyển sách nào có thể so sánh với cuốn sách này. Vì thế, Mẹ Maria đã khuyến cáo chúng ta: “Hãy tách sách Thánh Kinh ra khỏi các sách khác trên kệ sách và đặt vào chỗ danh dự và dễ thấy trong nhà để chúng con luôn được khuyến khích đọc và cầu nguyện bằng Lời của Chúa” (18.10.1984).

“chúng con chưa đọc Thánh Kinh với tình yêu, chưa đọc như là Lời của một Thiên Chúa đang sống…. Chỉ cần hôn kính Sách Thánh cách kính cẩn, người ta cũng lãnh được nhiều ơn rồi.”

Cuối cùng, Mẹ nhấn mạnh:

“Mọi gia đình phải cầu nguyện chung trong gia đình và đọc Lời Chúa” (14.02.1985).

4. Khí giới thứ tư: Xưng tội

Ngay từ những lần hiện ra đầu tiên, Đức Mẹ đã đề cập đến vấn đề này và yêu cầu chúng ta xưng tội hàng tháng.

“Hãy làm hoà với Chúa và với nhau, bởi vì sống niềm tin, thực hiện việc ăn chay, cầu nguyện và thú nhận tội lỗi là điều cần thiết. (26.06.1981)

Mẹ của Thiên Chúa xem ra như ép buộc người ta phải thống hối ăn năn khi Người phán: “Hãy cầu nguyện, hãy vững tin, hãy xưng tội đều đặn và thường xuyên; hãy đón nhận Thánh Lễ đó là cách thế duy nhất giúp chúng con đón nhận ơn cứu độ” (10.02.1982)

“Bí tích Hoà Giài và Thánh Lễ sẽ đưa người tội lỗi về trời nếu họ lãnh nhận với tất cả lòng thống hối” (24.07.1982).

Đức Mẹ cũng cảnh cáo Giáo Hội Tây Phương vì đã coi thường việc xưng tội (06.08.1982)

Những khách hành hương Mễ Du thường rất cảm kích trước số luợng khổng lồ các hối nhân chờ lãnh nhận Bí Tích Hoà Giải cũng như số các cha ngồi toà. Đức Mẹ hứa sẽ ban những ơn đặc biện, những niềm vui cho các cha ngồi toà tại đây.

Nhưng xưng tội không phải là một thói quen. Vicka đã nói với khách hành hương: Việc xưng tội phải làm cho hối nhân trở thành một con người mới. Đức Mẹ không muốn chúng ta nghĩ rằng: toà cáo giải là nơi chúng ta đến trút gánh nặng tội lỗi và sau đó chúng ta tiếp tục sống như trước. Không, bí tích Hoà Giải mời gọi chúng ta đổi đời. Chúng ta phải trở nên một người mới như lời Đức Mẹ cắt nghĩa cho Jelena, một thụ khải của Mẹ:

“Đừng đi xưng tội như một thói quen, rồi ở lại trong tình trạng cũ. Điều đó không tốt. Bí tích Hoà Giải phải gây một cảm hứng cho đức tin của chúng con. Chính nó kích thích và đem chúng con lại gần Chúa Giêsu hơn.” (07.11.1983).

5. Khí giới thứ năm: Bí tích Thánh Thể

Đức Mẹ đã khóc khi Người nói đến Thánh Thể và Thánh Lễ. Năm 1985 Mẹ nói:

“Chúng con đừng cử hành thánh Lễ như chúng con làm. Nếu chúng con hiểu được chúng con đón nhận được những ân phúc và tặng vật nào khi dâng lễ thì chúng con sẽ dùng ít là 1 giờ trong ngày cho việc trọng đại này.”

Thánh Lễ mỗi chiều tại Mễ Du là một khoảnh khắc quan trọng trong ngày vì Đức Mẹ thường hiện ra và trao ban Chúa Giêsu cho những người tham dự cách đặc biệt. Thánh Lễ quan trọng hơn việc hiện ra của Mẹ mỗi ngày. Marija nói rằng: nếu phải chọn giữa việc cử hành Thánh Lễ và việc hiện ra. Cô sẽ chọn điều thứ nhất. Mẹ khuyên:

“Hãy duy trì Thánh Lễ chiều mỗi ngày cách thường xuyên hơn.” (06.10.1987)

Hãy đặt Chúa Giêsu trở nên trung tâm của đời sống. Hãy đặt Thánh Lễ vào vị trí ưu tiên của cuộc đời và giờ cử hành Thánh Lễ phải là giờ phút linh thiêng nhất, siêu thánh nhất hơn mọi giờ khác trong ngày.

Mẹ Maria mong mỏi chúng ta hãy khẩn cầu với Chúa Thánh Thần trước mỗi Thánh Lễ. Mẹ muốn tỏ cho chúng ta thấy Thánh Lễ là hình thức cầu nguyện cao quý nhất… Chúng ta hãy chuẩn bị và thanh luyện tâm hồn để có thể đón nhận Chúa Giêsu với lòng kính trọng vô biên. Mẹ đã khóc vì nhiều người đến với Thánh Thể mà thiếu sự tôn kính. Chúng ta chưa nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của mầu nhiệm Thánh Lễ.

Tuy thế, cũng đã có nhiều người cảm nhận được vẻ đẹp của Thánh Lễ và đón nhận được những ân phúc Chúa Giêsu trao ban khi dự lễ (03.04.1986). Điều này khiến Mẹ rất vui. Mẹ muốn rằng: cuộc đời của mỗi chúng ta phải là một Thánh Lễ, giúp chúng ta đón nhận sức sống của Chúa và trong Người, chúng ta đón nhận toàn thể mầu nhiệm cứu độ, giúp chúng ta biến đổi nên con người mới, con người được thông phần cách sung mãn vào đời sống thánh thiện của Chúa.

Phải chuẩn bị chu đáo để có thể dâng lễ cách khiêm hạ và hoàn hảo.

Mẹ Maria muốn chúng ta tham dự Thánh Lễ với niềm vui và hy vọng. Người cũng mong chúng ta hãy cố gắng để trong giây phút hồng ân này chúng ta có được những cảm nghiệm về Chúa.

Vào dịp Lễ Hiện Xuống năm 1985, Mẹ dặn dò: “Hãy mở tâm hồn chúng con cho Chúa Thánh Linh, đặc biệt trong những ngày này Người đang hoạt động trong chúng con. Hãy dâng hiến đời sống chúng con cho Chúa Giêsu để Người tự do hành động nơi con tim mỗi chúng con.

Nếu tất cả chúng ta sẵn sàng vâng nghe lời của Mẹ, tận dụng 5 khí giới Mẹ đặt vào tay chúng ta, thì con người chúng ta được thanh luyện và được lớn lên trong tình yêu. Lúc đó hoà bình sẽ đến với tâm hồn mỗi người và từ đó trào tràn trên thế giới.

III. MỘT SỐ PHÉP LẠ TIÊU BIỂU TẠI MỄ DU

Tại Đất Thánh Đức Mẹ Mễ Du, phép lạ xảy ra hằng ngày: cho cá nhân, cho cộng đoàn, ơn phần hồn, ơn phần xác… Hầu như không ai đến Mễ Du mà phải về tay không. Ở đây chỉ xin nêu ra một số phép lạ tiêu biểu để mời gọi những ai chưa tin hãy tin; những ai đã tin hãy kiên trì trong đức tin của mình, và mong mỏi mỗi chúng ta hãy trở nên tông đồ loan rao thông điệp Hòa Bình của Đức Mẹ Mễ Du không chỉ bằng lời nói, chữ viết mà còn bằng một cuộc sống tốt lành, thánh đức đầy bác ái, yêu thương như lòng Mẹ mong mỏi.

1. Phép lạ của gia đình bà Janice T. Connell

Vào tháng 04.1987. Đang tìm địa điểm để gia đình đi nghỉ hè và nhân đó tổ chức mừng lễ tốt nghiệp trung học cho cậu con trai út, bà Janice Connell được cung cấp nhiều tin về việc Đức Mẹ hiện ra. Sẵn có lòng yêu mến Mẹ, nhưng bà băn khoăn không biết chọn điểm nào thì bà được gặp 3 vị linh mục, những người đã từng đến hành hương Mễ Du: một ở Los Angeles, một đến từ Ohio và một từ Nam Phi Châu. Mỗi vị một thông tin về linh địa Mễ Du nhưng có một điều cả ba cùng nhận được chỉ một thông điệp của Mẹ. Thông điệp đó như sau:

“Con ơi! Mẹ cám ơn con vì đã có lòng tin mạnh, khiến con từ xa lặn lội đến đây để tỏ lòng yêu mến Con Mẹ. Bây giờ, Mẹ xin con hãy dành phần đời còn lại mà truyền bá và giảng dạy về các thông điệp của Mễ Du cho cả thế giới.”

Không còn nghi ngờ gì nữa, bà quyết định động viên cả gia đình lên đường đến Đất Thánh của Mẹ: làng Mễ Du. Lúc ấy là tháng 07.1987.

Cuộc hành trình khá vất vả, lại thêm cảnh vật trước mặt không mấy hấp dẫn: đường xá không tráng nhựa, đất đai khô cằn, dân chúng nghèo nàn, xơ xác với những căn nhà mái đỏ trét vôi… đâu đâu một vài người đàn bà mặc quần áo đen, khăn trùm đầu, dăm ba đứa trẻ đi chân không, chạy đuổi mấy con gà còm cõi… nhà trọ không có nước, không có cửa lưới. Cả 10 người trong đoàn hành hương đều cảm thấy mệt và nóng nực.

Họ rủ nhau ra quán tìm nước uống. Cẩn thận, bà Connell mang theo chiếc đèn pin. Nhưng khi ra tới đường bà mới thấy rằng: từ nơi cây Thập Giá rất lớn trên đỉnh núi, ánh sáng chói loà khiến đường đi sáng trưng. Thật thú vị!

Mời mờ sáng, bà cùng chồng leo lên ngọn núi có ánh đèn sáng tối hôm qua. Đến gần thấy trái núi khá lớn, dốc đá cheo leo, lối đi chật hẹp… bà đã định bỏ cuộc vì biết rằng với bệnh đau lưng kinh niên, bà chẳng thể leo lên tới đâu cả… Nhưng khi nghĩ đến đoạn sách kể rằng nhiều người đã được thấy Đức Mẹ cầu nguyện dưới cây Thánh Giá trên núi mỗi rạng đông, bà cảm thấy trong tim một nỗi khát khao vượt cả cái đau đớn thể xác nên bà kiên nhẫn leo dần tới đỉnh núi. Thì kìa, lạ lùng quá, ở đây không hề có điện “Thánh Giá bằng đèn nê-ông” tối qua mà thực sự chỉ là một cây Thập Giá bằng bê-tông xây trên nền đá. Lòng đầy hoan lạc, bà quỳ phập xuống với tất cả lòng tin cậy bà dâng cuộc đời và gia đình bà cho Đức Mẹ. Trong giây phút tuyệt diệu ấy, bà cảm nhận nỗi vui sướng sâu xa được làm con của Đức Mẹ và được sống trước nhan Người… Tất cả các điều khác thuộc trần thế này đều trở nên tầm thường, vô nghĩa.

Quá vui mừng, bà chạy như bay về nhà, chỉ mong chia sẻ niềm vui về cây Thập Giá tuyệt diệu. Mười lăm phút sau, đứng giữa nhà, bà dõng dạc tuyên bố: “Trên núi không có bóng điện nào cả.” Các con bà hỏi: “Mẹ vừa leo lên núi đấy à?” Bà trả lời: “Phải, cây Thập Giá bằng đèn nê-ông đó, thực ra chỉ là một cây Thập Giá bằng bê-tông… Còn đang nói thì cô con gái của bà la lên: “Má! Má đứng thẳng lưng rồi kìa!” Cho đến lúc ấy bà mới chợt nhận ra, bà được khỏi bệnh. Nước mắt lưng tròng, bà thì thầm: “Mẹ ơi, con tin Mẹ thực sự hiện diện ở đây. Và cho đến hôm nay, bệnh đau lưng của bà không hề tái phát nữa.

Sau này, bà được biết: tối hôm qua, lúc gia đình bà được chứng kiến “cây Thập Giá phát sáng” chính là lúc Mẹ hiện ra với Ivan trong lúc cậu hướng dẫn nhóm cầu nguyện.

Hôm sau, gia đình bà leo lên đồi hiện ra mang theo lá thư của ông cụ thân sinh. Cụ năm nay 81 tuổi, bị liệt vì tai biến tim mạch. Trước chỗ Mẹ hiện ra bà đã đọc được những dòng này: “Nếu con gặp Đức Mẹ và ba hy vọng con sẽ gặp. Hãy xin người ban cho ba chút lòng tin mà ba không có. Hãy xin người cho ba cũng được lòng tin.”

Chắp tay, quỳ gối cả gia đình bà đã cầu nguyện sốt sắng ngay nơi Mẹ hiện ra. Tất cả đã nhớ đến từng người trong nhà, đặc biệt cho người cha đau bệnh. Đức Mẹ đã nhận lời cầu xin và ông cụ đã được khỏi bệnh phần xác và nhất là được ơn trở lại sau 70 năm xa rời Đức tin.

2. Phép lạ Vicka được khỏi bệnh

Trong một thị kiến, Đức Mẹ đưa Vicka và Jacov tham quan luyện tội. Quá xúc động trước tình cảnh của các linh hồn tại đây. Vicka đã khẩn khoản van xin Đức Mẹ cho cô được tự hiến toàn thân để cứu một số các linh hồn.

Sau khi vâng lời Đức Mẹ, bàn hỏi và lãnh ý cha linh hướng, cô đã được như sở nguyện. Để chuẩn nhận “phép lạ” ngày 25.02.1988, Đức Mẹ bảo Vicka viết 3 lá thư, niêm phong lại và gởi cho 3 nơi:

– Cha linh hướng

– Quý cha trong Ủy ban Điều tra việc hiện ra

– Quý cha giúp xứ Mễ Du

Đến ngày 25.09.1988, Vicka yêu cầu các cha mở thư trước mặt hai nhân chứng. Mỗi bức thư đều có nội dung như sau: bệnh của Vicka là món quà Thiên Chúa ban cho cô chứ không phải trừng phạt. Mục đích giúp chữa trị bệnh tật cho kẻ có tội. Lễ hy sinh sẽ hoàn tất vào ngày 25.9.1988 và ngày đó bệnh của Vicka tự nhiên khỏi.

Quả thế, sau khi được Đức Mẹ chấp thuận việc hy sinh cho các kinh hồn luyện tội. Vicka bị một căn bệnh khó hiểu, các bác sĩ chẩn đoán cô có một khối u trong não và bị chứng sưng khớp khiến cô nhiều lúc sốt cao và lâm cơn mê sảng.

Trong suốt thời gian bệnh, dù không đi lại được nhưng khi tỉnh, cô vẫn vui vẻ. Cô nói: “Tôi biết rõ giá trị của đau khổ… Được chịu đau khổ với Chúa Giêsu thật là một đặc ân.”

Đúng kỳ hạn, Vicka đã được chữa lành tức thời. Chuyện này đã được tập đoàn y sĩ chăm sóc cho Vicka cũng như quý cha tại giáo xứ làm chứng.

3. Phép lạ mặt trời quay và đổi màu.

Rất nhiều người đến cầu nguyện tại Mễ Du đã được chứng kiến phép lạ mặt trời không chói sáng, tròn đẹp như trăng rằm và nhảy múa trên không trung, đôi lúc chiếu ra những màu sắc lạ. Có người thấy mặt trời tách ra làm hai, người thấy bánh Thánh Thể, người thấy Chúa Cha, người thấy Đức Mẹ ngay trong vầng sáng của mặt trời.

4. Phép lạ biến đổi lòng người.

a. Với các thị nhân

Lần đầu tiên diện kiến với Đức Nữ Trinh hồng phúc, tất cả các em còn là những vị thành niên bình thường như mọi em khác cùng trang lứa tại Mễ Du… Nhưng được Mẹ dạy dỗ, tất cả các em đã trở thành những con người mới, những người làm được những điều phi thường, những chứng nhân trung kiên và can đảm.

* Điểm nổi bật nơi các thị nhân là luôn luôn vui vẻ, nhẫn nại, khiêm tốn giúp đỡ mọi người. Các em sẵn sàng với những xét nghiệm phức tạp của các y, bác sĩ… cũng như vui vẻ trả lời những yêu cầu của khách hành hương suốt 20 năm qua.

* Trước mọi thử thách, đe dọa cho cá nhân các em cũng như cho gia đình. Các em một mực xác tín điều mình đã thấy, đã nghe, đã tiếp nhận và chỉ trình bày những gì được phép.

* Không em nào thích chụp hình và cũng không em nào chịu nhận tiền của khách hành hương. Các em đều tuyên xưng: mọi việc là của Chúa, Đức Mẹ chỉ nhờ các em như phương tiện chuyển trao cho mọi người một sứ điệp đã quá khẩn thiết – không được phép trì hoãn nữa.

b/ Với những khách hành hương.

Có thể nói ai đến Mễ Du cũng được đón nhận ân ban từ Chúa qua Mẹ Maria. Rất nhiều người, từ các Giám Mục, Linh mục, Tu sĩ, Giáo Dân đến cả những người vô tín, những kẻ tò mò… đều đã được ơn đổi đời khi đặt chân lên đất thánh của Mẹ, đến nỗi người ta có thể kết luận: “Những gì ta cho là siêu nhiên, phi thường, thì ở Mễ Du là tự nhiên, bình thường” hay như lời của Đức thánh Cha Gioan Phaolô II khi ngài nói với phái đoàn bác sĩ Ý có nhiệm vụ khảo sát về mặt khoa học hiện tượng xuất thần và chữa lành tại đây: “Ngày nay, thế giới đã đánh mất cảm thức của mình về thế giới siêu nhiên. Song nhiều người đang đi tìm và đã thấy ở Mễ Du, nhờ cầu nguyện, đền tội và ăn chay.” (Tháng 8.1989)

IV. CHÚNG TA PHẢN HỒI

Về phía Giáo Hội, cho đến hôm nay vẫn chưa có một tiếng nói chính thức về biến cố Mễ Du. Nhưng trên thực tế, suốt 20 năm rồi, Mẹ Maria vẫn tiếp tục hiện diện, để trao ban cho nhân loại ân phúc của Thiên Chúa cùng với lời gọi mời thiết tha.

“Chỉ duy có việc ăn năn hối cải là cần gấp. Hãy cảnh báo điều đó. Hãy nói với mọi người rằng :tại Mễ Du này, Mẹ đã đến những lần cuối cùng và ước muốn duy nhất của Mẹ là muốn nói với toàn nhân loại chỉ một điều : “HÃY TRỞ LẠI VÀ HÃY TRỞ LẠI GẤP” – Hãy từ bỏ mọi sự, vì đây là điều kiện của việc ăn năn thống hối.

Ngày thứ hai sau tuần lễ Phục Sinh năm 1984. Đức Mẹ buồn chảy nước mắt khi Người nói với Jelena : “Nhiều người, sau khi bắt đầu cầu nguyện, hối cải, ăn chay và đền tội đã mau quên, khi họ về nhà lại rơi vào lối sống cũ…”

Với tình thế bi đát như hiện nay, một lần nữa tiếng của Mẹ lại vang tới tai, tới lòng chúng ta. Hãy đáp lại lời Mẹ, hãy hưởng ứng điều Mẹ van xin với tư cách là những Nữ tu Đaminh, con yêu của Mẹ. Trong ánh  sáng của tình thương Mẹ, chúng ta cần duyệt lại căn tính đời tu của mỗi người, những điều chúng ta thề hứa với Con của Mẹ trong ngày chúng ta tuyên khấn; chúng ta cần làm mới mối tương quan của chúng ta với Chúa, với Hội Dòng và với nhau. Chúng ta cũng cần duyệt xét lại đời sống kỷ luật cũng như đời sống nội tâm của mỗi người. Sao cho những thông điệp hòa bình cứu rỗi của Mẹ được chúng ta đón nhận với tất cả thiện chí và tình yêu để Mẹ có thể qua chúng ta mà đến được với bao tâm hồn khác.

Hãy cầu nguyện với Mẹ để cuộc sống chúng ta, nhờ vâng nghe lời Mẹ có thể trở thành một “linh địa”; ở đó các thông điệp của Mẹ thực sự được xác tín, được sống động, được trở thành sự  hiện diện đích thực của Nữ Vương Hòa Bình cho thời đại vô tín và hận thù của thế giới hôm nay.

V. KẾT LUẬN

Như thế, Mễ Du không phải là chuyện về các em thị kiến, chuyện của khách hành hương hay chuyện về một miền đất, hoặc các biến cố lạ xảy ra. Mễ Du là chuyện về Thiên Đàng và những đứa con hoang đàng của Chúa Cha hằng sống. Từ nguyên thủy, Người đã sắp sẵn một kế hoạch cho các con cái trung tín của Người. Kế hoạch ấy đã được bày tỏ trong Giáo Hội và trong Kinh Thánh.

Qua các thị nhân ở Mễ Du, chúng ta được biết Mẹ Chúa Giêsu mang kế hoạch của Thiên Chúa đến cho trần gian lần cuối cùng. Mẹ van xin: “Hỡi các con đang sống trên trần thế, hãy nghe cho kỹ : Ai trong các con có tai, hãy nghe lời kêu gọi của Chúa Cha Hằng Sống, vì Người yêu thương mỗi người chúng con với một tình yêu khôn lường.”

“Các con hãy nghe chính tiếng nói tình yêu của Người:

“Cha là Vị Thiên Chúa cao cả của Abraham, Isaac và Giacóp. Mọi sự đều thuộc về Cha, chỉ trừ ý muốn tự do của chúng con. Trước khi Cha taọ dựng thế giới, Cha đã gọi chúng con, hỡi các con yêu dấu của Cha! Cha gọi chúng con và chúng con đã xuất ra từ Trái Tim tuôn trào tình yêu của Cha, và Cha đã đặt tên cho chúng con. Cha đã gửi Maria đến với các con và Cha đã ban Giêsu cho chúng con. Hỡi các con Cha, chọn Cha đi, chọn đường lối của Cha đi, chọn sự sống chứ đừng lao mình vào cõi chết.

Hãy nghe lời Cha, nghe theo ái nữ Maria của Cha khi Người đến thăm viếng các con lần cuối cùng này. Hãy bước theo Giêsu, Con Cha mà về Thiên Đàng. Đi theo Ngài là bước vào vòng tay Cha đang chờ đón chúng con.

Hỡi các con, nào các con hãy sống trước Nhan Thánh của Cha bao lâu còn thời gian để sống. Và như thế, mọi việc các con làm, mọi vật các con xử dụng và mọi điều các con kinh qua, tất nhiên sẽ chỉ về Cha, cùng với Cha nhờ Giêsu và Maria, tất cả sẽ ở trong Cha. Cho hết thảy những ai làm theo Ý muốn của Cha, mọi sự đều trở nên tốt đẹp.

Hãy nguyện xin ơn bền đỗ.

Hãy nguyện xin ơn kiên nhẫn.

Hãy xin cho biết chịu đựng.

Ngọn lửa tình yêu sẽ trở nên hết sức mãnh liệt khi băng qua chặng đường tăm tối. Đến lúc ấy, lửa tình yêu sẽ dẫn bước các con. Tình yêu không thử thách đâu phải là tình yêu. Cha là vị Thiên Chúa cao cả của Abraham, Cha hằng chung thủy.

Lời Cha ngỏ với chúng con chẳng qua là lời hứa của Giêsu, Con Yêu Dấu của Cha khi Ngài nói : “Thầy sẽ không để chúng con mồ côi. Thầy sẽ sai Thánh Thần đến để chúng con được sống.” Mặc dầu tội lỗi của chúng con có hàng hàng sa số như sao trời, thì lời hứa của Cha vẫn mãi còn đó. Các con là đoàn con thuộc giao ước mà Cha đã cam kết với dân thánh của Cha. Cho dù dân thánh Cha có quay lưng lại với Cha, thì trước sau Cha vẫn vậy. Cho dù dân thánh Cha có thờ ơ với lề luật của Cha, cho dù họ lãng quên Cha mà chỉ nghĩ đến mình, thì Cha vẫn chẳng hề thay đổi. Cái ngày mà con người thôi không còn “cái tôi” ích kỷ nữa – ngày đó đang đến – con cái Cha sẽ sống trong Cha. Dù mọi sự khác sẽ qua đi, những ai sống trong Cha là được sống trong no đầy.

Tam Hiệp, Chúa Nhật 30.09.2001

 

 

Comments are closed.