Nét đẹp quanh ta

0

NÉT ĐẸP QUANH TA

 Bài chia sẻ của Kiều Giang – Lam Thuyên (Tập Sinh)

Kính thưa gia đình,

Con người là đối tượng chính trong vũ trụ này, là tạo vật được Thiên Chúa chăm sóc cách đặc biệt. Chúng ta cũng thấy rằng mọi phát minh hay những khám phá của khoa học đều nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ, và đem lại hạnh phúc cho con người.

Tuy nhiên,  con người không sống một mình mà luôn sống trong các mối tương quan với nhau và với tạo vật trên mặt đất, với Đấng dựng nên mình, để qua những tương quan đó, con người khám phá ra những vẻ đẹp ẩn tàng trong vũ trụ, trong chính con người và trong Đấng Chân – Thiện – Mỹ, nguyên lý phát sinh mọi nét hoàn hảo.

Nói về cái hay, cái đẹp thì không bao giờ cùng, vì đó là một đề tài vô cùng rộng, mà khả năng của con thì quá nhỏ bé, lai chưa khéo léo trong cách trình bày vấn đề trước cử tọa đông người, vì thế con không biết bắt đầu từ đâu đây? Tuy nhiên con cứ liều để cóp nhặt qua sách vở, qua suy tư và cảm nghiệm, đồng thời cũng mạnh dạn lấy hết can đảm lên đây chia sẻ với gia đình, vì con tin tình thương của quí Dì, quí chị em sẽ giúp con thăng tiến hơn.

Để gia đình tiện theo dõi, con xin chia làm ba phần như sau:

  1. Nét đẹp nơi thiên nhiên.
  2. Nét đẹp nơi thế giới con người.
  3. Thiên Chúa nguồn phát sinh mọi sự thiện hảo.

1. Nét Đẹp Nơi Thiên Nhiên.

Cái hay, cái đẹp có thể ví như cục nam châm cuốn hút con người lao vào cuộc phiêu lưu tìm kiếm, tại sao vậy? Là vì ngay từ lúc khởi đầu cuộc tạo dựng, Thiên Chúa rất hài lòng với mọi loài Ngài đã dựng nên, và sau mỗi tác phẩm Ngài đều gật gù khen: “Mọi sự đều tốt đẹp” (St 1, 16).

Bây giơ, con xin mời gia đình cùng con bách bộ quanh vườn hoa cảnh của nhà mình, đại diện cho khu vườn Eden mà Thiên Chúa rất hài lòng.

Kính thưa gia đình,

Có gần cả hàng trăm loại hoa cảnh, có những loại cây cổ thụ to lớn và cũng có những hoa cỏ đồng nội … Mỗi cây lại có một kiểu dáng khác nhau tô thêm vẻ đẹp cho những dãy nhà. Ngoài ra còn có những cây phục hồi sức khỏe cho con người như cây Nha Đam, cây Sống Đời, cây Bạc Hà, Tắc, Chanh … Con cũng được biết hàng cây Hoàng Lam bên trái của vườn hoa chúng ta trong tương lai rất gần sẽ là một bức tường xanh rất đẹp và che mát cho cả dãy nhà các Dì Khấn.

Ngày nay, khi đi lại trên con đường quốc lộ hoặc những con đường trong thành phố, chúng ta thấy có những công viên xanh, được trồng tỉa, uốn cong rất công phu. Có những con đường được cây xanh phủ mát, đi qua những nơi đó ta muốn đi chậm lại vì thấy khoan khoái, mát mắt, mát lòng. Nó làm dịu bớt cái nóng bức của ban trưa. Và cõ lẽ ai đó trong chúng ta cũng đã từng thầm ước giá như con đường nào cũng vậy thì hay biết mấy.

Tác dụng của những cây xanh còn đem lại rất nhiều lợi ích cho con người. Nó nhả khí oxy, hút khí cacbonic và chất độc hại làm giảm sút sức khỏe cũng như tuổi thọ con người. Những công viên, rừng cây là nơi người ta thường tập thể dục, dưỡng sinh; là nơi sinh hoạt, picnic; là điểm găp gỡ dừng chân của rất nhiều tầng lớp già trẻ, lớn bé …

Cảnh thiên nhiên luôn đem lại cho con người sự thoải mái, an lành. Nếu chịu khó quan sát, ta thấy sự lý thú tuyệt vời của nó: từng kẽ lá, từng cánh hoa, đài hoa, nhụy hoa; từng bộ rễ, từng đường cong, và cả những cái gai nhọn … đều rất tinh vi. Mọi bộ phận đều hài hòa và kỳ diệu. Những chú bướm lượn lờ vui vẻ xung quanh; những chú ong tìm mật; những chú chim thích thú nghi ngơi, tỉa lông, bắt sâu, xây tổ rồi ca hát vang trời … Thật là một thế giới sống động đang hòa quyện với cuộc sống chúng ta!

Không chỉ thế, nơi loài hoa cây cỏ còn phảng phất mùi hương thơm như muốn nhắn gởi cho ta những sứ điệp về cuộc sống, về sự hy sinh dấn thân quảng đại cho nhau. Không cây hoa nào giống nhau: có cây to, cây bé; có cây đặt giữa vườn; có cây đặt trong góc vườn ít có ai nhìn thấy, thế mà chúng chẳng buồn giận, chẳng ghen tị mà vẫn vô tư lớn lên, làm đẹp khu vườn với hết khả năng của chúng.

Con người được làm chủ thiên nhiên nhưng đồng thời cũng mang ơn và mang nợ thiên nhiên. Có lẽ không bao giờ chúng ta đền trả cho đủ, bởi cuộc sống chúng ta mọi sinh hoạt đều gắn bó với thiên nhiên. Mỗi bữa cơm, mỗi vật ta dùng, chén thuốc uống … đều do chất liệu của thiên nhiên cung cấp. Sống với thiên nhiên, nếu biết điều với người bạn này một chút, chúng ta luôn thấy phấn khởi và yêu đời, yêu người.

Cảm nhận của chúng ta khi bước vào một căn nhà có trồng cây cảnh, có tiếng chim hót hoặc đi trên đường phố có bóng cây xanh, ta thấy dễ chịu và cảm giác như con người ở đây thật hiền lành tử tế, trầm lắng và dường như có đời sống tâm linh cao hơn. Rồi một lúc nào đó ngồi ngẫm nghĩ về bao điều kỳ diệu trong vũ trụ này, những vẻ đẹp hớp hồn khiến du khách dập dìu kéo nhau đến như : Động Phong Nha ở Quảng Bình, Vịnh Hạ Long, Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng, xứ Hoa Anh Đào – Đà Lạt, Bãi Dâu – Vũng Tàu … Cảnh núi non hùng vĩ, biển khơi được ví như tình cha nghĩa mẹ: “Công cha như núi thái sơn…

 Lòng mẹ bao la như biển thái bình…”

Hỏi xem nghệ nhân nào mà tài tình đến thế? “Hùng vĩ quá khiến phàm nhân tắc lưỡi;  Thượng trí nào ra định luật đổi thay.” Vâng duy chỉ có : “Tay tạo hóa đã tài tình xếp đặt”. Càng quan sát và suy nghĩ chúng ta chỉ biết nói rằng:

“Ôi tình thương Chúa thật nhiệm mầu,

Vượt quá trời cao quá biển sâu

Muôn vàn kỳ diệu khôn diễn tả

Chỉ nói đôi lời hát đôi câu.” (Thánh thi thứ bảy tuần III).

Và càng phải cám ơn Đấng Tạo Hóa đã cho ta mang trong mình dòng máu Á Đông, làm người Việt Nam giàu nghĩa, giàu tình, với bản tính giản dị chất phác, tôn trọng cái hay cái đẹp của dân tộc. Cuộc sống của người dân phần lớn là gắn bó với ruộng rẫy, biển khơi, quang cảnh gắn liền với thiên nhiên, đã sản sinh ra nhiều nhân tài về văn thơ cho xã hội. Hàng ngàn tác phẩm văn thơ, bài hát, khúc ra, điệu hò được ra đời. Hình ảnh con cò, cánh diều biếc, cầu tre nhỏ, nón lá nghiêng che … luôn là hình ảnh rất thân thương gần gũi với những con người xa xứ. Cảnh sắc thiên nhiên quyến rũ và nâng tâm hồn người tu sĩ đến gặp gỡ và ca khen Thiên Chúa, như lời của Gitanjali: “Ngôi nhà của thiên nhiên rộng vô biên và tôi đã đến tìm hy vọng ở đó.” Tương quan giữa thiên nhiên và con người gần gũi là thế !

Thế nhưng đối với thiên nhiên, con người khai phá không thương tiếc, lạm dụng thiên nhiên để làm lợi cho mình. Bởi thế con người đã phải chịu những hậu quả vô cùng khủng khiếp như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, nắng mưa thất thường, đất đai trở nên cằn cỗi…

“Thánh Phanxicô Asisi, vị thánh bổn mạng của các nhà sinh học, ngài đã gọi tạo vật là anh chị: anh chim, chị trăng, chị nước. Ngài dạy đã dạy cho những chú chim, đã thương xót những chú côn trùng và ngài bước đi thật nhẹ nhàng trên những tảng đá. Ngài dạy các môn đệ mình khi đốn cây chỉ nên dùng theo nhu cầu, đừng chặt tận gốc để cây còn có thể đâm chồi mới.” [1]. Vâng, ngài đã dạy cho cả thế giới bài học biết yêu quí thiên nhiên cách đây khoảng 900 năm. Thế mà bây giờ con người mới của thế kỷ XX – XXI mới nghe ra. Những năm gần đây, chính phủ đã có lệnh cấm phá rừng, nhưng vẫn còn giới hạn. Nếu như nhân loại thính tai, nhạy bén hơn về bài học quí trọng thiên nhiên, sẽ bớt đi bao nhiêu là tai họa.

2. Nét Đẹp Nơi Thế Giới Con Người

Vẻ đẹp thiên nhiên là tặng phẩm Chúa ban cho con người. và nếu như hoa lá cỏ cây còn đẹp như thế, thì tình người còn tuyệt vời hơn, sâu sắc hơn, bởi vẻ đẹp được bắt nguồn từ trái tim đến trái tim. Từ ánh mắt nụ cười trao nhau, một lời chào hỏi, cám ơn, xin lỗi tuy ngắn gọn nhưng chất chứa đầy đủ ý nghĩa làm vui lòng người nhận và thể hiện cái duyên, nét lịch sự, khiêm tốn khi ta dùng đến nó. Nó thể hiện một nét đẹp nội lực, nét đẹp không bao giờ tàn phai, trái lại có sức uốn hút hơn cả.

Có một câu chuyện kể rằng:

“Bà Forman dừng xe hơi ngay một trạm thu phí giao thông trên xa lộ, liếc mắt qua kính hậu, bà thấy cả một dãy xe hơi dài sau mình, bà chợt nảy ra một ý vui vui, rồi bà đưa cho người bán vé một tờ năm đô rồi bảo: “Bác ơi, tôi mua cho tôi một vé và năm vé cho năm chiếc xe sau tôi, còn tiền dư tôi xin biếu bác.” Xong rồi bà Forman đạp ga và lái xe đi ngay; bà hình dung trong đầu sự ngạc nhiên lý thú nơi năm người lái xe theo sau bà, mà bà không hề quen biết.

Về nhà, bà Forman vừa làm bếp vừa tủm tỉm cười một mình khi nhớ lại chuyện sáng nay trên đường. Ông chồng già lấy làm lạ, đến bữa ăn trưa ông mới hỏi bà, bà kể lại cho ông đầu đuôi câu chuyện.

Đến phiên ông cũng vui lây với niềm vui nho nhỏ ấy. Buổi chiều đến trường dạy môn giáo dục công dân, ông Forman quyết định làm một cử chỉ đẹp bằng cách dùng chính câu chuyện của bà vợ để dẫn nhập vào bài học. Sau lời kết thúc của ông, cả lớp đồng loạt vỗ tay. Chúng ta hãy nhớ rằng, niềm vui khởi đi từ những câu chuyện rất bình thường nho nhỏ, mỗi ngày ước gì mỗi người chúng ta đều làm được ít nhất là một “cử chỉ đẹp” tương tự.

Ở lớp ông có cô bé Mary là một học sinh cá biệt luôn bướng bỉnh, lì lợm và là một học sinh lười biếng trong gia đình. Hôm đó cô về nhà với tâm trạng hết sức hân hoan phấn khởi, và quyết định sẽ làm một “cử chỉ đẹp” với cha mẹ của cô. Cô lặng lẽ thu dọn, lau chùi, nấu ăn, giặt giũ xong xuôi mọi việc, trước khi cha mẹ cô đi làm về. Chập tối hai ông bà bước về nhà và hiểu ngay là có một sự thay đổi kỳ lạ nơi cô con gái đang tuổi dậy thì của họ. Hỏi mãi cô bé mới kể lại câu chuyện cô đã được nghe thầy Forman kể và cô quyết từ nay sẽ làm như thế.

Sau bữa cơm chiều thật vui và đầm ấm, ông Alfonse, cha của Mary là một phóng viên của tờ báo địa phương , ông khoan khoái ngồi vào bàn làm việc và quyết định phải viết ngay một bài báo nói về câu chuyện “cử chỉ đẹp”.

Ngay chiều hôm sau, cả miền đều xôn xao rộn rã khi đọc bài báo. Người ta bảo nhau ít nhất mỗi ngày hãy nhớ làm một cử chỉ đẹp nho nhỏ cho nhau, cho cuộc sống.

Một đôi bạn trẻ đang yêu nhau, cùng thỏa thuận từ nay sẽ dành cho nhau những cử chỉ đẹp, thay vì những trò giận dỗi nhau vô bổ. Cha xứ đưa câu chuyện vào bài giảng Thánh lễ Chúa nhật kế đó. Ngoài đường người ta không vứt kẹo cao su bừa bãi nữa, người đi mua hàng nói lời cám ơn với cô bán hàng, còn cô bán hàng, hằng ngày hay cau có thì đã biết mỉm cười để đáp lại.”

Kính thưa gia đình,

Mỗi ngày một việc nho nhỏ thôi, với chút tình yêu cũng đủ để làm cho cuộc sống thêm ý nhị đậm đà, và niềm vui bởi sự quan tâm đến nhau trong yêu thương sẽ được nhem nhúm bừng cháy và lan tỏa như một tia lửa có thể lan cháy cả khu rừng.[2] Hay như cha ông ta thường nói: “gương lành đồn xa”. Cái đồn xa của những cô hoa hậu, của những minh tinh màn bạc, thì khác với cái đồn xa của nét đẹp toát ra từ nội lực, nét đẹp khó tàn phai theo năm tháng.[3]

Con được diễm phúc ở gần các Dì nhà hưu dưỡng, khi được chứng kiến tận mắt các Dì tuổi già sức yếu, bệnh tật, đau đớn, nhức mỏi suốt 23, 24 giờ, thế mà các Dì vẫn vui vẻ, vẫn cười được. Có Dì, ngày nào cũng đi đến từng phòng khác để thăm hỏi, dúi cho nhau cục kẹo, quả táo, miếng cam. Lâu lâu con lại thấy các Dì dẫn nhau đi ăn cơm, đọc kinh… Còn nơi gia đình Tập viện – Tiền tập chúng con, hằng ngày vẫn có rất nhiều cử chỉ đẹp diễn ra. Có những chị âm thầm mắc màn cho chị em, ngày nào chị em đi lao công về trễ, thì đã thấy có sẵn những xô nước đầy. Còn một nét đẹp nữa là chị em dám nói lên những gì mình thấy chưa đẹp, để giúp nhau đẹp hơn.

Thưa gia đình, riêng ngày hôm nay, con có thể quên được cái “bệnh run” để chia sẻ được với gia đình, cũng là nhờ sự động viên giúp đỡ tận tình của quí Dì Giáo, và sự khích lệ của các chị em.

Ngay từ những ngày đầu đời tu cho tới hôm nay, con được quí Dì dạy cho con cách thánh hóa ngày sống, cách quên đi nỗi nhớ nhà bằng việc học nhiều hơn, sống ngoan hơn để cầu nguyện cho cha mẹ … Rồi con biết suy niệm lời Chúa, biết cách ăn chuối bằng nĩa, ngồi thế nào cho đẹp, còn thế nào là ngồi kiểu “cổng chào”. Quí Dì dạy cho con biết quan tâm đến người khác, và biết đón nhận những trái ý một cách vui vẻ. Thời gian trôi qua nhanh, con được lớn lên về thể lý cũng như tinh thần. Con được hun đúc bằng những kinh nghiệm của quí Dì, quí chị đi trước để thấy được rằng trở thành người nữ tu đích thực phải cần sắm sửa cho mình những vẻ đẹp nào? Đó là bài học mà con đang được học dưới mái trường Tập viện. Thầy hiệu trưởng của chúng con là Đức Kitô, vị cố vấn của Ngài là Thánh Thần và các vị phụ tá của các Ngài đó là quí Dì Giáo.

Những cử chỉ, lời nói, những cuộc gặp gỡ, dù có lúc rất đột xuất nhưng rất có giá trị đã theo con đi vào cuộc sống. Con thiết nghĩ đó là những hoa trái mọc lên từ cội rễ yêu thương, chỉ có yêu thương mới có thể cảm thông tha thứ, chỉ có yêu thương mới dám góp ý sửa sai. Hành động này bắt nguồn từ di chúc của Chúa Giêsu: “Cứ dấu này mà người ta nhận ra các con là môn đệ của Thầy, là các con hãy yêu thương nhau.” (Ga 13, 15).

Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, trong những tháng ngày ngồi tù, những người cấp cao trong nhà tù rất canh chừng ngài. Họ sợ lính của họ bị “nhiễm độc” bởi ngài, nên họ thường xuyên đổi lính gác, thế nhưng ngài vẫn chinh phục được họ; dần dần họ trở thành bạn, thành học trò của ngài. Có lần họ hỏi ngài: “Chừng nào ông được trả tự do ông có sai giáo dân của ông trả thù chúng tôi không? Ngài trả lời: không, tôi vẫn tiếp tục yêu thương, dù các anh muốn giết tôi. – Nhưng sao anh lại yêu thương kẻ hại anh? Họ hỏi ngài. – Vì Chúa Giêsu đã dạy tôi yêu thương, nếu tôi không tuân giữ, tôi không đáng gọi là Kitô hữu.”4

Sống được như Đức Hồng Y Phanxicô quả là không đơn giản tí nào. Bởi vậy, ngài mới được chọn làm chủ tịch Công Lý và Hòa Bình.

Vâng, con rất thích bài hát “Cuộc đời quanh ta có biết bao là nét đẹp; là lòng bao dung, hy sinh là tình yêu thương……”

Vì đâu mà mẹ Têrêsa Calcutta đã cuốn hút nhiều người trên thế giới như vậy? Có thể nói được: Đó chính là năng lực của tình yêu. Tình yêu Chúa Giêsu đã hòa vào cuộc sống mẹ. Mẹ luôn lăp lại câu nói: “Hãy làm một cái gì đó tốt đẹp cho Chúa”. Phải chăng mẹ đã làm điều đẹp lòng Chúa, nên chỗ nào mẹ đến thì hòa bình ngự trị, chiến tranh chấm dứt. Có lẽ nơi mẹ nét đẹp thể chất dường như không nhiều, nhưng mẹ tràn đầy vẻ đẹp phẩm chất và năng lực, nguồn nội lực bắt nguồn từ chính Thiên Chúa.”5. Vì thế mẹ có được con tim tràn đầy yêu thương, yêu cho đến cùng (Ga 13, 1). Vậy, chúng ta mỗi người ai cũng có một số hoặc vô số nét đẹp, chúng ta thử khám phá lại và bật mí cho nhau được không? Khám phá ra mình là một công trình vĩ đại và độc nhất Thiên Chúa tác tạo nên để rồi hy vọng và vững bước vào đời.

Kính thưa gia đình,

Tình người đẹp và đáng trân trọng biết bao, thế mà hôm nay vẫn có nhiều người mẹ đang tâm giết con mình. Mỗi ngày, mỗi giờ đếm sao cho hết những bào thai bị trục xuất ra khỏi lòng mẹ; đếm sao cho hết những gia đình đang ly tan; nhiều người thấp cổ bé miệng vẫn bị bóc lột sức lao động; bóc lột nhân phẩm. Đó là một nỗi đau cho chúng ta, cho những con người có trái tim nhạy bén. Và có lẽ đó là lý do mà mẹ Maria đã khóc và vẫn còn khóc ra máu vì tội lỗi của con người gây ra.6

Con xin đi đến điểm cuối:

3. Chúa Giêsu Nguồn Phát Sinh Mọi Sự Thiện Hảo.

Từ nhỏ, khi đi học giáo lý, con được nghe các sơ kể rằng Chúa Giêsu là người đẹp trai nhất thế giới. Không ai cao to và tài giỏi bằng Chúa. Sau đó chúng con được tập bài hát có tựa đề: “Ngài là thần tượng lòng em”. Con rất thích bài hát này. Lâu lâu, khi có dịp nhớ lớp học giáo lý, con lại râm ran bài hát này. Đúng vậy, Chúa Giêsu là thần tượng cho mọi người và nhất là những người bước vào đời sống tận hiến. Chúa là thầy dạy mẫu mực của mọi sự trọn lành. Ngài đã giảng dạy cho chúng ta một đời sống trọn lành mà chính Ngài vừa là Đấng ban phát, vừa là Đấng hoàn tất – “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48).

Chúa Giêsu là người đẹp nhất trong mọi con cái loài người. Thời ấy, người ta gọi Ngài là người “lôi cuốn”: Ông ta mê hoặc dân chúng (x. Ga 7, 12). Chúa lôi cuốn người ta bởi phong cách, ngoại hình, cử chỉ và lời nói của Ngài. Người ta kéo hàng ngàn người vào hoang địa. Họ bỏ cả ăn, quên cả mệt để theo Người, nghe Người giảng dạy… Khi các người lính Dothái được các kỳ mục sai đi bắt Chúa, bọn lính đi và về tay không, họ tâu: “Không thể được đâu, xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy” (x. Ga 7, 46).

Vẻ đẹp của Chúa Giêsu không phải do tô điểm, mà là cái đẹp toát ra từ sự đơn giản, lòng khiêm nhu, sự dịu hiền thanh thoát và tuyệt vời trinh nguyên của con tim Thiên Chúa. Đến nỗi Thánh vịnh gia diễn tả như sau:

“Giữa thế nhân Ngài vô song tuyệt mỹ.

Nét duyên tươi thắm nở môi Ngài

Nên Ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi.” (Tv. 44, 3).

Và qua các trang Tin Mừng chúng ta thấy được Chúa đồng cảm, dịu dàng, quên mình lo lắng cho người khác: “Ta thương dân này, vì họ vất vưởng như chiên không có người chăn dắt” (Mc 6, 31 – 32) .

Sự dịu dàng qua ánh mắt nhìn người thanh niên giàu có; khâm phục trước cử chỉ dâng cúng nhỏ bé của bà góa nghèo. Chúa rung động trước cái chết của Lazarô; khóc thương thành Giêrusalemvì họ cứng lòng… Người nghiêng mình trên những vết thương của nhân loại: người hèn yếu, kẻ ốm đau tật bệnh … Chúa không loại trừ ai. Đặc biệt hai đối tượng được Chúa cưng nhất đó là trẻ nhỏ và người tội lỗi.

Với trẻ em, Chúa ẵm vào lòng. Lúc chữa cho con gái ông Giairô sống lại, Chúa ân cần bảo người nhà: “Hãy cho em ăn đi, vì em đang đói”.

Với người được liệt vào hàng tội lỗi như Giakêu, Chúa thấy và gọi ông từ trên ngọn sung rồi cùng sánh bước với ông vào nhà ông. Ngài đồng bàn với nguời thu thuế và tội lỗi.

Chúa Giêsu có lối mời rất hay: “Hỡi những ai đang mang gánh nặng nề, hãy đến với tôi, tôi sẽ gánh dùm cho” (x. Mt 11, 29). Riêng với Toma Chúa mời đích danh: “Hãy xỏ ngón tay vào cạnh sườn Thầy đi con” (x. Ga 20, 27).

Cuối cùng khi bị ghép vào hạng mất trí, tâm thần hay quỉ nhập, Ngài vẫn bình thản, không hề nổi nóng (x. Ga 8, 48 – 52).

Một nét đẹp khác nữa nơi Chúa Giêsu là sự trung tín. Sau khi sống lại, Chúa thực hiện ngay lời hứa sẽ gặp lại các môn đệ. Chúng ta nhớ lại cảnh mờ sáng trên biển hồ Tibêria hôm ấy, Ngài đến đúng lúc các môn đệ không còn gì để hy vọng nữa: suốt một đêm vất vả thả lưới chẳng được con nào. Lúc này chắc chắn các ông vừa đói, vừa mệt và vô vọng. Ngài đến chỉ cho các ông chỗ thả lưới, và cá đầy lưới đến nỗi các ông sợ rách lưới. Tiếp đến Chúa lại nướng cá cho các ông ăn. Con nghĩ lúc đó, Chúa gọi đích danh: Phêrô, Gioan, mau đến mà ăn các con! Rồi Chúa tiếp cho từng người, nhìn các ông cách trìu mến…

Cảnh bình minh trên bờ hồ Tibêria tuyệt quá phải không thưa gia đình? Chúa Giêsu đã phục hồi niềm hy vọng, niềm tin cho các ông một lần nữa.

Nhìn vào các vị lập đạo, chúng ta thấy không có vị sáng lập nào hoàn thiện như Thiên Chúa chúng ta. Đức phật chỉ để lại con mắt; Đấng Mahomet để lại bộ tóc; còn Chúa Giêsu để lại cả thân mình Ngài. Và không ai dám bảo đảm sự sống cho con người như Chúa Giêsu: “Ta đến để các con được sống và sống dồi dào’ (Ga 10, 10).

Con thấy mình quá hạnh phúc vì được Chúa Giêsu là thầy, là anh, và được gọi Thiên Chúa bằng tiếng Abba – Cha ơi! thân thương. Tiếng mà ngay từ lúc còn bập bẹ tập nói, con đã được gọi: cha ơi!

Lời mời gọi nên giống Cha hằng ngày vẫn vang vọng bên con. Mỗi công việc từ sáng sớm đến đêm khuya, tất cả con đều hướng về Cha.

Để kết thúc cho phần chia sẻ, con xin mượn lời của thi sĩ R. Targore để nói lên tâm tình của con:

“Ngày lại ngày, lạy Thiên Chúa con sẽ đứng trước Người chiêm ngưỡng dung nhan.

Hai tay cung kính, lạy Thiên Chúa muôn loài,

Con sẽ đứng trước Người chiêm ngưỡng dung nhan.

Dưới bầu trời bao la, trong cô đơn và thầm lặng, với tấm lòng thanh tịnh

Con sẽ đứng trước Người chiêm ngưỡng dung nhan.

Và khi đã hoàn tất việc đời,

Lạy Thiên Chúa muôn loài, một mình lặng lẽ,

Con sẽ đứng trước Người chiêm ngưỡng dung nhan.”


[1] Chuyện Cây đàn của thánh Phanxicô

[2] Nối lửa cho đời, tr. 22

[3] Chứng nhân hy vọng, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

4 Ibid.

5 Nghệ thuật nhận diện tình yêu, Nt. Phạm Thị Oanh

6 Nối lửa cho đời.

Comments are closed.