Lời nguyện của mẹ

0

Một lời nguyện đẹp và tạo một ấn tượng mạnh khi lời nguyện ấy vọng lên từ những gì thật nhất của cuộc đời. Lời nguyện ấy bộc lộ tất cả tâm can và nói lên những khao khát chân thật nhất của người khẩn cầu, chẳng hạn như lời nguyện của mẹ dành cho con những khi con gặp khó khăn, quẫn bách, những lúc đau ốm, thất bại, hoặc tù đầy. Lời nguyện của mẹ lúc đó tuyệt vời!  Lời nguyện đó phát xuất tự đáy lòng của mẹ, bao trùm cả con người của mẹ, và khẳng định sự bất khả chia lìa của tình mẹ con. Lời nguyện của mẹ trong những giây phút tuyệt vọng của con, thật tha thiết và mang một cung giọng da diết khó tả. Lời nguyện của mẹ trong những lúc cùng khốn đó chuyển tải một sức mạnh rất lớn có thể đánh vung cánh tay của tử thần đang muốn cướp đi mạng sống của con mẹ; lời nguyện ấy làm chùng lòng người nghe, và có thể chạm được cung lòng của Thiên Chúa khiến Ngài cũng mủi lòng thi ân. Nói về lời nguyện của mẹ, tôi muốn chia sẻ hai lời nguyện rất đẹp và mạnh mẽ mà tôi nghe được–một của mẹ tôi và một của người mẹ xứ Ca-na-an trong Phúc âm Matthêu. 

Lời nguyện của mẹ tôi

Tôi sinh ra và lớn lên tại Tân Phát, một làng của những người Bắc di cư năm 1954, thuộc Bảo Lộc, Lâm Đồng. Tôi thường được nghe mẹ kể rằng, ngày tôi còn rất bé, độ một tuổi rưỡi, tôi bị chứng viêm phổi. Lúc bấy giờ Bảo Lộc còn hoang sơ lắm vì đang cùng chung với cả đất nước trong buổi sôi lửa chiến tranh, điều kiện y tế còn hạn hẹp và khó khăn. Bệnh viện Bảo Lộc ngày nay, khi ấy chưa được gọi là bệnh viện, chỉ là trạm xá thôi, và dĩ nhiên là chưa có bác sĩ. Với chứng viêm phổi của tôi chỉ được các y tá chăm sóc bằng những cách trị liệu cảm cúm sơ sài. Vì thế chứng bệnh của tôi ngày càng tệ hơn. Mẹ kể, khi ấy chân tay tôi chỉ còn có da bọc xương, bụng thì trương sình lên như bụng cóc và hai con mắt to thụt vô hai hốc mắt trông hốc hác đáng sợ. Khi thấy tình trạng sức khỏe của tôi không mấy tiến triển, gia đình quyết định đưa tôi xuống Sài Gòn để chữa trị tại Bệnh Viện Nhi Đồng. 

Sau khi nhập viện và xét nghiệm, các bác sĩ nhận thấy tôi cần phải được mổ ngay. Nhưng mổ xong, họ chẳng thấy một chút khả quan nào. Các bác sĩ đã cho gia đình biết là bệnh tôi đã quá nặng, không thể cứu chữa được nữa và gia đình có thể đưa tôi về, vì tôi sẽ chết trong nay mai. Có lẽ vì sự năn nỉ của gia đình đã cố nài xin các bác sĩ cứu vớt tôi bằng mọi cách. Họ quyết định mổ lại và lần này cũng như lần trước, không một chút hy vọng nào. Cuối cùng cha mẹ đành chấp nhận để đưa tôi về và báo tin cho người nhà chuẩn bị cho việc chôn cất, vì tôi có thể sẽ không qua khỏi căn bệnh hiểm nghèo này. Nhưng đêm trước khi về lại Bảo Lộc, trong khi nằm chờ sáng tại bệnh viện, suốt đêm đó mẹ đã nằm ôm tôi vào lòng và cầu nguyện cho tôi. Khi ấy trên mình tôi chằng chịt đủ mọi thứ dây ống cắm vào cơ thể. Khi ôm tôi vào lòng, mẹ vô tình đã đẩy những ống đang cắm vào cơ thể tôi sâu hơn, khiến mủ và một thứ nước gì đó rất nặng mùi từ cơ thể tôi chảy ra. Điều này khiến mẹ hoảng hốt, vội báo cho bác sĩ. Nghe vậy bác sĩ trở lại xem và họ rất mừng vì thấy mủ và nước chảy ra. Thế là họ lại bắt tay vào làm việc và rồi đã cứu sống tôi. 

Thú thực lúc ấy tôi còn quá nhỏ để có thể nhớ hay hiểu mẹ đã cầu nguyện cho tôi như thế nào. Nhưng tôi thiết nghĩ lời nguyện của bất cứ người mẹ nào khi chứng kiến cảnh con thơ của mình sắp phải ra đi, cũng đều mạnh mẽ và da diết. Tôi nghĩ lúc đó mẹ đã cầu nguyện không ngớt cho tôi. Lời nguyện của mẹ lúc đó có lẽ đầy nghẹn ngào nơi cổ họng, nấc thành từng tiếng và nhạt nhòa trong nước mắt. Lời nguyện của mẹ lúc đó chắc thảm thiết lắm, trên một khuôn mặt tiều tụy sầu não, sau bao đêm ngày lo lắng mất ăn mất ngủ vì tôi. Lời cầu nguyện ấy da diết và mạnh mẽ có thể xoáy vào lòng người, chạm đến được trái tim của Chúa, và có thể khiến cả thần dữ cũng phải khiếp sợ thoái lui. Chính tình yêu của mẹ dành cho tôi đã khiến mẹ cầu nguyện như thế. Tôi tin chắc là trong đêm đó mẹ đã thương lượng với Chúa nhiều lắm; mẹ đã dằng co với tử thần đang chực lấy đi mạng sống của tôi. Mẹ đã ôm tôi thật chặt vào lòng để chẳng ai có thể giựt tôi ra khỏi tay của mẹ. Quả thật lời cầu nguyện của mẹ đã được Chúa lắng nghe. Tình yêu của mẹ đã chiến thắng tử thần. Tình yêu của mẹ đã cho tôi sự sống. Cảm tạ Chúa đã chữa lành tôi qua tay các bác sĩ. Cám ơn những lời nguyện của mẹ, cái ôm của mẹ, tình yêu của mẹ, những giọt nước mắt của mẹ, sự ân cần lo lắng của mẹ đã cho tôi sự sống và làm nên con người của tôi ngày hôm nay. Quả thật tình yêu đã làm cho lời nguyện của mẹ mạnh mẽ hơn bao giờ, trung kiên hơn bao giờ và có sức cảm hóa hơn mọi lời.

Hôm nay tôi đã khôn lớn, một quãng đường dài vất vả nuôi dạy tôi, chắc chắn mẹ không ngừng cầu nguyện cho tôi mỗi ngày. Không chỉ một lần đau bệnh đó khiến mẹ lo và cầu nguyện cho tôi, nhưng còn nhiều biến cố khác nữa trong quá trình trưởng thành của tôi, mẹ đã không ngừng đồng hành, cầu nguyện cho tôi đêm này. Thỉnh thoảng đến thăm mẹ và mỗi khi nói cho mẹ biết một khó khăn nào đó mà tôi đang gặp phải, mẹ vẫn nói, “Mẹ sẽ cầu nguyện cho con.” Câu nói đó tuy ngắn ngủi nhưng nâng đỡ tôi thật nhiều. Mỗi khi nghe câu đó tôi cảm thấy dù mẹ chưa cầu nguyện, tôi cũng đã cảm thấy như Chúa đã ban ơn rồi. Có lẽ dù thế nào đi nữa, Chúa sẽ chẳng thể ở yên đâu nếu Ngài không lo thi ân cho tôi trước khi mẹ cất lời cầu xin! Cám ơn mẹ và con xin mẹ tiếp tục cầu nguyện cho con!

Lời nguyện của người mẹ xứ Ca-na-an

Chẳng phải chỉ có mẹ tôi mới cầu nguyện cho tôi như thế, mà bất cứ người mẹ nào thương con cũng đều cầu nguyện như thế mỗi khi con của họ gặp khó khăn, khốn đốn đến thập tử nhất sinh. Tôi nhớ đến lời nguyện của một người mẹ xứ Ca-na-an cầu nguyện cho con của bà bị quỉ ám, được ghi lại trong Phúc âm Matthêu như sau:

21 Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn,22 thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm! “23 Nhưng Người không đáp lại một lời.

Các môn đệ lại gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” 24 Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.”25 Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi! “26 Người đáp: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.”27 Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”28 Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi (Mt 15:21-28 – Bản dịch NPDCGKPV).[1]

Có lẽ đây là một trong những chương mà tôi thích nhất trong Phúc âm Matthêu. Tôi thích vì tác giả đã viết một cách rất mộc mạc về Chúa Giêsu. Ông cho thấy những gì là rất người nơi Chúa Giêsu. Ông đã không đánh bóng hình ảnh của Chúa Giêsu. Dường như, ông thấy sao, nghe sao thì tường thuật lại y như vậy. Có lẽ cách viết rất thực này của tác giả như muốn nói rằng, Chúa Giêsu cũng là người thật. Ngài sinh ra là một người Do-thái nên cũng mang những gì rất người, có yêu, có giận, có khinh người, có kỳ thị, và cũng rất Do-thái, với những thành kiến về văn hóa, tập tục, chính trị và niềm tin. Trong chương này, tôi thấy Chúa Giêsu có vẻ rất nóng giận, mất bình tĩnh, khó chịu ghê lắm, chẳng còn thấy đâu nữa một Giêsu hiền lành, nhân từ và kiên nhẫn. Chúa Giêsu chửi các kinh sư và luật sĩ là quân “mù” (15:12-14), ngài mắng các môn đệ là đồ “ngu” (15:16), ngài ví người mẹ xứ Ca-na-an ngang hàng với “chó con” (15:26)!  Dẫu tác giả viết rõ là chó con, nhưng chó con cũng vẫn là chó! 

Tôi cũng thích đoạn này vì lời cầu nguyện của người mẹ xứ Ca-na-an này để lại nhiều ấn tượng đẹp trong tôi. Trước hết đó là sự mạnh dạn của bà, một người ngoại giáo mà dám đến gặp Chúa Giêsu. Matthêu viết về lời nguyện của người mẹ xứ Ca-na-an khởi đầu bằng câu: “Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn…” (15:21). Ra khỏi đó là ra khỏi đâu? Chương 14 và phần đầu của chương 15, Matthêu tường thuật là Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, chữa nhiều bệnh tật và giảng dạy ở gần biển hồ Ghen-nê-xa-rét. Như vậy ra khỏi đó là ra khỏi Ghen-nê-xa-rét, vùng của người Do-thái. Qua những sự việc làm siêu phàm kia mà danh tiếng của Chúa Giêsu đã vang khắp vùng, khiến cả chính quyền lẫn giáo quyền đều nghe biết và để ý đến Ngài. Hêrôđê hoang mang vì danh Ngài lừng lẫy, lẫn lộn Ngài với Gioan Tẩy Giả, người mà ông đã ra lệnh cho thuộc hạ chém đầu; còn những kinh sư và Pharisêu từ Giêrusalem cũng tìm lên để chấn vấn Ngài về truyền thống và tập tục của Do-thái. Cuộc tranh luận chắc gay go lắm khiến Chúa Giêsu nổi nóng và gọi họ là quân mù. Sau khi tranh luận với giáo quyền, Chúa Giêsu lánh lên phía tây bắc của Ghen-nê-xa-rét, đến vùng Tia và Xi-đon, một vùng đất của dân ngoại vốn là kẻ thù truyền kiếp của người Do-thái[2]. Có thể Ngài tạm lánh ở vùng này để khỏi phải đối đầu với giáo quyền chăng? 

Ngài vừa đến Tia và Xi-đôn thì gặp một người mẹ xứ Ca-na-an đến xin ngài trừ quỉ cho con gái của bà. Matthêu viết như sau: “Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: ‘Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!  Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!’” (15:21-22). Matthêu dùng chữ: “Bà kêu lên.”  Các nhà chú giải nói, Matthêu đã dùng đúng chữ của nguyện cầu.[3]  Đồng thời lời của bà kêu cầu với Chúa Giêsu, cũng mang cung điệu của phụng tự: “Xin dủ lòng thương tôi!”  Đây cũng chính là câu mà ở đầu mỗi Thánh lễ của người Công giáo, mọi người đều xướng lớn tiếng trong phần Kinh Thương Xót : “Xin Chúa thương xót chúng con.”  Dường như Matthêu muốn diễn tả lời bà thân thưa với Chúa Giêsu nghe như một lời cầu nguyện. Ông thật khéo khi mô tả về lời khẩn cầu của người mẹ này. Bà cầu nguyện như nói chuyện và bà nói chuyện như cầu nguyện. Cung cách này nói lên điều bà cầu xin thật cấp bách và tha thiết. Bà đã cầu nguyện liên lỉ. Lời cầu nguyện của bà đã đi vào cuộc sống và trở nên như cách nói năng thường ngày của bà.

Thứ đến bà là một gương mẫu của sự kiên trì trong cầu nguyện. Tội cho bà vì bà đã gặp phải ngày không mấy dễ chịu của Chúa Giêsu!  Bà cầu xin thành tâm đến thế mà Chúa Giêsu không thèm nói với bà một lời. Dẫu vậy bà không bỏ cuộc. Bà tiếp tục đi theo năn nỉ ỉ ôi. Bà lải nhải xin đến mức các môn đệ cảm thấy khó chịu vì sự lì lợm của bà. Sự khó chịu của các môn đệ bộc lộ thành tiếng, họ thúc Chúa Giêsu: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” (15:23). Để ăn khớp với câu trả lời của Chúa Giêsu với các môn đệ, câu này đúng ra phải dịch là: “Xin Thầy hãy cho những gì bà ta xin đi, bởi vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”[4]  Đáp lại sự thúc dục của các môn đệ, lúc này Chúa Giêsu mới lên tiếng: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi” (15:24). Phũ phàng quá!  Thái độ kỳ thị và óc thành kiến của Chúa Giêsu biểu tỏ bằng ngôn từ rõ ràng. Chẳng lẽ chỉ những người Do-thái mới được hưởng những đặc quyền của Chúa, còn dân ngoại thì không xứng đáng? 

Matthêu thật khéo hướng người đọc đến những góc rất tương phản trong câu chuyện. Một mặt ông kéo những nét vẽ thật mạnh về hình ảnh của Chúa Giêsu, một con người trịch thượng, mang một cái nhìn đầy kỳ thị về chủng tộc, và lạnh lùng trước lời van xin của người mẹ đau khổ, mặt khác ông cũng làm tương phản vớ thái độ của Chúa Giêsu bằng sự kiên trì của bà mẹ, dù thế nào đi nữa bà vẫn không nản lòng. Bà vẫn quyết tâm đi cho đến cùng của lời cầu xin. Bà biết bà là ai và Chúa Giêsu là ai chứ. Bà đã gọi đích danh, gốc gác của Chúa Giêsu, “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” (15:22b). Bà biết sự hiềm khích lịch sử giữa hai dân tộc Do-thái và Ca-na-an chứ. Bà biết thái độ kỳ thị của người Do-thái đối với dân tộc của bà chứ, ấy vậy mà bà vẫn đến gặp Chúa Giêsu. Cho dù bà có nghe được sự quả quyết của Chúa Giêsu là Ngài không muốn tiếp bà, bà vẫn không thối lui, nhưng đã đến sụp lạy dưới chân Ngài và van xin: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” (15:25). Bà lập lại lời thỉnh cầu. Lời bà xin thật thành tâm. Tình yêu dành cho con mạnh mẽ quá, khiến bà bất chấp sự kỳ thị và đầu óc trịch thượng của Chúa Giêsu. Lời cầu xin của một người mẹ dành cho con trong lúc cùng khốn thật mạnh mẽ và trung kiên.

Cuối cùng lời nguyện của bà là một quyết tâm tranh đấu cho công bằng và lẽ thật. Bà không cầu nguyện cho bà, bà cầu nguyện cho con gái của bà. Bà không chỉ cầu nguyện cho con gái của bà, bà còn cầu nguyện cho dân tộc của bà. Không chỉ con gái bà bị quỉ ám hành hạ khổ sở, dân tộc bà cũng đang bị sự ác đè bẹp khổ sở và bị đối xử khinh miệt. Đáp lại lời cầu cứu của bà, Chúa Giêsu phán một câu đầy khinh bỉ và lạnh như một gáo nước tạt vào mặt bà, muốn xua đuổi bà: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (15:26). Câu nói này của Chúa Giêsu có thể gây một cú sốc rất nặng đối với nhiều người, ít ra đối với người Việt Nam và người Trung Hoa. 

Trong văn hóa Việt cũng như Hoa, một ai đó sẽ cảm thấy bị xúc phạm nặng, nếu họ bị so sánh ngang hàng với đồ chó. Đối với người Việt Nam, dẫu là đại đa số rất mê thịt chó,[5] nhưng không muốn bị ví ngang hàng với chó. Có lẽ vì chó Việt Nam thường được nuôi không phải như thú kiểng ở trong nhà, mà là để coi nhà, để dọn những cơm thừa canh cặn, và cuối cùng là để dọn phân cho trẻ em mỗi khi chúng phóng uế ra nhà. Bởi vậy người Việt Nam hiếm khi chửi ai là đồ chó hay miệt thị ai ngang hàng với chó, nếu đó không phải là mối thù riêng tư và cay cú. Những câu chửi của người Việt Nam dường như không “đủ ký” nếu câu chửi ấy không thêm chữ “chó” ở trong đó, chẳng hạn như: Đồ chó chết![6]  

Tương tự, người Hoa cũng cảm thấy bị xúc phạm không kém nếu họ bị ví ngang hàng với chó. Đầu năm 2012, trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình Trung Hoa, ông Khổng Khánh Đồng, giáo sư môn Trung Hoa Học tại đại học Bắc Kinh đã gọi những người Hồng Kông là “đồ chó,” là “con hoang,” với hàm ý là người Hoa mà không biết tiếng Hoa là đồ mất gốc, là đồ ngu.[7]  Chuyện nhiều người Hồng Kông không biết tiếng Hoa vì đã bao nhiêu năm Hồng Kông là thuộc địa của Anh, cho đến 1997. Dưới quyền thuộc địa của Anh, tiếng Anh đã là ngôn ngữ chính của Hồng Kông. Lời chê trách đầy miệt thị của giáo sư họ Khổng đã gây một sự phẫn nộ lớn đối với người Hồng Kông. Để trả đũa, một tuần sau, một nhóm người Hồng Kông đã vận động đăng tràn ngập Hồng Kông những quảng cáo trong đó, họ gọi những người Hoa Lục là “Châu chấu,” với ý rủa những người mẹ Hoa Lục đang tràn qua Hồng Kông để ăn bám, hưởng những vinh hoa trù phú, cũng như phúc lợi xã hội của Hồng Kông tựa như một nạn dịch châu chấu.[8]

Trong văn hóa Do-thái thời Chúa Giêsu, việc gọi những người ngoài hay dân ngoại là đồ chó là chuyện bình thường, dẫu rằng chó cũng vốn được xem là con vật thấp hèn trong văn hóa của họ[9]. Khi chê trách ai làm điều tồi bại, phản trắc, phản bội, người Do-thái cũng gán người đó ngang hàng với chó. Gioan nặng lời với những người hư đốn đó như sau: “Những quân chó má, làm phù phép, gian dâm, sát nhân, thờ ngẫu tượng, cùng với mọi kẻ thích điều gian dối và ăn gian nói dối, hãy xéo ra ngoài” (Kh 22:15). Phaolô cảnh báo với các tín hữu của ông ở Philliphê về những kẻ giả nhân, giả nghĩa và coi những người này ngang hàng với chó: “Anh em hãy coi chừng quân chó má!  Hãy coi chừng bọn thợ xấu!  Hãy coi chừng những kẻ giả danh cắt bì” (Pl 3:2). Không chỉ những người gian manh mà cả những kẻ ngu xi cũng bị ví đồng hạng với chó. Tác giả của sách Châm Ngôn bực dọc thốt lên: “Con chó quay lại chỗ nó mửa, đứa ngu lại gặp chuyện ngu đần” (Cn 26:11). Cả đến những cách ăn nết ở phàm phu tục tử, thiếu trách nhiệm, vô đạo đức của giai cấp lãnh đạo, cũng bị xếp ngang hàng với chó. Isaia gọi những loại người đó như chó đói, chẳng còn một chút liêm sỉ: “Chúng còn là lũ chó đói, ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại làm mục tử, thứ mục tử chẳng biết phân biệt gì. Cả bọn, chẳng trừ ai, mạnh ai theo đường nấy, chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình” (Is 56:11). Xem ra người Do-thái chửi nhau cũng chẳng kém gì người Việt Nam!  Lời lẽ rất khiếm nhã như thế cũng đã phát ngôn ở cửa miệng của những bậc thánh hiền và được yên vị trong những trang gọi là sách thánh, mà hằng năm vẫn được nhắc đến trong những giờ phút trang nghiêm của phụng tự!    

Nếu đây là kiểu nói thông thường của người Do-thái gọi dân ngoại là chó, thì, việc Chúa Giêsu có dùng chữ chó trong câu nói của Ngài cũng là chuyện bình thường. Hiểu như vậy, thì dường như, Matthêu không muốn nhấn mạnh đến sự kỳ thị mang tính cá nhân giữa Chúa Giêsu và người mẹ xứ Ca-na-an nhằm hạ thấp bà, ví bà ngang hàng với chó, bởi vì Ngài chưa hề gặp bà; trái lại, ông muốn nói đến sự kỳ thị chủng tộc, một cái nhìn sai lạc của người Do-thái đối với dân ngoại. Đồng thời, có lẽ bà cũng không nghĩ câu nói của Chúa Giêsu có ý khinh thường mang tính tính cá nhân trực tiếp đối với bà. Vì thế bà tiếp tục đáp lời. Bà thưa: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống” (15:27). Qua câu nói này, bà mẹ xứ Ca-na-an dường như muốn tranh đấu chống lại cái nhìn kỳ thị của người Do-thái. Thiên Chúa phải là Thiên Chúa của tất cả mọi dân!  Ân sủng của Chúa phải là cho tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng cho người Do-thái!  Dẫu là chó đi nữa, nhưng đây là chó của chủ nhà, chó được nuôi trong nhà, chứ không phải là chó hoang!  Bà chấp nhận người Do-thái là con cái trong nhà, là dân đã được tuyển chọn trước, được quyền ăn uống trong nhà và từ bàn của chủ, nhưng dân ngoại đến sau cũng được hưởng những phúc lợi và sự sang giầu của chủ, dẫu không được trực tiếp từ bàn ăn, nhưng không phải bị bỏ đói. Lời đôi co giữa người mẹ xứ Ca-na-an với Chúa Giêsu lúc này không còn là lời nói mang tính cá nhân của bà, mà là lời nói cho cả dân tộc của bà, những người ngoài Do-thái. 

Sự khẩn cầu trung kiên của bà không chừng đã làm cho Chúa Giêsu nhớ lại lời dạy của Ngài trước đây, khi dậy mọi người cầu nguyện như sau:

7 “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho.8 Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho.9 Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá?10 Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?11 Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao? (Mt 7:7-11; Lc 11:5-13)

Quả thực, sự kiên trung trong cầu nguyện và quyết tâm đòi hỏi sự công bằng cũng như lẽ thật của người mẹ xứ Ca-na-an, đã chẳng uổng công chút nào. Chúa Giêsu đã đáp lại niềm tin mạnh bẽ của bà. Ngài nói với bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.”  Ngay lập tức, con gái của bà được khỏi quỉ ám (15:28). Từ câu nói của Chúa Giêsu, mọi nỗi nhục của bà đã được xóa. Mọi lo lắng của bà đã được vơi đi. Mọi giọt nước mắt sầu khổ của bà đã được lau khô. 

Matthêu gói ghém câu truyện thật ý nhị. Câu truyện kết thúc thật có hậu. Sức mạnh của niềm tin cũng như sự trung kiên của lời cầu nguyện là sức mạnh phi thường. Tuyệt vời!  Lời nguyện tha thiết của bà đã chạm được trái tim Chúa Giêsu và “cảm hóa” được Ngài. Lời nguyện của bà đã bẻ gẫy mọi gông xiềng đang gây ra đau khổ cho người con thân yêu của bà. Lời nguyện ấy cũng đập tan bức tường ô nhục giữa người Do-thái và dân tộc của bà. Tình yêu mãnh liệt và lời nguyện kiên trung của bà đã mở tung cánh cửa ân sủng để từ nay bất cứ dân tộc nào tin nhận danh thánh Giêsu thì Ngài đều cho họ được quyền làm con Thiên Chúa[10]

Cuối cùng, Matthêu thật khéo khi ông kể câu truyện này ngay trong tập sách của ông, như thể muốn nói lên, sự đôi co giữa người mẹ xứ Ca-na-an với Chúa Giêsu, cũng như với các môn đệ là phản ảnh chính sự dằng co đang xảy ra ngay trong cộng đoàn của ông—Liệu có nên mở cửa cho người ngoài Do-thái cũng được hưởng ơn cứu chuộc chăng?  Ông đã nương tựa vào cách giải quyết vấn đề của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã ra khỏi cộng đoàn Do-thái, một cộng đoàn nặng về truyền thống, tập tục và luật lệ mà quên đi tình người, cũng như tạo nên sự chia rẽ giữa các dân tộc. Ngài đến với dân ngoại, để dân ngoại, mà đại diện là người mẹ xứ Ca-na-an được vào trong nhà, làm một với cộng đoàn dân Chúa. Từ nay trở đi bà và dân tộc của bà không còn bị xem là người ngoài nữa, không còn bị xem là đồ chó nữa! 

Lời nguyện của người mẹ xứ Ca-na-an thật đẹp!  Tôi cảm phục sự kiên trì của bà trong nguyện cầu. Bà đã dậy cho tôi biết trung kiên trong đời sống cầu nguyện. Tôi được lớn lên nhiều trong tình Chúa nhờ mẫu gương tin tưởng của bà nơi Chúa. Niềm tin của bà mãnh liệt quá. Tôi yêu mến bà vì tình yêu bao dung của bà đã dậy tôi thật nhiều. Tình yêu của bà không chỉ có sức mạnh chữa lành đời sống cá nhân mà còn đem lại niềm vui cho cả dân tộc. Bà đã dạy cho tôi biết rằng, dẫu các giờ cầu nguyện của tôi có cảm thấy khô khan, hay cảm thấy như không có Chúa, hãy cứ tin. Dẫu cuộc đời đầy khổ đau, hãy cứ hy vọng. Dẫu cuộc đời đầy chia rẽ và hận thù, hãy cứ yêu. Cảm ơn bà. Tôi thật biết ơn bà.    

Lời nguyện của tôi

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa quan phòng đã tặng ban cho mỗi một người trên trái đất, ai cũng có một người mẹ. Nếu có người đã ca ngợi mẹ, món quà vô giá của Chúa dành cho mỗi người, như “là dòng suối dịu hiền, là bài hát thần tiên, là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao, là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối…, là lọn mía ngọt ngào, là nải chuối buồng cau, là tiếng dế đêm thâu, là nắng ấm nương dâu, là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời,”[11] con muốn gọi mẹ là mẫu gương của nguyện cầu, luôn làm cho con lớn lên trong tình Chúa mỗi ngày. Càng chiêm ngắm tình mẫu tử trong cuộc đời, con càng cảm nghiệm sâu hơn tình của Chúa dành cho con, sự đồng hành của Chúa mỗi ngày trong đời sống của con. Xin dạy con biết tha thiết trong cầu nguyện như lời nguyện của mẹ dành cho con mỗi ngày. Xin dạy con biết bao dung trong cầu nguyện để mọi khoảng cách chia rẽ trong con với mọi người được ngắn dần. Xin dạy con biết tin tưởng mãnh liệt, dù ngày hôm nay đau khổ có chất chồng, xin cho con luôn biết tin và hy vọng rằng, chẳng có đau khổ nào mà cả Chúa và con không thể vác nổi. Amen.

Lm. Phạm Đức Hạnh, SJ

———-

[1] Không chỉ Matthêu có câu truyện về lời nguyện của một người mẹ, mà cả Maccô 7:24-30, cũng có câu truyện tương tự. Tuy nhiên có một sự khác biệt nhỏ ở hai câu truyện. Vì Phúc âm Maccô được viết trước Phúc âm Matthêu, nên có thể Matthêu đã vay mượn và chỉnh sửa câu truyện của Maccô, nhằm phục vụ nhu cầu trong cộng đoàn của ông. Người mẹ trong phúc âm Matthêu là người xứ Ca-na-an, trong khi đó người mẹ trong phúc âm Maccô là người Hy-lạp. Tôi nghĩ đây là chủ đích của hai tác giả cố tình viết khác nhau cho những nhóm độc giả khác nhau. Matthêu viết cho người Do-thái. Có thể có sự giằng co trong cộng đoàn Matthêu về việc có nên mở cửa cho những người không phải là Do-thái được đón nhận ơn cứu độ từ Chúa Giêsu không. Trong khi đó, Maccô viết cho người Hy-lạp cho nên người mẹ này mang quốc tịch Hy-lạp, đây là một thực tế đang xảy ra trong cộng đoàn Maccô, ngày ngày càng có nhiều người ở Hy-lạp gia nhập cộng đoàn Kitô hữu.

[2]Carter, Warren. Matthew and the Margins: A Sociopolitical and Religious Reading. Maryknolls, NY: Orbis Books, 2000, 321.

[3] Sđd. 322.

[4] Tôi thấy bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch câu này giống với các bản dịch Anh Ngữ–New Revised Standard Version, Revised English Bible và New American Bible: “Send her away,…”  Trong khi đó một bản dịch Anh Ngữ khác, New Jerusalem Bible lại dịch là: “Give her what she wants,…”  Tôi thấy cách dịch của New Jerusalem Bible có lý hơn vì nó ăn khớp với câu trả lời của Chúa Giêsu với các môn đệ: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi” (15:24).  

[5] “Sống ở trên đời ăn miếng thịt chó, chết xuống âm phủ biết có hay không!”  – Ca dao.

[6] Trong Tự Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ có dẫn chứng để cả một chuỗi dài những câu chửi của người Việt Nam, như: Đồ chó chết. Đồ chó đẻ. Đồ chó ghẻ. Đồ chó má. Ăn ở chó má. Mập như chó thiến. Sủa [Một ai đó có thói chửi đổng lớn tiếng thường bị gán cho là sủa như chó]. Đồ chó trâu gì mà…! (Lê, Đức V. & Lê, Trụ N., Việt-Nam Tự-Điển. Quyển Thượng A-L. Sàigòn, VN: Nhà Sách Khai-Trí, 1970). 

[7] “Giáo Sư TQ Gọi Dân Hồng Kông Là ‘Đồ Chó’ “BBC Vietnamese. Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012.

[8] “Người Hoa Lục Bị Gọi Là ‘Châu Chấu.’”  BBC Vietnamese. Thứ tư, 1 tháng 2, 2012

[9] Witherup, Ronald D. Matthew: God With Us – Spiritual Commentaries on the Bible. Hyde Park, NY: New City Press, 2000, 114.

[10] Ga 1:12.

[11] Phạm, Thế Mỹ, “Bông Hồng Cài Áo.” 

 

Comments are closed.