Diễn từ của Đức Thánh Cha Phanxicô trước các thành viên Ngoại Giao đoàn chính thức tại Tòa Thánh

0

https://www.youtube.com/watch?v=PeOsrmu9n_0&feature=emb_logo

Thưa quý ngài,

Thưa quý ông quý bà,

Tôi xin cảm ơn ngài Trưởng đoàn, Ngài George Poulides, Đại sứ Cyprus, vì những lời tốt đẹp và lời chúc tốt lành mà ngài thay mặt tất cả quý vị gửi đến tôi, và tôi xin quý vị thứ lỗi cho những bất tiện do việc hủy bỏ cuộc họp của chúng ta theo dự kiến ban đầu vào ngày 25 tháng Một vừa qua. Tôi xin cảm ơn vì sự kiên nhẫn và thông cảm của quý vị, và cảm ơn quý vị vì đã nhận lời mời đến đây đây sáng nay cho buổi gặp gỡ truyền thống của chúng ta, bất kể những khó khăn.

Cuộc gặp gỡ của chúng ta sáng nay diễn ra trong Khán phòng Phước lành rộng rãi hơn, để tôn trọng sự giãn cách cá nhân lớn hơn cần thiết do đại dịch đòi hỏi. Tuy nhiên, sự giãn cách này chỉ thuần túy về mặt thể lý. Cuộc gặp gỡ hôm nay nói về một điều rất khác: đó là tín hiệu của sự gần gũi và hỗ trợ lẫn nhau mà gia đình các dân tộc mong muốn. Trong thời gian đại dịch như hiện nay, sự cần thiết của tình gần gũi như vậy lại càng quan trọng hơn, vì rõ ràng virus không biết đến các ranh giới cũng như không thể dễ dàng bị cô lập. Vì vậy, vượt qua nó là nhiệm vụ của mỗi chúng ta, cũng như các quốc gia của chúng ta.

Tôi vô cùng tri ân những cố gắng mỗi ngày của quý vị trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các quốc gia hoặc tổ chức quốc tế mà quý vị đại diện và Tòa thánh. Chúng ta đã có thể trao cho nhau nhiều tín hiệu gần gũi của chúng ta trong suốt những tháng vừa qua, cũng nhờ vào việc triển khai những công nghệ mới cho phép chúng ta khắc phục các giới hạn do đại dịch gây ra.

Tất cả chúng ta chắc chắn mong được nối lại những liên lạc cá nhân trong thời gian sớm nhất có thể và sự họp mặt của chúng ta ở đây hôm nay mang ý nghĩa là một tín hiệu của hy vọng cho vấn đề này. Cá nhân tôi muốn khôi phục lại các chuyến Tông du của tôi, bắt đầu bằng chuyến thăm Iraq được lên lịch vào tháng Ba sắp tới. Những cuộc viếng thăm này là một dấu hiệu quan trọng cho thấy sự quan tâm của Người kế vị Thánh Phêrô đối với Dân Chúa lan rộng khắp thế giới và sự đối thoại của Tòa thánh với các chính phủ. Nó cũng thường tạo cơ hội để thúc đẩy mối tương quan tốt đẹp giữa các tôn giáo khác nhau, trên tinh thần chia sẻ và đối thoại. Trong thời đại của chúng ta, đối thoại liên tôn là một thành phần quan trọng của sự gặp gỡ giữa các dân tộc và các nền văn hóa. Khi nó được nhìn không trên phương diện làm tổn hại đến bản sắc riêng của chúng ta mà là một dịp để hiểu biết và làm phong phú lẫn nhau, đối thoại có thể trở thành một cơ hội cho các nhà lãnh đạo tôn giáo và tín đồ thuộc các nền tảng tuyên xưng khác nhau, và có thể hỗ trợ những nỗ lực có trách nhiệm của các nhà lãnh đạo chính trị nhằm thúc đẩy ích chung.

Một điều quan trọng không kém là những thỏa thuận quốc tế nhằm thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau và cho phép Giáo hội hợp tác hiệu quả hơn vì lợi ích tinh thần và xã hội của đất nước quý vị. Về vấn đề này, tôi muốn đề cập đến việc trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hiệp định Khung giữa Tòa thánh và nước Cộng hòa Dân chủ Congo, và Hiệp định về tình trạng pháp lý của Giáo hội Công giáo ở Burkina Faso, cũng như việc ký kết Thỏa thuận Bổ sung Thứ Bảy của Công ước ngày 23 tháng Sáu năm 1960 Quy định về những Di sản giữa Tòa thánh và nước Cộng hòa Áo. Ngoài ra, vào ngày 22 tháng Mười năm 2020, Tòa thánh và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đồng ý gia hạn thêm hai năm Thỏa thuận Tạm thời liên quan đến việc bổ nhiệm giám mục ở Trung Quốc, được ký kết tại Bắc Kinh năm 2018. Thỏa thuận này về cơ bản mang tính chất mục vụ, và Tòa thánh tin tưởng rằng tiến trình hiện đã bắt đầu có thể được theo đuổi trên tinh thần tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, và từ đó góp phần hơn nữa vào việc giải quyết các vấn đề thuộc lợi ích chung.

Thưa các vị đại sứ,

Một năm vừa kết thúc đã để lại trong nó nỗi sợ hãi, bất an và tuyệt vọng, cũng như nỗi đau buồn vì sự mất mát lớn về nhân mạng. Nó đã dẫn đến tinh thần cô lập và nghi ngờ lẫn nhau khiến các quốc gia phải dựng lên các rào cản. Thế giới được kết nối mà chúng ta đã quen nhường chỗ cho một thế giới bị phân mảnh và chia cắt. Tuy nhiên, những tác động của đại dịch toàn cầu, chạm đến đến tất cả các quốc gia và dân tộc trên thế giới, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của đời sống chúng ta, và góp phần làm trầm trọng thêm “những khủng hoảng có liên quan sâu sắc đến nhau như khí hậu, lương thực, kinh tế và di cư”.[1] Vì lý do này, tôi nghĩ việc thành lập Ủy ban Covid-19 của Vatican là phù hợp, vì lợi ích của việc điều phối phản ứng của Tòa thánh và của toàn thể Giáo hội trước những yêu cầu từ các giáo phận trên toàn thế giới để đối phó với cuộc khủng hoảng sức khỏe và những nhu cầu khẩn thiết mà đại dịch đã làm lộ rõ.

Ngay từ đầu, dường như rõ ràng đại dịch sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến cách sống mà chúng ta đã quen thuộc, cũng như những tiện ích và sự chắc chắn mà chúng ta cho là lẽ đương nhiên. Điều này đã dẫn đến một sự khủng hoảng, vì nó cho chúng ta thấy khuôn mặt của một thế giới đang bị trọng bệnh, không chỉ do virus mà còn trong môi trường tự nhiên, những quy trình kinh tế và chính trị của nó, và thậm chí còn trầm trọng hơn nữa trong các mối quan hệ của con người. Đại dịch đã làm lộ rõ những rủi ro và hậu quả vốn có trong lối sống bị thống trị bởi tính ích kỷ và văn hóa lãng phí, và nó đặt ra trước mắt chúng ta một sự lựa chọn: hoặc tiếp tục trên con đường chúng ta đã đi theo cho đến bây giờ, hoặc bắt đầu trên một con đường mới.

Tôi muốn đề cập ngắn gọn đến một số những khủng hoảng do đại dịch gây ra hoặc làm lộ ra, nhưng cũng để cân nhắc đến những cơ hội mà chúng mang lại cho việc xây dựng một thế giới nhân văn hơn, công bằng, nhân ái và hòa bình hơn.

Khủng hoảng sức khỏe

Đại dịch buộc chúng ta phải đối mặt với hai chiều kích không thể tránh khỏi của sự tồn tại của con người: bệnh tật và cái chết. Khi đối mặt như vậy, nó nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự sống, về sự sống của mỗi cá nhân con người và phẩm giá của nó, tại mọi thời điểm của cuộc lữ hành trên trần thế, từ khi thụ thai trong cung lòng người mẹ cho đến khi kết thúc tự nhiên. Tuy nhiên, thật đau đớn khi phải lưu ý rằng ngày càng nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới của chúng ta dường như đang rời xa nghĩa vụ bất khả xâm phạm của họ là bảo vệ sự sống con người ở mọi giai đoạn của nó, lấy lý do để bảo đảm các quyền chủ quan, 

Đại dịch cũng đã nhắc nhở chúng ta về quyền – quyền! – của mỗi con người phải được chăm sóc theo đúng phẩm giá, như tôi đã nhấn mạnh trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình được tổ chức vào ngày 1 tháng Một năm nay. Vì “mỗi con người là một mục tiêu trong chính họ, và không bao giờ chỉ đơn thuần là một phương tiện được định giá trị bởi sự hữu dụng của họ. Con người được tạo dựng để chung sống với nhau trong các gia đình, cộng đồng và xã hội, trong đó tất cả đều bình đẳng trong phẩm giá. Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá này, cũng như các bổn phận của con người, như trách nhiệm chào đón và hỗ trợ người nghèo, người bệnh tật, người bị loại trừ”.[2] Nếu chúng ta tước đi quyền được sống của những người yếu đuối nhất trong chúng ta, làm sao chúng ta có thể bảo đảm sự tôn trọng mọi quyền khác một cách hiệu quả?

Do đó, tôi xin tiếp tục lời kêu gọi rằng mọi người đều nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ mà họ yêu cầu. Để đạt được mục tiêu này, trước hết điều tuyệt đối cần thiết là các nhà lãnh đạo chính trị và chính phủ phải làm việc để bảo đảm sự tiếp cận phổ cập đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe căn bản, xây dựng các phòng y tế địa phương và cơ cấu chăm sóc sức khỏe đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân, cũng như sự sàng của các phương pháp điều trị và nguồn cung cấp thuốc. Không được để mối quan tâm về lợi nhuận chi phối một lĩnh vực nhạy cảm như chăm sóc sức khỏe.

Tương tự như vậy, điều cần thiết là tiến bộ về y khoa và khoa học nổi bật đã đạt được trong những năm qua – đã giúp khả năng nhanh chóng tạo ra vaccine hứa hẹn có hiệu quả chống lại Coronavirus – mang lại lợi ích cho toàn nhân loại. Tôi khuyến khích tất cả các chính phủ đóng góp tích cực vào những nỗ lực quốc tế đang được thực hiện để đảm bảo việc phân phối vắc xin một cách công bằng, không dựa trên các tiêu chí thuần túy kinh tế mà dựa trên nhu cầu của tất cả mọi người, đặc biệt là những người thiếu thốn nhất.

Mặc dù vậy, trước một kẻ thù xảo quyệt và khó lường như Covid-19, việc tiếp cận với vaccine phải được đi kèm với hành vi trách nhiệm cá nhân nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus, áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết mà chúng ta đã quen trong những tháng qua. Sẽ vô cùng tai hại nếu chúng ta đặt niềm tin duy nhất vào vaccine, xem nó là liều thuốc chữa bách bệnh khiến mỗi cá nhân không phải thường xuyên lo lắng cho sức khỏe của chính mình và sức khỏe của người khác. Đại dịch đã một lần nữa cho chúng ta thấy rằng, theo cách diễn tả của nhà thơ nổi tiếng người Anh, John Donne, “không ai là một ốc đảo”, và rằng “cái chết của bất kỳ một người nào đều ảnh hưởng đến tôi, vì tôi là một phần của nhân loại”.[3]

Khủng hoảng môi trường

Cũng không phải chỉ có con người mới bị bệnh. Đại dịch đã một lần nữa chứng minh rằng bản thân trái đất rất mong manh và cần được chăm sóc.

Chắc chắn, có những khác biệt sâu sắc giữa cuộc khủng hoảng sức khỏe do đại dịch gây ra và cuộc khủng hoảng môi trường sinh thái do việc khai thác bừa bãi những tài nguyên thiên nhiên. Khủng hoảng môi trường sinh thái phức tạp và lâu dài hơn nhiều, đồng thời đòi hỏi các giải pháp chung lâu dài. Chẳng hạn, tác động của biến đổi khí hậu, một cách trực tiếp, những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như lũ lụt và hạn hán, hoặc gián tiếp như suy dinh dưỡng hoặc bệnh về đường hô hấp, đều kéo theo những hậu quả tồn tại trong một thời gian dài.

Để vượt qua những khủng hoảng này đòi hỏi sự hợp tác quốc tế trong việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Do đó, tôi hy vọng rằng Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (COP26) diễn ra tại Glasgow vào tháng Mười Một tới, sẽ dẫn đến một thỏa thuận hiệu quả trong việc giải quyết những hậu quả của biến đổi khí hậu. Bây giờ là lúc để hành động, vì chúng ta đã cảm nhận được những hậu quả của việc thiếu hành động trong thời gian kéo dài.

Ví dụ, tôi nghĩ đến những tác động của biến đổi khí hậu trên nhiều hòn đảo nhỏ ở Thái Bình Dương đang có nguy cơ biến mất dần dần. Thảm kịch này không chỉ gây ra sự tàn phá toàn bộ những ngôi làng, mà còn buộc các cộng đồng địa phương, đặc biệt là các gia đình, luôn phải di tản, mất đi bản sắc và văn hóa của họ. Tôi cũng nghĩ đến những trận lũ lụt ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam và Philippines, đã gây ra cái chết của nhiều người và khiến toàn bộ các gia đình không còn phương tiện sinh sống. Tôi cũng không thể không nhắc đến sự ấm lên ngày càng tăng của trái đất, đã gây ra những đám cháy kinh hoàng ở Úc và California.

Ở châu Phi cũng vậy, sự biến đổi khí hậu, trở nên trầm trọng hơn do những can thiệp thiếu thận trọng của con người – và hiện nay là do đại dịch – là một nguyên nhân gây lo ngại thật sự. Tôi đặc biệt nghĩ đến tình trạng mất an ninh lương thực, trong năm vừa qua đã đặc biệt ảnh hưởng đến Burkina Faso, Mali và Niger, với hàng triệu người chịu cảnh đói kém. Ở Nam Sudan cũng có nguy cơ xảy ra nạn đói và là một tình trạng khẩn cấp thật sự nghiêm trọng và kéo dài về nhân đạo: hơn một triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng, trong khi các hành lang nhân đạo thường bị phong tỏa và sự hiện diện của các cơ quan nhân đạo trên lãnh thổ bị hạn chế. Đặc biệt để đối phó với tình hình này, các nhà chức trách Nam Sudan cần khẩn trương khắc phục những hiểu lầm và theo đuổi đối thoại chính trị vì mục tiêu hòa giải dân tộc trọn vẹn.

Khủng hoảng kinh tế và xã hội

Sự cần thiết phải ngăn chặn coronavirus đã khiến nhiều chính phủ áp dụng những hạn chế đối với quyền tự do đi lại. Trong nhiều tháng, điều này đã dẫn đến việc đóng cửa các doanh nghiệp và giảm sút sản xuất nói chung, gây ra những tác động nặng nề đối với các công ty, đặc biệt là các công ty vừa và nhỏ, về việc làm và hậu quả đối với đời sống của các gia đình và toàn bộ các thành phần của xã hội, đặc biệt là những người mong manh nhất.

Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm lộ rõ một căn bệnh khác của thời đại chúng ta: đó là một nền kinh tế dựa trên việc khai thác và lãng phí về con người và tài nguyên thiên nhiên. Thường thường, chúng ta bỏ qua tính liên đới và những giá trị khác giúp nền kinh tế có thể phục vụ sự phát triển toàn diện của con người, mà chỉ nhắm đến lợi ích riêng. Chúng ta cũng đã đánh mất ý nghĩa xã hội của hoạt động kinh tế và mục tiêu chung của sản phẩm và tài nguyên.

Do đó, cuộc khủng hoảng hiện tại cung cấp một cơ hội hữu ích để cân nhắc lại mối tương quan giữa các cá nhân và nền kinh tế. Cần có một “cuộc cách mạng tân Copernic” có khả năng đưa nền kinh tế đi vào phục vụ con người, chứ không phải theo hướng ngược lại. Nói một cách dễ hiểu, “một cách thức khác của kinh tế: một nền kinh tế mang lại sự sống chứ không phải cái chết, một nền kinh tế bao gồm và không độc quyền, nhân đạo chứ không phải phi nhân, một nền kinh tế quan tâm đến môi trường và không hủy hoại nó”.[4]

Để đối phó với những hậu quả tiêu cực của cuộc khủng hoảng này, nhiều chính phủ đã chuẩn bị những sáng kiến khác nhau và phân bổ nguồn vốn đáng kể. Tuy nhiên, thường thường, các nỗ lực đã được thực hiện để tìm kiếm những giải pháp cục bộ cho một vấn đề trên thực tế mang tính toàn cầu. Hơn bao giờ hết, ngày nay chúng ta không còn có thể nghĩ đến việc hành động một mình. Các sáng kiến chung và được chia sẻ cũng cần thiết ở cấp độ quốc tế, đặc biệt để hỗ trợ việc làm và bảo vệ các thành phần người dân nghèo nhất. Về vấn đề này tôi cho rằng cam kết của Liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên là rất quan trọng. Bất chấp những khó khăn, họ đã chứng minh rằng có thể làm việc miệt mài để đạt được những thỏa hiệp thích đáng vì lợi ích của mọi công dân. Việc phân bổ quỹ do Chương trình khôi phục Thế hệ mới của EU đề xuất có thể là một ví dụ rất ý nghĩa về cách thức hợp tác và chia sẻ các nguồn lực trên tinh thần liên đới không chỉ là ước muốn mà là mục tiêu có thể đạt được.

Ở nhiều nơi trên thế giới, cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng trực tiếp đến những người làm việc tự do, họ là những người đầu tiên thấy sinh kế của họ biến mất. Sống ngoài lề nền kinh tế chính quy, họ không được tiếp cận với mạng lưới an sinh xã hội, bao gồm bảo hiểm thất nghiệp và dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Bị thúc đẩy bởi sự tuyệt vọng, nhiều người đã tìm kiếm các hình thức thu nhập khác và có nguy cơ bị bóc lột thông qua lao động bất hợp pháp hoặc cưỡng bức, mại dâm và các hoạt động tội phạm khác nhau, kể cả nạn buôn bán người.

Mặt khác, mọi người đều có quyền được hưởng “những phương tiện cần thiết cho sự phát triển phù hợp của cuộc sống”, và phải được cung cấp những phương tiện để làm việc đó.[5] Thật vậy, sự ổn định kinh tế phải được đảm bảo cho tất cả mọi người, để tránh tai họa của nạn bóc lột và chống lại nạn cho vay nặng lãi và tham nhũng ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với nhiều bất công khác xảy ra hàng ngày trong cái nhìn mệt mỏi và lơ đãng của xã hội đương đại chúng ta.

Thời gian ở nhà tăng lên cũng dẫn đến sự cô lập nhiều hơn khi mọi người trải qua nhiều thời gian hơn trước máy tính và các phương tiện truyền thông khác, gây hậu quả nghiêm trọng cho những người dễ bị tổn thương hơn, đặc biệt là người nghèo và người thất nghiệp. Họ trở thành con mồi dễ dàng hơn cho tội phạm trên mạng trong các khía cạnh bất nhân nhất, bao gồm lừa đảo, buôn người, bóc lột mại dâm, kể cả mại dâm trẻ em, và khiêu dâm trẻ em.

Việc đóng cửa các biên giới do đại dịch, cùng với sự khủng hoảng kinh tế, cũng đã làm trầm trọng thêm một số tình trạng khẩn cấp về nhân đạo, trong những khu vực xung đột và các khu vực bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và hạn hán, cũng như trong các trại tị nạn và di cư. Tôi đặc biệt nghĩ đến Sudan, nơi hàng nghìn người chạy khỏi vùng Tigray để tìm nơi ẩn náu, cũng như các quốc gia khác ở châu Phi Hạ Sahara, hoặc trong vùng Cabo Delgado ở Mozambique, nơi nhiều người đã buộc phải rời bỏ đất đai của họ và bây giờ thấy mình rơi vào những hoàn cảnh vô cùng bấp bênh. Suy nghĩ của tôi cũng hướng đến Yemen và đất nước Syria thân yêu, ngoài những trường hợp khẩn cấp nghiêm trọng khác, đây là những nơi một bộ phận lớn dân số phải trải qua tình trạng mất an ninh lương thực và trẻ em đang bị suy dinh dưỡng.

Trong nhiều trường hợp khác, những cuộc khủng hoảng nhân đạo bị làm trầm trọng hơn do các lệnh trừng phạt về kinh tế, thường xuyên ảnh hưởng chủ yếu đến các bộ phận người dân dễ bị tổn thương hơn là giới lãnh đạo chính trị. Dù hiểu rõ những lý do của việc áp đặt các biện pháp trừng phạt, Tòa thánh không xem chúng là có hiệu quả, và hy vọng rằng chúng sẽ được nới lỏng, ít nhất là để cải thiện dòng viện trợ nhân đạo, đặc biệt là thuốc trị bệnh và thiết bị chăm sóc sức khỏe, là vô cùng cần thiết trong thời gian đại dịch này.

Vì vậy, ước mong rằng tình hình hiện tại trở thành chất xúc tác cho việc xóa bỏ, hoặc ít nhất là giảm bớt, khoản nợ đang là gánh nặng đối với các nước nghèo hơn và ngăn cản rất lớn đối với sự phục hồi và phát triển toàn diện của họ.

Năm ngoái cũng chứng kiến sự gia tăng số người di cư nhiều hơn, do việc đóng cửa các biên giới, họ đã phải sử dụng các tuyến đường đi nguy hiểm hơn bao giờ hết. Dòng di cư ồ ạt này cũng vấp phải ngày càng nhiều sự từ chối nhập cảnh bất hợp pháp, thường được áp dụng để ngăn cản người di cư xin tị nạn, vi phạm nguyên tắc không từ chối. Nhiều người đã không chết khi vượt biển và các biên giới tự nhiên khác đã bị chặn lại và đưa trở lại các trại giam giữ, nơi họ phải chịu đựng sự tra tấn và những vi phạm nhân quyền.

Những hành lang nhân đạo được thực hiện trong thời gian các năm vừa qua chắc chắn đã giúp giải quyết một số vấn đề đó và đã cứu sống nhiều người. Tuy nhiên, phạm vi của cuộc khủng hoảng khiến việc giải quyết tận gốc những nguyên nhân khiến các cá nhân phải di cư càng trở nên cấp thiết hơn. Nó cũng đòi hỏi một nỗ lực chung để hỗ trợ các quốc gia tiếp nhận đầu tiên đảm nhận trách nhiệm đạo đức để cứu sống con người. Về vấn đề này, chúng ta đang mong chờ đàm phán Hiệp Ước mới của Liên minh châu Âu về di cư và tị nạn, đồng thời lưu ý rằng các chính sách và cơ chế cụ thể sẽ không hoạt động nếu chúng không được hỗ trợ bởi ý chí và cam kết chính trị cần thiết của tất cả các bên liên quan, bao gồm cả xã hội dân sự và chính những người di cư.

Tòa Thánh đánh giá cao mọi nỗ lực đã được thực hiện để hỗ trợ người di cư và ủng hộ cam kết của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), hiện đang tổ chức kỷ niệm 70 năm thành lập, tôn trọng trọn vẹn các giá trị được thể hiện trong Hiến pháp và văn hóa của các chính phủ thành viên, mà Tổ chức hoạt động trong đó. Tương tự như vậy, Tòa Thánh, với tư cách là Thành viên của Ban chấp hành Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), vẫn trung thành với các nguyên tắc được quy định trong Công ước Geneva năm 1951 về quy chế của người tị nạn và trong Nghị định thư năm 1967, cả hai đều đưa ra định nghĩa pháp lý về người tị nạn, quyền của họ và nghĩa vụ pháp lý của các chính phủ trong việc bảo vệ họ.

Kể từ hậu quả của Đệ Nhị Thế Chiến, thế giới của chúng ta chưa từng có kinh nghiệm về sự gia tăng rất lớn số người tị nạn. Do đó, có nhu cầu cấp thiết về cam kết mới để bảo vệ họ, cùng với những người di tản trong nước và nhiều người dễ bị tổn thương buộc phải trốn chạy khỏi sự ngược đãi, bạo lực, xung đột và chiến tranh. Về vấn đề này, mặc dù có những nỗ lực quan trọng của Liên hợp quốc trong việc tìm kiếm các giải pháp và đề xuất cụ thể nhằm giải quyết một cách nhất quán vấn đề di tản cưỡng bức, Tòa Thánh bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình trạng của những người di tản ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Tôi đặc biệt nghĩ đến khu vực trung tâm của Sahel, nơi trong vòng chưa đầy hai năm, số lượng người di tản trong nước đã tăng gấp hai mươi lần.

Khủng hoảng chính trị

Những vấn đề quan trọng mà tôi vừa đề cập làm nổi bật một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn nhiều, theo một cách nào đó nó nằm ở gốc rễ của những vấn đề khác, và sức mạnh đầy kịch tính của nó đã được làm nổi bật chính bởi đại dịch. Tôi đề cập đến cuộc khủng hoảng chính trị đã và đang ảnh hưởng đến nhiều xã hội trong một thời gian và những hậu quả đau đớn của nó xuất hiện trong đại dịch.

Một trong những đặc điểm nổi bật của cuộc khủng hoảng này là sự gia tăng những xung đột chính trị và khó khăn, nếu không thực sự nói là sự bất lực, tìm kiếm các giải pháp chung và được chia sẻ đối với các vấn đề đang ảnh hưởng đến thế giới của chúng ta. Đây là một xu hướng đang lớn lên, một xu hướng ngày càng lan rộng hơn ở các nước có truyền thống dân chủ lâu đời. Tạo sức sống cho các nền dân chủ là một thách thức trong thời điểm lịch sử hiện nay [6], một thách thức ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các quốc gia, dù nhỏ hay lớn, kinh tế phát triển hay đang trong quá trình phát triển. Trong những ngày này, suy nghĩ của tôi đặc biệt hướng đến người dân Myanmar, những người mà tôi bày tỏ tình cảm và sự gần gũi của tôi. Con đường dẫn đến nền dân chủ được thực hiện trong những năm gần đây đã bị phá vỡ một cách thô bạo bởi cuộc đảo chính tuần trước. Điều này đã dẫn đến việc bỏ tù các nhà lãnh đạo chính trị khác nhau, những người mà tôi hy vọng sẽ được trả tự do ngay lập tức như một dấu hiệu động viên cho cuộc đối thoại chân thành nhằm mục đích tốt đẹp của đất nước.

Về vấn đề đó, như Đức Giáo hoàng Piô XII đã tuyên bố trong Thông điệp Truyền thanh đáng nhớ của ngài vào Lễ Giáng sinh năm 1944: “Được bày tỏ quan điểm riêng của họ về những nghĩa vụ và những hy sinh áp đặt trên họ, và không bị buộc phải tuân thủ mà không được lắng nghe – đây là hai quyền của người công dân tìm thấy trong nền dân chủ, như tên gọi của nó, cách diễn đạt của chúng”.[7] Nền dân chủ đặt nền tảng trên sự tôn trọng lẫn nhau, trên khả năng mỗi người có thể đóng góp vào lợi ích của xã hội, và trên việc suy xét rằng các ý kiến khác biệt không đe dọa quyền lực và an ninh của nhà nước, nhưng qua sự tranh luận chân thành làm phong phú lẫn nhau và giúp họ tìm ra những giải pháp phù hợp hơn cho các vấn đề cấp bách. Tiến trình dân chủ kêu gọi việc theo đuổi con đường đối thoại bao gồm, hòa bình, xây dựng và tôn trọng giữa tất cả các thành phần xã hội dân sự ở mọi thành phố và quốc gia. Như tôi đã đề cập, ở các nước có truyền thống dân chủ lâu đời, những biến cố theo nhiều cách và bối cảnh khác nhau, từ Đông sang Tây, đã đánh dấu trong năm qua, đã cho thấy rõ thách thức này không thể tránh khỏi, và chúng ta không thể lảng tránh trách nhiệm đạo đức và xã hội để giải quyết nó một cách tích cực. Sự phát triển của một ý thức dân chủ đòi hỏi rằng sự chú trọng vào cá tính cá nhân phải bị đánh bại, và sự tôn trọng pháp quyền được ưu tiên. Thật vậy, luật pháp là điều kiện tiên quyết không thể thiếu để thực thi mọi quyền lực và phải được bảo đảm bởi các cơ quan quản lý có trách nhiệm, bất kể lợi ích chính trị chi phối.

Thật đáng buồn, cuộc khủng hoảng về chính trị và các giá trị dân chủ cũng được phản ánh ở cấp độ quốc tế, với những ảnh hưởng trên toàn bộ hệ thống đa phương và hậu quả rõ ràng mà các Tổ chức được thành lập để thúc đẩy hòa bình và phát triển – trên cơ sở luật pháp chứ không phải trên “luật của kẻ mạnh nhất” – nhìn thấy tính hiệu quả của họ bị tổn hại. Chắc chắn, chúng ta không thể bỏ qua rằng hệ thống đa phương trong những năm gần đây cũng bộc lộ một số hạn chế. Đại dịch là một cơ hội quý giá để đề ra và thực hiện các cải cách về cơ cấu để các Tổ chức Quốc tế có thể tái khám phá ơn gọi đặc biệt của họ là phục vụ gia đình nhân loại bằng việc bảo vệ cuộc sống của các cá nhân và hòa bình.

Một trong những dấu hiệu của sự khủng hoảng chính trị chính là việc thường xuyên vấp phải tính miễn cưỡng khi thực hiện các con đường cải cách. Chúng ta không được sợ hãi trước những cải cách, ngay cả khi chúng đòi hỏi sự hy sinh và thường là sự thay đổi trong cách suy nghĩ của chúng ta. Mọi cơ chế sống động đều cần được cải cách liên tục, và những cải cách đang diễn ra tại Tòa thánh và Giáo triều Roma cũng phù hợp với quan điểm này.

Dù sao đi nữa, có một số tín hiệu đáng khích lệ, chẳng hạn như Hiệp ước Cấm vũ khí Nguyên tử có hiệu lực vài ngày trước, và việc gia hạn thêm thời hạn 5 năm của Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới ( “KHỞI ĐẦU Mới”) giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ. Như tôi đã lưu ý trong Thông điệp Fratelli Tutti gần đây của tôi, “nếu chúng ta xem xét các đe dọa chủ yếu đối với hòa bình và an ninh, với nhiều chiều kích của chúng trong thế giới đa cực này của thế kỷ 21, … thì sẽ nổi lên không ít nghi ngờ rằng thật không thích đáng nếu coi nỗi sợ vũ khí hạt nhân như là giải pháp hữu hiệu cho những thách đố ấy”.[8] Trên thực tế, “một sự ổn định dựa trên nỗi sợ hãi, khi thực ra nó làm gia tăng nỗi sợ và làm xói mòn các mối tương quan tin tưởng giữa các dân tộc”[9]  là không bền vững.

Các nỗ lực trong lĩnh vực giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí nguyên tử phải được tăng cường, bất kể có khó khăn và miễn cưỡng, cũng cần phải được thực hiện đối với vũ khí hóa học và quy ước. Thế giới của chúng ta có quá nhiều vũ khí! Như Thánh Gioan XXIII nhận xét vào năm 1963, “công lý, lý trí đúng đắn, và sự chân nhận nhân phẩm kiên quyết kêu gọi ngừng chạy đua vũ trang. Những kho dự trữ vũ khí đã được xây dựng ở nhiều nước khác nhau phải được giảm bớt toàn bộ và đồng loạt bởi tất cả các bên liên quan”.[10] Khi bạo lực gia tăng ở mọi cấp độ cùng với sự phổ biến của vũ khí, và chúng ta thấy xung quanh mình là một thế giới bị giằng xé bởi chiến tranh và chia rẽ, chúng ta cảm thấy sự cần thiết của hòa bình lớn hơn bao giờ hết, một nền hòa bình “không chỉ là sự vắng bóng chiến tranh, mà hơn thế còn là đời sống giàu ý nghĩa, bắt nguồn và được sống qua việc hoàn thiện cá nhân và chia sẻ huynh đệ với người khác”.[11]

Tôi ước rằng năm 2021 có thể là năm mà cuộc xung đột ở Syria, đã bắt đầu từ 10 năm trước, cuối cùng có thể chấm dứt! Để điều này xảy ra, cần phải có sự quan tâm mới từ phía cộng đồng quốc tế để giải quyết các nguyên nhân của xung đột với lòng trung thực và sự can đảm, và để tìm kiếm các giải pháp mà theo đó tất cả mọi người, bất kể thành phần sắc tộc và tôn giáo đều có thể đóng góp cho tương lai của đất nước với tư cách là người công dân.

Mong muốn hòa bình của tôi chắc chắn hướng tới Đất Thánh. Sự tin tưởng lẫn nhau giữa người Israel và người Palestine phải là cơ sở cho cuộc đối thoại trực tiếp mới giữa các bên nhằm giải quyết cuộc xung đột đã kéo dài quá lâu. Tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế ủng hộ và tạo điều kiện cho cuộc đối thoại trực tiếp như vậy, mà không có ý định đưa ra các giải pháp không nhằm mục đích tốt đẹp cho tất cả. Người Palestine và người Israel – tôi chắc chắn về điều này – để chia sẻ mong muốn được sống trong hòa bình.

Tôi cũng bày tỏ hy vọng về cam kết chính trị mới, cả trong nước và quốc tế, nhằm thúc đẩy sự ổn định của Li Băng, một quốc gia đang trải qua sự khủng hoảng nội bộ và có nguy cơ mất đi bản sắc và thấy mình ngày càng bị cuốn vào những căng thẳng khu vực. Điều cần thiết nhất là đất nước phải duy trì bản sắc độc đáo của mình, đặc biệt là để đảm bảo một Trung Đông đa nguyên, khoan dung và đa dạng, trong đó cộng đồng Kitô giáo có thể đóng góp thích đáng và không bị biến thành một nhóm thiểu số cần được bảo vệ. Người Kitô hữu, với nhiều hoạt động giáo dục, y tế và bác ái, là một phần thực chất của kết cấu lịch sử và xã hội của Li Băng, và họ phải được đảm bảo cơ hội tiếp tục những nỗ lực vì lợi ích của đất nước mà họ là những người sáng lập. Tình trạng giảm sút sự hiện diện của người Kitô giáo có nguy cơ phá hủy sự cân bằng bên trong và thực tại của Li Băng. Về vấn đề này, sự hiện diện của những người tị nạn Syria và Palestine cũng phải được giải quyết. Hơn nữa, nếu không có một tiến trình phục hồi và tái thiết kinh tế khẩn cấp cần thiết, đất nước có nguy cơ bị phá sản, với hậu quả có thể là tình trạng bị lôi cuốn đầy nguy hiểm vào chủ nghĩa cơ bản. Do đó, tất cả các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo cần phải gạt bỏ lợi ích cá nhân của họ và cam kết theo đuổi công lý và thực hiện những cải cách thực sự vì lợi ích của đồng bào của họ, hành động một cách minh bạch và chịu trách nhiệm về hành động của họ.

Tôi cũng bày tỏ hy vọng về nền hòa bình ở Libya, là đất nước cũng đã bị tàn phá bởi cuộc xung đột kéo dài, và tôi tin tưởng rằng “Diễn đàn Đối thoại Chính trị Libya” gần đây, được tổ chức tại Tunisia vào tháng Mười Một năm ngoái dưới sự bảo trợ của Liên Hợp quốc, sẽ thực sự cho phép bắt đầu tiến trình hòa giải được chờ đợi từ lâu của đất nước.

Các khu vực khác trên thế giới cũng đáng quan tâm. Trước hết, tôi đề cập đến những căng thẳng chính trị và xã hội ở Cộng hòa Trung Phi và những căng thẳng ảnh hưởng đến Châu Mỹ Latinh nói chung, vốn bắt nguồn từ những bất bình đẳng sâu xa, những bất công và nghèo đói xúc phạm đến phẩm giá con người. Tôi cũng đặc biệt chú ý theo dõi tình hình xấu đi của các mối quan hệ trên Bán đảo Triều Tiên, mà đỉnh điểm là việc phá hủy văn phòng liên lạc liên-Triều ở Kaesong, và tình hình ở Nam Caucasus, nơi một số cuộc xung đột tiếp tục âm ỷ, trong đó một vài cuộc xung đột đã bùng lên trong năm qua, phá hoại sự ổn định và an ninh của toàn khu vực.

Cuối cùng, tôi không thể không nhắc đến một tai họa nghiêm trọng khác của thời đại chúng ta: chủ nghĩa khủng bố, hàng năm giết chết rất nhiều nạn nhân trong số những thường dân không có khả năng tự vệ trên khắp thế giới. Chủ nghĩa khủng bố là một tội ác đã phát triển từ những năm 70 của thế kỷ trước, mà đỉnh điểm là vụ tấn công xảy ra tại Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng Chín năm 2001 khiến gần ba nghìn người thiệt mạng. Đáng buồn thay, số lượng các cuộc tấn công khủng bố đã gia tăng trong hai mươi năm qua, ảnh hưởng đến các quốc gia khác nhau trên mọi châu lục. Trên hết, tôi nghĩ đến các vụ tấn công khủng bố ở Châu Phi cận Sahara, nhưng cả ở Châu Á và Châu Âu. Suy nghĩ của tôi hướng về tất cả các nạn nhân và gia đình của họ, những người đã mất người thân yêu của họ trước bạo lực mù quáng được thúc đẩy bởi tư tưởng xuyên tạc tôn giáo. Vì vậy, mục tiêu của các cuộc tấn công này thường là những nơi thờ phượng, nơi các tín đồ tập trung cầu nguyện. Về vấn đề này, tôi muốn nhấn mạnh rằng việc bảo vệ những nơi thờ phượng là hệ quả trực tiếp của việc bảo vệ sự tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo, và là nghĩa vụ của các nhà chức trách dân sự, bất kể đảng phái chính trị hoặc tôn giáo của họ.

Thưa quý ngài, thưa quý ông và quý bà,

Khi đến phần cuối của những cân nhắc này, tôi muốn tập trung vào một khủng hoảng cuối cùng, có lẽ là nghiêm trọng nhất trong tất cả: cuộc khủng hoảng về các mối tương quan giữa người với người, như một biểu hiện của một sự khủng hoảng nhân học nói chung, đối phó với quan niệm thật sự về nhân vị và phẩm giá siêu việt của người đó.

Đại dịch buộc chúng ta phải chịu đựng những tháng dài cách ly và thường là sự cô đơn, đã làm lộ ra nhu cầu về các mối tương quan giữa người với người của mọi cá nhân. Trước hết tôi nghĩ đến tất cả những sinh viên không thể đến trường hoặc đại học như thường lệ. “Những nỗ lực đã được thực hiện ở khắp mọi nơi để đưa ra phản ứng nhanh chóng thông qua các nền tảng giáo dục trực tuyến. Những điều này đã làm sáng tỏ sự chênh lệch rõ rệt về các cơ hội giáo dục và công nghệ, nhưng chúng cũng làm cho chúng ta nhận ra rằng, do tình trạng phong tỏa và nhiều nhu cầu hiện có khác, một số lượng lớn trẻ em và thanh thiếu niên đã bị tụt hậu trong tiến trình giáo dục tự nhiên”.[12] Ngoài ra, sự gia tăng của việc học từ xa cũng dẫn đến sự phụ thuộc nhiều hơn của trẻ em và thanh thiếu niên vào Internet và các hình thức giao tiếp ảo nói chung, khiến chúng trở nên dễ bị tổn thương hơn và bị phơi bày quá lâu trước các hoạt động tội phạm trên mạng.

Chúng ta đang chứng kiến một hình thức “tai họa giáo dục” – cho phép tôi nhắc lại điều này: một loại tai họa giáo dục – mà chúng ta phải phản ứng vì lợi ích của các thế hệ tiếp nối và cho toàn xã hội. “Ngày nay, cần có một cam kết mới về một nền giáo dục có sự tham gia của xã hội ở mọi cấp độ”.[13] Thực tế, giáo dục là “liều thuốc giải độc tự nhiên cho văn hóa cá nhân chủ nghĩa, đôi khi biến chất thành sự sùng bái bản ngã thật sự và sự lên ngôi của tính thờ ơ. Tương lai của chúng ta không thể là một tương lai của sự chia rẽ, nghèo nàn về tư tưởng, trí tưởng tượng, sự quan tâm, đối thoại và hiểu biết lẫn nhau”.[14]

Đồng thời, thời gian phong tỏa dài cũng làm cho các gia đình có thể dành nhiều thời gian hơn cho nhau. Đối với nhiều người, đó là một cơ hội quan trọng để làm mới lại các mối quan hệ sâu sắc nhất của họ. Hôn nhân và gia đình “là một trong những giá trị quý giá nhất của con người”[15] và là nền tảng của mọi xã hội dân sự. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II vĩ đại, người mà chúng tôi đã kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ngài vào năm ngoái, đã lưu ý trong những lời dạy sâu sắc của ngài về gia đình rằng, “ngày nay, với chiều kích toàn cầu của các vấn đề xã hội khác nhau, gia đình đã nhìn  thấy vai trò của mình trong sự phát triển của xã hội mở rộng theo một cách thức hoàn toàn mới… bằng cách giới thiệu cho con cái của họ một mô hình sống dựa trên các giá trị của chân lý, tự do, công lý và tình yêu”.[16] Mặc dù vậy, không phải ai cũng có thể sống yên bình trong chính ngôi nhà của mình và một số hình thức sống thử đã biến chất và dẫn đến bạo lực gia đình. Tôi khuyến khích tất cả mọi người, các nhà chức trách dân sự và công quyền, hãy hỗ trợ các nạn nhân của bạo lực gia đình: thật đáng tiếc, như chúng ta đều biết, phụ nữ, thường cùng với trẻ em, là những người phải trả giá đắt nhất.

Việc cần thiết phải ngăn chặn sự lây lan của virus cũng có liên quan đến một số quyền tự do căn bản, bao gồm tự do tôn giáo, hạn chế việc thờ phượng nơi công cộng và các hoạt động giáo dục và bác ái của các cộng đồng tín ngưỡng. Tuy nhiên, cần phải chân nhận rằng tôn giáo là một khía cạnh căn bản của con người và của xã hội, và không thể bị loại bỏ. Ngay cả khi chúng ta tìm cách bảo vệ sự sống con người khỏi sự lây lan của virus, chúng ta không thể xem chiều kích tinh thần và đạo đức của con người lại kém quan trọng hơn sức khỏe thể xác.

Hơn nữa, tự do thờ phượng không phải là hệ quả của tự do hội họp. Thực chất nó xuất phát từ quyền tự do tôn giáo, đó là quyền căn bản và đầu tiên của con người. Do đó, quyền này phải được các giới chức trách dân sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ, giống như quyền được chăm sóc sức khỏe thân thể và thể chất. Đối với vấn đề đó, việc chăm sóc thân thể tráng kiện không bao giờ có thể bỏ qua việc chăm sóc linh hồn.

Trong Thư gửi ngài Cangrande della Scala, nhà thơ Dante Alighieri nói rằng mục đích của tập thơ Comedy của ông là “loại bỏ tâm trạng khốn khổ khỏi những người sống trong cuộc đời này và đưa họ đến trạng thái hạnh phúc”.[17] Đây cũng là công việc của các giới chức tôn giáo và dân sự, trong các phạm vi và trách nhiệm khác nhau của họ. Không thể vượt qua những khủng hoảng trong các mối tương quan của con người, và từ đó đến những khủng hoảng khác mà tôi đã đề cập, nếu chúng ta không bảo vệ phẩm giá siêu việt của mỗi nhân vị, được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa.

Khi đề cập đến nhà thi sĩ vĩ đại của Florentine, kỷ niệm bảy trăm năm ngày mất của ông trong năm nay, tôi cũng muốn nói lên một suy nghĩ đặc biệt đối với người dân nước Ý, những người đầu tiên ở Châu Âu đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng của đại dịch. Tôi kêu gọi họ không ngã lòng giữa những khó khăn hiện tại, nhưng hãy hợp tác xây dựng một xã hội trong đó không ai bị bỏ rơi hay bị lãng quên.

Thưa quý ngài đại sứ,

Năm 2021 là khoảng thời gian không được lãng phí. Và nó sẽ không bị lãng phí nếu chúng ta có thể cùng nhau làm việc với lòng quảng đại và sự cam kết. Về vấn đề này, tôi tin chắc rằng tình huynh đệ là phương thuốc thực sự cho đại dịch và nhiều sự dữ khác đã ảnh hưởng đến chúng ta. Cùng với vaccine, tình huynh đệ và niềm hy vọng là phương thuốc chúng ta cần có cho thế giới hôm nay.

Tôi khẩn xin nhiều ơn lành nước trời đổ xuống trên từng người trong quý vị và đất nước của quý vị, và cùng với những lời nguyện chúc tốt lành của tôi rằng năm nay có thể là một cơ hội tốt để đào sâu thêm mối những mối dây ràng buộc của tình huynh đệ liên kết toàn gia đình nhân loại.

Cảm ơn quý vị!


[1] Message for the 2021 World Day of Peace, 8 December 2020, 1.

[2] Ibid. 6.

[3] Devotions upon Emergent Occasions (1623), Meditation XVII.

[4] Letter for the “Economy of Francesco” Initiative (1 May 2019).

[5] SAINT JOHN XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963), ed. Carlen, 11.

[6] Cf. Address to the European Parliament, Strasburg (25 November 2014).

[7] Radio Message to the People of the Entire World, 24 December 1944.

[8] Message to the United Nations Conference to Negotiate a Legally Binding Instrument to Prohibit Nuclear Weapons (23 March 2017): AAS 109 (2017), 394-396; Encyclical Letter Fratelli Tutti, 262.

[9] Ibid.

[10] Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963), ed. Carlen, 112.

[11] Angelus, 1 January 2021.

[12] Video Message for the Meeting “Global Compact on Education. Together to Look Beyond” (15 October 2020).

[13] Ibid.

[14] Ibid.

[15] SAINT JOHN PAUL II, Apostolic Exhortation Familiaris Consortio (22 December 1981), 1.

[16] Ibid, 48.

[17] Epistola XIII, 39.

[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 13/2/2021]

Comments are closed.