Tu luật thánh Augustinô – Phần I: Giới thiệu tổng quát

0

CHỮ VIẾT TẮT

Conf.                    Confessiones (Tự Thuật)

Ep.                        Epistula (Thư)

GS                        Gaudium et Spes. Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay

In Io.                     Tractatus in Iohannis epistolam

In Ps.                    Enarrationes in Psalmos

PC                         Perfectae Caritatis. Sắc lệnh về canh tân và thích nghi Dòng tu

Serm.                   Sermo (Bài giảng)

Ký hiệu các sách Kinh thánh dựa theo bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ

 Phần I

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

   Trong phần giới thiệu chúng ta sẽ xoay chung quanh một số vấn đền liên quan đến lịch sử của Tu luật : bản văn, tác giả, người nhận, thời gian ra đời, những ảnh hưởng của Tu luật trong dòng lịch sử đời tu. Chúng ta cũng sẽ nói sơ lược về sự hội nhập và thích nghi cần thiết và giá trị của Tu luật trong đời sống tu trì hôm nay.

I. Đâu là bản văn chính thức của Tu luật thánh Augustinô[1] ?

Luật của thánh Augustinô được kể vào hạng cổ điển nhất trong lịch sử đời tu, sau bản luật thánh Pacômiô (k. 292-346/7), thánh Basiliô (k. 330-379); và trước luật thánh Biển Đức (k.480-k. 547) cả một thế kỷ. Mặt khác, lịch sử đã để lại nhiều bản văn mang tên là “luật thánh Augustinô”. Lucas Verheijen, – một chuyên gia nghiên cứu Tu luật-, đếm được tới 9 bản : 4 dành cho nam giới và 5 dành cho nữ giới.

1)        Ordo Monasterii (bắt đầu bằng các lời “Ante omnia, fratres carissimi” và kết thúc bằng “de vestra salute. Amen”).

2)        Praeceptum (bắt đầu bằng “Haec sunt quae ut observetis praecipimus” và kết thúc “et in temptationem non inducatur”). Dài gấp 5 lần bản số Một.

3)        Praeceptum longius ghép hai bản số Một và Hai.

4)        Regula recepta, lấy các lời đầu của bản số Một đem chắp vào bản số Hai.

Các bản sau đây dành cho nữ giới :

5)        Obiurgatio, lá thư gửi cho các nữ tu, khiển trách vì tội bất tuân bề trên, (tức là lá thư số 211).

6)        Regularis informatio, bản luật (số Hai nói trên đây) chuyển sang giống cái.

7)        Epistula longior, ghép hai bản văn số Năm và Sáu.

8)        Ordo monasterii feminis datus, hầu giống y như bản văn số Một, chuyển sang giống cái.

9)        Epistula longissima, ghép một mảng của bản số Năm với số Tám, dán thêm một khúc của bản số Sáu.

Sau khi đối chiếu, phân tích và phê bình để tìm ra đâu là Tu luật thánh Augustinô đích thực, cha Verheijen loại ra 4 bản (Ba, Bốn, Bảy, Chín); rồi lọc đi lọc lại, cuối cùng chỉ còn 2 bản được lọt vào vòng chung kết, đó là : một bản luật dành cho nữ giới (Regularis Informatio), và một bản dành cho nam giới (Praeceptum, còn mang tên là Regula ad servos Dei. Bản văn được trích trong phần phụ lục).

Giữa bản văn Regularis InformatioRegula ad servos Dei có nhiều đoạn giống nhau. Phải chăng thánh Augustinô đã viết cả hai bản luật, hay chỉ có viết một bản thôi (bản kia chỉ là sự thích nghi văn phạm, đổi giống cái sang giống đực)?

II. Ai là tác giả ?

Ai là tác giả của Tu luật thánh Augustinô ? Có phải chính thánh nhân đã viết Bản luật này không ? Câu hỏi này được nêu lên bởi vì cho đến nay vẫn còn thiếu những bằng chứng cho thấy tiến sĩ thành Híppô đã viết Bản luật này.

Thật vậy, trong những bút tích của mình, thánh Augustinô không hề đả động đến một bản Tu luật nào, kể cả khi vào cuối đời lúc duyệt lại các tác phẩm trong quyển Retractationes. Ông Possidius, một đồ đệ của thánh nhân, khi thảo bản liệt kê danh sách các tác phẩm của thầy mình (Indiculus), cũng chẳng nói đến một Bản tu luật.

Người ta tìm thấy Bản luật trong một lá thư mang số 211 (gửi cho các nữ đan sĩ), chắc chắn do thánh nhân viết ra. Tuy nhiên một số nhà phê bình cho rằng bản Luật được xen vào lá thư về sau này, chứ vào lúc đầu thánh Augustinô chỉ viết khuyên nhủ các nữ đan sĩ mà thôi. Ý kiến này nại vào chứng cứ là ý tưởng giữa phần thứ nhất (nhắn nhủ) và phần thứ hai (Bản luật) của lá thư không liên tục với nhau.

Dù vậy, ý kiến xác nhận thánh Augustinô là tác giả của Tu luật dựa trên luận cứ của một truyền thống lâu đời, đó là : tất cả các thủ bản chép tay từ cuối thế kỷ thứ VII còn lưu giữ đuợc, đều gán Bản luật này cho thánh Augustinô, ví dụ bản mang tên là “Corbie”, một đan viện Biển Đức ở miền Bắc nước Pháp, chép vào thế kỷ VII-VIII, hiện được lưu giữ trong Thư viện quốc gia Paris, mang số 12634. Trước đó, vào khoảng năm 520, thánh Césaire giám mục Arles đã trưng dẫn Bản luật như là của thánh Augustinô.

Ông Erasmus, một nhà phê bình văn học nổi tiếng của thế kỷ XVI, còn thêm một luận cứ nữa, đó là văn phong của Bản luật rất phù hợp với văn phong của Augustinô.

Tóm lại, tuy không thể khẳng định trăm phần trăm rằng thánh Augustinô là tác giả của Bản luật (vài tác giả hiện đại vẫn còn hoài nghi, như F. Chatillon viết năm 1956, và R. Lorenz viết năm 1966), nhưng đa số các học giả chấp nhận ý kiến của truyền thống coi Bản luật Regula ad servos Dei do đức Giám mục thành Híppô viết ra.

III. Thánh Augustinô là ai ?

1. Tóm lược tiểu sử

Để hiểu được bối cảnh và ý nghĩa của Bản luật, thiết tưởng nên ôn lại vài nét chính của cuộc đời thánh Augustinô (354-430).

Augustinô (gốc Latinh : Aurelius Augustinus) sinh tại Tagaste (Bắc Phi) ngày 13/11/354. Cho đến năm 373, anh học và dạy tại quê nhà. Từ năm 374, anh sang dạy học tại Cartago, thủ phủ hành chánh của miền Bắc Phi. Lúc đó, anh đã bị quyến rũ bởi thuyết Manikê cũng như đã có tình nhân và sinh đứa con tên là Adeodato. Đến năm 383, anh xuống tàu qua Italia, dạy học ở Rôma một thời gian, và sau đó lên Milanô. Khoảng năm 385/6, anh rời bỏ tình nhân. Vào mùa hè năm 386 anh được ơn trở lại, và được rửa tội vào ngày Vọng Phục sinh (24/4) năm 387 tại Milanô. Mùa hè năm sau anh trở về quê nhà (Tagaste). Tại đây anh thiết lập một đan viện và trụ trì cho đến năm 391, khi được thụ phong linh mục cho giáo phận Híppô. Giám mục Valerius cho phép cha được lập một đan viện trong khu đất của nhà thờ. Khoảng năm 395/6, cha được cử làm giám mục phó, và không bao lâu thì kế vị giám mục Valerius. Người qua đời ngày 28/8/430.

2. Thánh Augustinô với đời sống tu trì

Để có thể đánh giá đúng mức bản Tu luật cần phải hiểu chính xác con người đan tu của thánh Augustinô. Phần đông chúng ta thường biết thánh nhân như là một vị giám mục và là tiến sĩ vĩ đại của Hội thánh; rất ít người nghĩ đến người là một đan sĩ[2].

Trong thực tế, lý tưởng sống đời đan tu luôn luôn thu hút người từ lúc trở về với Chúa và kéo dài suốt đời. Chúng ta ghi nhận một vài chặng quan trọng trong hành trình tu trì của thánh Augustinô :

a) Dự án thành lập một cộng đoàn

Tại Milanô, sau khi trí tuệ đã được chinh phục bởi đức tin Kitô giáo (cuộc trở lại dứt khoát xảy ra một thời gian sau đó), anh Augustinô đã cùng với một nhóm bạn bè khoảng 10 người, nghĩ đến việc sống chung với nhau trong cộng đoàn để tìm kiếm sự Khôn ngoan của Thiên Chúa. Tuy nhiên sự cố gắng này đã không thành công vì một lý do rất đơn giản : một số người muốn mang theo vợ mình, nhưng một số khác thì phản đối (Conf. 6, 14, 24).

b) Tĩnh tâm tại Cassiciacum

Sau cuộc hoán cải (tháng 8 năm 386), anh Augustinô trải qua chín tháng chuẩn bị lãnh Bí tích thánh tẩy (25-04-387), tại một địa điểm gần Milanô, cùng với người mẹ là Mônica, người con là Adeodato, người em trai Navigio và cùng với một số họ hàng và bạn hữu. Nhịp sống hàng ngày tương tự như tại một đan viện : cầu nguyện, làm việc, học hành, đọc Thánh kinh …

c) Ẩn dật tại Tagaste

Sau khi trở về quê hương (năm 388), Augustinô đã qui tụ con trai và một số bạn bè tại một nơi ngoài thành Tagaste, nơi sinh trưởng của mình. Ở đó trong 3 năm, anh sống cuộc đời đan tu rất chặt chẽ. Possidius, một đồ đệ và người viết tiểu sử của anh, kể rằng : “Điều được Chúa mặc khải lúc chiêm niêm và cầu nguyện, thì người truyền lại cho những kẻ chung sống với mình bằng lời giảng dạy ” (Vita, 3, 2). Chắc hẳn là những lời giảng huấn đó sẽ trở nên nòng cốt cho Bản tu luật sau này.

Tuy vậy, từ chốn ẩn dật, Augustinô cũng làm “mục vụ” qua các thư từ. Nhờ tài năng thiên phú cũng như đời sống đạo đức, anh được nhiều người chiếu cố và tham khảo đủ mọi thứ chuyện. Để tránh cảnh xáo trộn đó, anh tìm đến một nơi yên tĩnh hơn để thiết lập cộng đoàn đan viện mới, tại Hípppô. Nhưng ở đó anh được truyền chức linh mục, một điều xảy ra ngoài ý muốn (năm 391).

d) Cộng đoàn nam tu

Dù là một linh mục, Augustinô vẫn tiếp tục muốn sống như một tu sĩ. Trong khu vườn cạnh nhà thờ Híppô, cha lập một cộng đoàn gồm các”giáo dân” (391) theo lý tưởng của cộng đoàn tiên khởi Giêrusalem như sách Công vụ thuật lại : để mọi sự làm của chung và phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ. Điều này luôn luôn là lý tưởng của Augustinô. Có nhiều ý kiến cho là Bản tu luật được viết trước tiên cho cộng đoàn này.

Từ cộng đoàn giáo dân này xuất thân một số giám mục để phục vụ dân Chúa. Nếp sống đan tu từ đó mở ra với các công tác mục vụ và trở thành đặc tính tiêu biểu của các đan viện do thánh Augustinô sáng lập. Người viết : “Chỉ có một tu sĩ tốt mới trở thành một linh mục tốt” (Ep. 60, 2). Nhưng xảy ra là sau đó Augustinô được chọn làm giám mục (395/396); như thế là phải bỏ lý tưởng đời tu chăng ? Chắc chắn là không ! Thật vậy, sau khi được tấn phong, người bắt đầu lập một cộng đoàn dành cho các giáo sĩ.

e) Cộng đoàn giáo sĩ

Khi đã làm giám mục, Augustinô vẫn ước ao được ở lại đan viện với các tu sĩ “giáo dân”. Nhưng những cuộc thăm viếng và nhiều công tác mục vụ làm xáo động nghiêm trọng cuộc sống thường ngày của cộng đoàn, vì thế người dọn nhà về toà giám mục. Tại đây, cùng với các linh mục và giáo sĩ, người thiết lập một cộng đoàn mới (monasterium clericorum) vào năm 397. Thật vậy đối với giám mục Augustinô, không có sự mâu thuẫn giữa đời tu và công tác tông đồ. Người phát biểu lý tưởng qua lối chơi chữ như sau : “Lòng say mê chân lý đi tìm cảnh yên hàn thánh thiện sanctum otium (nghĩa là đời sống tu trì), còn các yêu sách của đức ái chấp nhận công tác chính đáng iustum negotium (nghĩa là hoạt động mục vụ)” (De civ. Dei, XIX, 19). Phải nhận rằng quan điểm của thánh Augustinô rất độc đáo, bởi vì người đương thời nghĩ trái ngược lại. Chẳng hạn như Cassiano, tác giả một bản luật về đời sống cộng đoàn (qua đời vào khoảng năm 430/435) dành trọn một chương (De Institutis Coenobiorum, 1, 11) để bình giải mệnh lệnh này : “Các đan sĩ phải tuyệt đối tránh xa phụ nữ và … các giám mục” (để khỏi bị truyền chức).

f) Cộng đoàn nữ tu

Thánh Augustinô cũng mở một cộng đoàn nữ tu, mà bề trên là bà em gái, “một quả phụ được thánh hiến”, như người đã viết, và trong đó cũng có mấy người cháu làm phần tử. Đời sống đan tu được kết hợp với việc thực hành bác ái, nghĩa là chăm sóc các cô nhi và trẻ em bị bỏ rơi. Cộng đoàn này trở nên một ốc đảo hoà bình đối với giám mục Híppô : “Tôi đã tìm được niềm an ủi giữa biết bao nhiêu gương mù đang phơi bầy giữa thế gian” (Ep. 211, 2-3). Có phải vì chính cộng đoàn này mà vị thánh viết nên Bản luật đầu tiên được kèm theo lá Thư số 211, theo như ý kiến của vài người ?[3]

Augustinô còn sáng lập nên nhiều đan viện khác nữa, như Possidius đã chứng thực : “Khi qua đời, người để lại cho Giáo hội nhiều đan viện nam và nữ với biết bao người yêu mến đời sống tiết độ” (Vita, 31, 8).

Như vậy chúng ta có thể xác quyết rằng trong suốt cả cuộc đời, thánh Augustinô đã miệt mài say mê cho lý tưởng tu trì. Kể từ lúc trở thành Kitô hữu, người đã muốn sống như một tu sĩ, thậm chí kể cả sau khi được tấn phong làm giám mục.

3.Bảng niên biểu

 BẢNG NIÊN BIỂU[1] 

NGÀY

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG

TÁC PHẨM

13/11/354

Augustinô chào đời tại Tagaste

 

372

Augustinô đọc cuốn sách Hortensius

 

383

Khởi hành đi Rôma

 

384

Dạy học tại Milanô

 

08/386

Viếng thăm Ponticianus

Được ơn trở lại   Sống tại Cassiciacum (phía bắc Milanô)  chuẩn bị lãnh bí tích Rửa tội

 

Tháng 10

 

Contra Academicos

De beata vita

De ordine

Soliloquia

387

 

Lãnh bí tích Rửa tội ở Milanô

Bà thân mẫu Monica qua đời tại cửa biểnOstia

 

Tháng 8

Lưu lại Rôma

 

387-388

 

De moribus ecclesiae

De quantitate animae

De libero arbitrio

388

Trở về Cartago

De diversis quaestionibus LXXXIII

388-389

 

De genesi contra Manichaeos

De musica

De magistro

391

 

Thụ phong linh mục và lập đan viện tại Híppô

 

393 (394)

 

De sermone Domini in monte

394(395)

 

Expositio Epistulae ad Galatas

395

Thụ phong giám mục

De continentia

396

 

 

De diversis quaestionibus ad Simplicianum

De sancta virginitate

De bono conjugali

De sancta virginitate

397

 

De doctrina christiana. Praeceptum

                              397-398 (399)

 

Contra Faustum; Confessiones (I-IX)

399

 

De catechizandibus rudibus

De Trinitate (399-422 /426)

400

 

Contra epistulam Parmeniani

Contra litteras Petiliani

401

Aurelius yêu cầu Augustinô viết một tác phẩm về lao động cho các đan sĩ ở Cartago

De opere monachorum

De Genesi ad litteram

Confessiones (X-XIII); Epist. 54-55

406-407

 

En. In Ps. 119-133 và 95

Tract. In Io. Ev. 1-16

Tract. In Io. Epist.

412

Sắc chỉ của hoàng đế chống lại lạc giáo Đônatô.

 Augustinô viết một lá thư cho các nữ đan sĩ xin thay đổi bề trên

Objurgatio

De Spiritu et littera

De civitate Dei

414

 

Tract. In Io. Ev. 17-54

De bono viduitatis

419 ?

 

Quaestiones in Heptateuchum

421

 

Contra Julianum

422

 

Enchiridion

425

Một linh mục thuộc đan viện giáo sĩ qua đời và viết chúc thư để lại tài sản cho Giáo Hội

Bài giảng 355-356

 

426

Các đan sĩ ở Hadrumete tỏ ra chống lại học thuyết về ân sủng của thánh Augustinô

De gratia et libero arbitrio

De correptione et gratia

28/10/430

Augustinô qua đời

  

[1] Xem Marie-Ancilla, Session sur la Règle de saint Augustin, pp. 26-27

IV. Thánh Augustinô viết Bản luật cho đan sĩ nam hay nữ ?

Câu hỏi xem ra hơi lạ, nhưng ngày nay Bản luật Regula ad servos Dei được các dòng tu, tu hội nam cũng như nữ sử dụng như là một sự kiện rõ ràng. Do đó có lý do đặt nên vấn nạn : thánh Augustinô viết Bản luật cho ai trước : nữ hay nam ? Các học giả chia thành 2 ý kiến :

a) Theo một ý kiến cổ truyền, thánh Augustinô đã viết một bản luật cho nữ giới, rồi sau đó nó được chuyển sang cho nam giới. Lý do vì có những ý tưởng xem ra chỉ thích hợp cho phụ nữ chứ không liên can gì tới nam giới, chẳng hạn như việc thích làm dáng trong cách phục sức (số 19), gửi đồ đi giặt ở ngoài nhà dòng (số 30; số 33), hoặc là những hình ảnh về hương thơm và soi gương (số 48).

Những người khẳng định thánh Augustinô nhắm đến đan sĩ nữ còn dựa vào một lý lẽ có thế giá : trong lá thư số 211 gửi cho nữ đan viện trong đó người em gái của Người làm bề trên, thì phần thứ hai có kèm theo Bản luật viết cho nữ giới. Về sau có lẽ Bản luật được sử dụng cho giới nam và chuyển thành giống đực.

b) Ý kiến thứ hai (do cha Pierre Mandonnet O.P.[5] khởi xướng vào giữa thế kỷ XX) lật ngược lại thế cờ : bản Regula ad servos Dei mới thực là bản luật được Augustinô viết cho một cộng đoàn đan tu tại Híppô (năm 397), rồi sau đó nó được thích nghi cho nữ giới ! Cha Verheijen đã tán thành ý kiến của cha Mandonnet, với các lý do như sau :

Đối với lá thư nổi tiếng số 211, Bản luật đi kèm theo không phải là của thánh Augustinô nhưng có lẽ là của một tác giả khác thêm vào sau này, tìm cách thích nghi Bản luật cho giới nữ mà nguyên gốc được viết cho giới nam. Một lý chứng nữa là những thủ bản cổ nhất của Bản luật được sử dụng trong các đan viện đều dành cho giới nam.

Cuộc tranh luận vẫn còn bỏ ngỏ, tuy các nhà phê bình càng ngày càng nghiêng về ý kiến cho rằng Tu luật được viết trước tiên cho nam giới (có lẽ bởi vì hầu hết các học giả đều là phái nam !).

V. Thời gian Bản luật ra đời

Thánh Augustinô viết Bản luật khi nào ? Đây cũng là một vấn nạn nữa chưa có câu trả lời dứt khoát. Có nhiều ý kiến khác nhau. Một số học giả đặt thời gian biên soạn vào năm 391 (ngày thành lập đan viện Híppô). Một số khác dời mãi đến năm 428. Còn cha Lucas Verheijen ấn định ngày ra đời của Bản luật vào năm 397, khi thánh nhân dời nhà lên toà giám mục.

VI. Tầm quan trọng của Tu luật thánh Augustinô

Bản luật Regula ad servos Dei có ảnh hưởng rất lớn trong dòng lịch sử. Nếu như những bản luật đầu tiên đã ra đời bên Đông Phương mang tên của thánh Pacômiô (292-346/347) và thánh Basiliô (330/379), thì bên Tây phương Bản luật đầu tiên là của thánh Augustinô, đi trước Bản luật của thánh Biển Đức (+ khoảng năm 547), và đã gây ảnh hưởng trên bản luật này cũng như các bản luật về sau.

Ngoài ra, những cuộc cải tổ lớn về đời tu và đời linh mục hồi thế kỷ IX (cuộc cải cách của hoàng đế Charlemagne) và thế kỷ XI (cuộc cải tổ của Giáo hoàng Gregoriô VII) đều dựa theo Tu luật thánh Augustinô. Tu luật này cũng đã đánh dấu mạnh trên tất cả những phong trào cải tổ đời đan tu giáo sĩ của thời Trung cổ, chẳng hạn như dòng Prémontrés.

Tại sao các cuộc canh tân đời tu lại dựa vào Tu luật thánh Augustinô mà không dựa vào luật của thánh Biển Đức ? Thưa là vì họ muốn canh tân đời sống Giáo hội khởi đi từ lý tưởng của các Kitô hữu tiên khởi. Thật vậy, thánh Augustinô đã đề ra một lý tưởng sống hiệp thông với nhau trong tâm hồn và trong của cải. Ngoài ra Tu luật thánh Augustinô khác với Tu luật của thánh Biển Đức ở chỗ nó thực sự ngắn gọn, cởi mở, và vì thế có thể tự do thích nghi với mọi hoàn cảnh khác nhau diễn tả qua các hiến pháp riêng của mỗi Dòng tu và Tu hội.

Vì thế chúng ta có thể nói rằng có những lý do cho thấy Bản luật thánh Augustinô đã đạt được thành công trong lịch sử, về nội dung (lý tưởng đời sống cộng đoàn của Giáo Hội sơ khởi) cũng như hình thức (tính vắn gọn, súc tích và cái nhìn rộng thoáng). Cho tới ngày nay, có rất nhiều dòng tu nam cũng như nữ theo Tu luật này. Trong số các dòng nữ, có các nữ tu thánh Augustinô ở Meaux, Dòng thánh Brigida, Dòng Thăm viếng (của thánh Jeanne de Chantal và Francois de Sales), Dòng thánh Monica, Dòng thánh Rita, Dòng Chúa Chiên Nhân lành (của thánh Jean Eudes), Dòng thánh Tôma Villanova, Dòng Orsola, vv…Trong số các dòng nam có 4 dòng Hành khất (trong số 7 dòng) giữ Tu luật : dòng thánh Augustinô (với nhiều chi nhánh khác nhau), Dòng Đức Bà chuộc kẻ làm tôi, Dòng Đaminh và Dòng Tôi tớ Đức Mẹ. Rồi còn các dòng kinh sĩ thánh Augustinô, Dòng Chúa Ba ngôi, Dòng Prémontrés, Dòng thánh Gioan Thiên Chúa, vv.

Như vậy chúng ta thấy các gia đình dòng tu nam nữ đón nhận Tu luật Augustinô rất lớn. Đây chính là dấu tích chứng tỏ sự phong phú, phồn vinh của Tu luật trải dài trong lịch sử.

VII. Bản luật thánh Augustinô với dòng Đaminh[6]

Thánh Đaminh đã tuân giữ luật thánh Augustinô từ khi gia nhập đoàn kinh sĩ nhà thờ chánh toà Osma. Khi sang Rôma xin Toà thánh châu phê Dòng mới thành lập, cha Đaminh được Đức Innocentê III khuyên hãy chọn một bản luật cổ điển để khỏi vi phạm lệnh của Công đồng Latêranô IV (1215) cấm lập dòng mới. Trở về Toulouse vào năm 1216, cha đã nhất trí với anh em chọn luật thánh Augustinô. Xưa nay, người ta quen giải thích rằng đây chỉ là một giải pháp bất đắc dĩ phải chọn lựa (vì lúc ấy anh em chỉ biết có 2 bản luật : Augustinô và Biển Đức). Nói cách khác, luật thánh Augustinô được coi như lá chắn bình phong; chỉ có Hiến pháp mới thực là bản văn diễn tả căn tính của Dòng Giảng.

Tuy nhiên, cha Vicaire lại nghĩ khác[7]. Khi cha Đaminh cùng với anh em chọn lựa luật thánh Augustinô, họ thực sự nhìn nhận giá trị của nó, thấy có những yếu tố trùng hợp với lý tưởng của Dòng Giảng. Trong số các yếu tố ấy, ta có thể kể đến : cộng đoàn giáo sĩ dấn thân vào sinh hoạt tông đồ (giảng, giải tội), qua nếp sống cầu nguyện, khó nghèo. Thêm vào đó, có thể kể ra hai điểm nữa mà bản luật này đã gây ảnh hưởng nơi cha Đaminh trong cách tổ chức Dòng :

1/ Tinh thần đồng trách nhiệm hay “dân chủ”, với những hệ quả về tương quan giữa người lãnh đạo với cộng đoàn.

2/ Tinh thần tự do đối với luật pháp : tuân giữ vì yêu mến chứ không vì sợ hãi (luật không buộc thành tội).

Những nhận xét này của cha Vicaire được những bản chú giải luật thánh Augustinô trong những thế hệ đầu tiên của Dòng xác nhận[8]. Các tác giả coi luật thánh Augustinô như một toàn bộ của nếp sống Đaminh, chứ không phải như là bình phong trang trí. Nổi tiếng nhất là bản chú giải của cha Humbertus Expositio Regulae B. Augustin[9]. Trong phần dẫn nhập (prooemium), ngài giải thích những lý do vì sao Dòng Giảng gắn bó với luật thánh Augustinô : đó là vì nó lấy khuôn mẫu là đời sống tông đồ (vita apostolica); nó không đặt ra quá nhiều luật lệ chi ly cũng không quá sơ sài; hơn thế nữa, bản luật này khuyến khích việc học hành và cổ võ tinh thần khó nghèo.

VIII. Đọc lại bản Luật cho thời đại chúng ta

Tuy Tu luật Augustinô có độ dày lịch sử và uy tín rộng lớn, nhưng không khỏi gây ra nhiều khó khăn cho người đọc thời nay.

Bản luật đã được viết cho các tu sĩ cách đây 1600 năm. Nhiều điều quy định về thức ăn, quần áo, tắm giặt, nhất là quan hệ với người khác giới, đã lỗi thời, phải chăng vì thế nên huỷ bỏ ? Chắc chắn là không ! Chúng ta cần tôn trọng tất cả và vận dụng khả năng hiểu biết và lý trí để phân tích những gì là tinh thần chất chứa bên trong và ẩn giấu đằng sau bản văn. Chúng ta sẽ thấy rằng tinh thần đó luôn luôn có giá trị, và có thể hội nhập trong thời đại chúng ta.

Điều quan trọng là cần phải luôn luôn phân biệt hai cấp độ trong Bản luật: cấp độ sâu xa (tinh thần) và cấp độ ở bề mặt (áp dụng tinh thần đó vào một hoàn cảnh lịch sử cụ thể). Cấp độ thứ nhất thì trường tồn; trái lại, cấp độ thứ hai thì nhất thời.

Dù sao, chúng ta nên rào đón ba khó khăn thường nảy ra khi tiếp cận với bản luật.

1. Bản luật lỗi thời

Không thiếu người cho rằng bản luật này chẳng còn giá trị gì vì đã lỗi thời rồi. Để vượt qua vấn nạn này, cần phải luôn luôn đặt bản văn vào hoàn cảnh lịch sử để khám phá ra ý nghĩa thâm sâu của nó. Nói cách khác, việc giải thích bản văn đòi hỏi thiết lập bối cảnh lịch sử của nó.

2. Bản luật ngắn gọn

Bản luật thực sự ngắn gọn. Thánh Augustinô gọi là “tập nhỏ” (libellus, n. 49a). Tarcisius van Bavel, một chuyên gia hiện đại nổi tiếng về bản văn Augustinô, xác nhận : “Bản luật có lẽ chỉ là một cuốn tập ghi tóm lược những lời thánh nhân dạy dỗ mỗi ngày”[10], và như vậy, cần phải tham chiếu về những bản văn đầy đủ hơn. Một ý kiến khác của Nicolas Merlin vào năm 1934, cho rằng có lẽ thánh nhân đã soạn ra Bản luật này ít ngày trước khi rời khỏi đan viện để đến cư trú tại toà giám mục, dường như muốn bù lại cho các đan sĩ sự vắng mặt thể lý của mình.

Hiểu như vậy, chúng ta không nên chỉ đọc lướt qua bản luật, nhưng cần nghiền ngẫm đối chiếu với tư tưởng của tác giả được trình bày nơi các tác phẩm khác nữa[11].

3. Bản luật tình huống

Khó khăn thứ ba của Tu luật là không chỉ đề ra nguyên tắc tổng quát mà còn đi vào các tình huống. Chúng ta gặp thấy kiểu nói : “nếu…”, “giả như…”, “nếu không…”; nghĩa là “luật giả định” (hypothetical law), khác với “luật khẳng định” (categorical law, như trong mệnh lệnh “hãy yêu mến Thiên Chúa”). Trong các bản luật cổ, người ta thường lưu ý đến đời sống cụ thể để tìm ra một giải pháp; nhưng ngày nay chúng ta đừng nên dựa vào những trường hợp cụ thể rồi từ đó rút ra nguyên tắc chung bất biến. Tốt hơn, chúng ta phải khám phá nơi các hoàn cảnh cụ thể ấy, đâu là chủ ý của tác giả hoặc nguồn cảm hứng vẫn còn giá trị cho tới ngày nay.

 


[1] Xem L. Verheijen, Nouvelle approche de la Règle de saint Augustin, t. II : Chemin vers la vie heureuse, Institut Historique Augustinien, Louvain, 1988, pp. 325-326; La Règle de saint Augustin, t. II : Recherches historiques, Etudes Augustiniennes, Paris, 1967, pp. 7-17. Bài này trích từ : Marie-Ancilla, Session sur la Règle de saint Augustin, (Tài liệu dành cho sinh viên), Prouille 2001 và Phan Tấn Thành, Tinh thần Dòng Đaminh, Roma, 1998, bài 11.

[2] Đan sĩ dịch từ monacus trong tiếng La-tinh, gốc bởi monachos tiếng Hy-lạp. Ý nghĩa của từ này được giải thích theo nhiều nghĩa : 1/ người sống cô tịch; 2/ người sống độc thân; 3/ người chỉ sống cho một mình Chúa, đi tìm cách kết hiệp với Chúa. Thánh Augustinô còn thêm một nghĩa nữa, đó là sống đoàn kết một lòng một ý với nhau. Từ đó monasterium (đan viện) vừa ám chỉ nơi ở của các monaci, vừa có nghĩa là cộng đoàn các đan sĩ. Nên biết là vào thời xưa, chưa có các “dòng tu”, mà chỉ có các “cộng đoàn tu trì”, mỗi nhà biệt lập.

[3] Có người cho rằng chính vì có chuyện lục đục xảy ra tại đây mà thánh nhân phải viết một lá thư (mang số 211, viết khoảng năm 423).

[4] Xem Marie-Ancilla, Session sur la Règle de saint Augustin, pp. 26-27

[5] Xem P. Mandonnet, Saint Dominique. L’Idée, l’homme et l’oeuvre, Paris 1937, vol II, pp.142-148.

[6] Xem Phan Tấn Thành, Tinh thần Dòng Đaminh, Roma, 1998, tr. 175-176

[7] Xem H. Vicaire, “La règle de St. Augustin à la fondation de l’Ordre des Prêcheurs” in Vie Spirituelle, 145 (199), pp.261-279.

[8] Xem R.Creytens, Les commentateurs dominicains de la Règle de St.Augustin du XIII è au XIV sièle, vol I; Le commentaire d’Humbert de Romans in : AFP 33 (1963), pp. 121-157, vol II; Le commentateurs du XIV siècle : A) Nicolas Trevet in : AFP 34 (1964), pp 107-153. B) Arnaud Bernard in : AFP 35 (1965), pp. 21-66, vol III; Le commentateurs du XV siècle : Barthélemy de Modène et Alain de la Roche in : AFP 36 (1966), pp 263-312.

[9] Thực ra, nhân cơ hội chú giải Tu luật thánh Augustinô, cha Humbertus đã giải thích tinh thần của Dòng Đaminh. Tu luật thánh Augustinô chỉ dài hơn kém 15 trang nhưng phần chú giải lên tới 600 trang. Dầu vậy, bản văn này đã được lưu hành trong rất nhiều đan viện thời Trung cổ. Người ta đã tìm thấy các thủ bản trong các thư viện của nhiều Dòng khác nhau (Biển Đức, Chartreux, Xitô, Premontrés, Serviti, và nhất là các Dòng mang danh hiệu của thánh Augustinô). Lý do không có gì khó hiểu : cha Humbertus không chỉ chú trọng đến các đặc trưng của Dòng Giảng nhưng còn đi sâu vào các yếu tố chung của đời tận hiến nữa. Ngòai ra, những trang chú giải của cha Humbertus được “tô điểm” với nhiều trích dẫn Kinh thánh (Cựu và Tân ước), các tư tưởng giáo phụ (Ambrôsiô, Augustinô, Gioan Kim khẩu, Giêrônimô, Grêgôriô), các danh sư của đời tu (Cassianô, Biển Đức, Bênađô), và không thiếu những tích góp từ cuộc đời thánh Đaminh và các anh em tiên khởi trong Dòng (xem Sđd.)

[10] In : Augustiniana 9 (1959) p. 75, trích theo C. Boff, La Regola, p. 12.

[11] Chẳng hạn : khảo luận De opere monachorumDe sancta virginitate (viết khoảng năm 401); hai bức thư gửi cho các nữ đan sĩ tại Híppô (số 210-211); hai bài giảng (số 355 và 356) dành cho các đan sĩ sống cạnh tòa giám mục; chú giải thánh vịnh 132.

 

Comments are closed.