Tông huấn loan báo Tin Mừng của Đức Giáo Hoàng Phaolo VI

0

 TÔNG HUẤN LOAN BÁO TIN MỪNG 

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAO-LÔ VI GỬI HÀNG GIÁM MỤC, CÁC GIÁO SĨ VÀ CÁC TÍN HỮU TRONG TOÀN THỂ GIÁO HỘI VỀ VẤN ĐỀ TIN MỪNG HÓA TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI.

 (NGUỒN: Giáo lý phổ thông  (CTGLPT)

 Mục lục

TÔNG HUẤN  LOAN BÁO TIN MỪNG

Đặc biệt khuyến khích việc loan báo Tin Mừng

Nhân dịp ba biến cố

Chủ đề thường được nhấn mạnh trong nhiệm kỳ giáo chủ này

Theo đường hướng Thượng Hội đồng năm 1974

Mời gọi suy nghĩ

I. TỪ ĐỨC KI-TÔ SỨ GIẢ TIN MỪNG ĐẾN MỘT GIÁO HỘI SỨ GIẢ TIN MỪNG

Lời chứng và sứ mệnh của Chúa Giê-su

Đức Giê-su,  Đấng Tin Mừng hóa đầu tiên

Loan báo Triều đại Thiên Chúa

Loan báo ơn cứu độ giải thoát

Bằng một nỗ lực gian khổ

Giảng truyền không mệt mỏi

Với những dấu chỉ của Tin Mừng

Cho một cộng đoàn được Tin Mừng hóa và làm công việc Tin Mừng hóa   

Tin Mừng hóa:  ơn gọi đặc biệt của Giáo Hội

Tương quan giữa Giáo Hội và việc Tin Mừng hóa

Giáo Hội không thể tách rời khỏi Đức Ki-tô

II. TIN MỪNG HÓA LÀ GÌ

Tính cách phức tạp của công việc Tin Mừng hóa

Đổi mới loài người

Và những khu vực nhân sinh

Tin Mừng hóa các nền văn hóa

Đời sống làm chứng là quan trọng hơn cả

Cần phải loan báo rõ ràng

Gắn bó bằng cả cuộc sống và với cộng đồng

Đưa tới một nỗ lực tông đồ mới

III. NỘI DUNG VIỆC TIN MỪNG HÓA

Nội dung chính yếu và những yếu tố phụ

Làm chứng cho lòng yêu thương của Chúa Cha

Trọng tâm sứ điệp :  Ơn cứu độ trong ĐGK

Dưới dấu chỉ của hy vọng

Sứ điệp liên quan đến tất cả đời sống

Sứ điệp giải phóng

Quan hệ thiết yếu với việc thăng tiến con người

Không giản lược cũng không mập mờ

Giải phóng theo ý nghĩa Tin Mừng

Có trục là Triều đại Thiên Chúa

Và cái nhìn của Tin Mừng về con người

Bao hàm một sự trở lại cần thiết

Vấn đề bạo lực

Phần đóng góp đặc biệt của Giáo Hội

Tự do tôn giáo

IV. CÁC ĐƯỜNG LỐI TIN MỪNG HÓA

Tìm những phương kế thích hợp

Làm chứng bằng đời sống

Một lời giảng truyền sống động

Phụng vụ Lời

Huấn giáo

Việc xử dụng các phương tiện truyền thông

Cần phải tiếp xúc từng người

Vai trò các huyền tích

Lòng đạo bình dân

V. TIN MỪNG HÓA CHO NHỮNG AI ?

Tin Mừng hóa tất cả mọi người

Bất chấp mọi trở ngại

Việc loan báo đầu tiên cho những kẻ xa lạ

Loan báo cho nhg nơi nào đức tin Kitô giáo sa sút

Các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo

Nâng đỡ đức tin của các tín hữu

Những người vô tín ngưỡng

Những người không giữ đạo

Giữa lòng đại chúng

Các cộng đồng Giáo Hội ở cơ sở

VI. NHỮNG AI ĐƯỢC PHÁI ĐI  TIN MỪNG HÓA

Toàn thể Giáo Hội truyền giáo

Một hành động của Giáo Hội

Viễn tượng Giáo Hội phổ quát

Viễn tượng Giáo Hội địa phương

Ngôn ngữ thích nghi và trung thành

Hướng sẵn về Giáo Hội phổ quát

Nội dung đức tin phải nguyên vẹn

Những nhiệm vụ khác nhau

Người kế vị Thánh Phê-rô

Giám mục và linh mục

Các tu sĩ

Các giáo dân

Gia đình

Giới trẻ

Những thừa tác vụ khác nhau

VII. TINH THẦN CỦA VIỆC  TIN MỪNG HÓA

Lời kêu gọi khẩn thiết

Dưới sức thúc đẩy của Thánh Thần

Những chứng nhân đích thực

Những người xây dựng hiệp nhất

Những người phục vụ chân lý

Lòng yêu thương là động lực

Với nhiệt tình của các thánh

KẾT LUẬN

Huấn thị của Năm Thánh

Đức Ma-ri-a, Ngôi sao sáng của việc TM  hóa

Mục lục  

Xin  chú  ý:

1. Các chú thích ngắn, thường là những ghi chú Thánh Kinh, sẽ được đưa thẳng vào trong bản văn dịch. Các chú thích dài thì vẫn sẽ được để ở bên dưới mỗi trang, với số thứ tự như trong nguyên văn để tiện bề đối chiếu, tham khảo.

2. Từ đầu đến cuối bản tiếng Việt này, xin “chuyên cần” tạm dịch một số từ chính yếu như sau:

Evangile:  Tin Mừng

Evangéliser:   Tin Mừng hóa

Evangélisation:  Việc, công cuộc Tin Mừng hóa

Annoncer l’Evangile:  Loan báo Tin Mừng

Proclamer:  Công bố

Prêcher:  Giảng truyền

Enseigner:  Dạy, dạy dỗ.

Catéchèse:  Huấn giáo

Enseignement  catéchétique:   Việc dạy giáo lý.

Enseignement  religieux:  Việc dạy đạo.

Sacrement : Huyền tích.

Signe:  Dấu chỉ.

Evangélisateur:  Sứ giả Tin Mừng.

Prédicateur :  Người giảng truyền.


TÔNG HUẤN LOAN BÁO TIN MỪNG

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAO-LÔ VI, GỬI HÀNG GIÁM MỤC, CÁC GIÁO SĨ VÀ CÁC TÍN HỮU TRONG TOÀN THỂ GIÁO HỘI VỀ VẤN ĐỀ TIN MỪNG HÓA TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI.

***

Phao-lô VI, Giáo chủ

Gửi đến các Anh em đáng kính và các con thân mến lời chào và chúc lành Tòa Thánh.

Đặc biệt khuyến khích việc loan báo Tin Mừng

1. Loan báo Tin Mừng cho người thời đại chúng ta đang phấn chấn hy vọng và đồng thời cũng đang bị dày vò vì sợ hãi và lo âu, đó hẳn là nỗ lực vừa phục vụ cộng đồng Ki-tô hữu vừa phục vụ  toàn thể loài người nữa.

Vì vậy, bổn phận củng cố anh em mà chúng tôi đã được Chúa ban cho cùng với chức vụ kế vị Thánh Phê-rô (Lc 12,22) và đoạn văn chúng tôi là một nỗi bứt rứt thường nhật (2Cr 11,28), một chương trình sống và hoạt động, và một cam kết căn bản của nhiệm kỳ Giáo chủ chúng tôi, bổn phận ấy được chúng tôi coi là còn cao quý và cần thiết hơn nữa khi phải khuyến khích các anh em của chúng tôi trong sứ mệnh Tin Mừng hóa để trong những thời buổi bấp bênh và chao đảo này, họ vẫn luôn thêm lòng yêu mến, nhiệt thành và hân hoan mà chu toàn sứ mệnh này.

Nhân dịp ba biến cố

2. Chính đó là điều chúng tôi muốn làm ở đây, vào cuối năm Thánh này. Suốt Năm Thánh, Giáo Hội đã dồn mọi cố gắng vào việc giảng truyền Tin Mừng cho tất cả mọi người (3) mà không mong gì khác hơn là chu toàn nhiệm vụ loan báo Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô đã được công bố từ hai lời kêu gọi căn bản: “Hãy mặc lấy người mới” (4) và “Hãy lo làm hòa lại với Thiên Chúa” (2Cr 5,20).

Chúng tôi muốn làm điều đó vào dịp kỷ niệm năm thứ 10 ngày bế mạc Công đồng Vatican II mà các mục tiêu xét cho cùng đều tóm lại trong chỉ một mục tiêu này: Làm cho Giáo hội thế kỷ XX thhích hợp hơn nữa với việc loan báo Tin Mừng cho loài người thế kỷ XX.

Chúng tôi muốn làm điều đó một năm sau Đại hội lần thứ ba của Thượng hội đồng các Giám mục vốn được biết là Đại hội bàn về vấn đề Tin Mừng hóa- nhất là vì chính các Nghị phụ ở Thượng hội đồng đã yêu cầu chúng tôi như thế. Quả vậy, khi kết thúc đại hội đáng nhớ này, các Nghị phụ đã quyết định, một cách rất tin cậy và giản dị, giao lại cho vị chủ chăn của Giáo Hội toàn cầu tất cả kết quả công lao các ngài, đồng thời cũng tuyên bố là các ngài mong đợi Giáo chủ đem lại một đà tiến mới có sức tạo nên những thời Tin Mừng hóa mới trong một Giáo Hội đâm rễ sâu hơn nữa vào sức mạnh và quyền năng bất tử của Ngày Hiện Xuông (5).

Chủ đề thường được nhấn mạnh trong nhiệm kỳ giáo chủ này.

3. Chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của chủ đề Tin Mừng hóa này, từ lâu trước những ngày họp Thượng hội đồng. Chúng tôi đã nói với Hồng y đoàn ngày 22/6/1973: “Các điều kiện xã hội bắt buộc tất cả chúng ta phải xét lại những phương pháp, phải tìm tòi bằng mọi cách để làm sao đưa được tới con người ngày nay sứ điệp Ki-tô giáo trong đó họ có thể tìm thấy câu trả lời cho những thắc mắc của họ và sức mạnh để họ dấn thân vì tình liên đới nhân loại” (6). Và chúng tôi còn thêm là để đáp lại đích đáng những đòi hỏi của Công đồng vẫn chất vấn chúng ta, chúng ta tuyệt đối phải đặt mình trước  di  sản đức tin mà Giáo Hội có bổn phận gìn giữ tinh tuyền và cả bổn phận trình bày cho người thời đại chúng ta một cách hết sức dễ hiểu và có sức thuyết phục nữa.

Theo đường hướng Thượng Hội đồng năm 1974.

4. Trung thành với sứ điệp chúng ta phục vụ và với những ai chúng ta có bổn phận truyền đạt sứ điệp ấy cho nguyên vẹn và sống động, đó là trọng tâm việc Tin Mừng hóa. Trung thành như thế đặt ra ba câu hỏi nóng bỏng mà Thượng hội đồng các Giám mục năm 1974 đã luôn thấy trước mắt:

  • Năng lực tiềm ẩn của Tin Mừng vốn có sức đánh động sâu xa ý thức con người, năng lực ấy ngày nay ra sao ?
  • Sức mạnh Tin Mừng đó liệu có khả năng biến đổi con người thế kỷ này đến mức nào và như thế nào?
  • Phải công bố Tin Mừng theo những phương pháp  nào cho có hiệu quả ?

Các câu hỏi trên, xét cho cùng, chỉ nói rõ ra câu hỏi căn bản mà Giáo Hội tự đặt cho mình ngày nay và người ta có thể diễn đạt như sau: sau Công đồng và nhờ Công đồng vốn là giờ của Thiên Chúa ở khúc quanh lịch sử này, Giáo Hội có thấy mình, có hay không, thích hợp hơn với việc loan báo Tin Mừng và đưa Tin Mừng vào trong lòng dạ con người một cách xác tín,  tự nguyện và hiệu quả không ?

Mời gọi suy nghĩ

5. Tất cả chúng ta đều thấy cần kíp phải trả lời câu hỏi trên một cách thẳng thắn, khiên tốn, can đảm và phải hành động cho phù hợp.

Trong “mối lo canh cánh vì các Giáo Hội” (2 Cr11,28).

Chúng tôi muốn giúp anh em và chúng con đáp lại những chất vấn kia. Chỉ muốn dựa vào những ý kiến phong phú của Thượng hội đồng các Giám mục và suy nghĩ về việc Tin Mừng hóa, ước gì lời lẽ của chúng tôi mời gọi được toàn thể Dân Thiên Chúa trong Giáo Hội cùng suy nghĩ, và ước gì lời lẽ ấy làm thành đà tiến mới cho mọi người, đặc biệt cho những ai “có công vất vả giảng Lời và dạy dỗ” (1Tm 5,17), để mỗi người trung thành phân phát Lời sự thật” (2Tm 2,15), làm công việc giảng truyền Tin Mừng và chu toàn sứ vụ của mình.

Chúng tôi coi một Tông huấn như thế là chủ yếu, vì đối với Giáo Hội việc trình bày sứ điệp Tin Mừng không phải là một sự đóng góp tùy hứng: đó là bổn phận về phần Giáo Hội, do Chúa ủy thác cho, để nhân loại có thể tin và được cứu độ. Phải, sứ điệp có cần thiết. Có một không hai. Không thể thay thế được. Sứ điệp Tin Mừng không chịu được sự lãnh đạm, sự hỗn hợp, sự thỏa hiệp. Vì đây là cứu độ con người. Sứ điệp Tin Mừng tiêu biểu cho chính vẻ cao đẹp của mặc khải. Nó bao hàm một sự khôn ngoan không thuộc về thế gian này. Tự nó có hể khơi dậy đức tin, một đức tin dựa trên quyền năng của Thiên Chúa (1Cr 2,5). Nó là chân lý. Nó đáng cho người tông đồ hiến trọn thì giờ, nghị lực và hy sinh, nếu cần, ngay cả sự sống mình.

(3) Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, Ad  gentes, s.l.

(4) Ep 4,24 ; 2,15 ; Co 10 ; Ga 3,27 ; Rm 13,14 ; 2C5,17.

(6) Xem Phaolô VI, diễn từ bế mạc Đại hội lần thứ ba của Thượng hội đồng các Giám mục (26/10/1974). AAS66(1974), tt. 634-635, 637.

(7) AAS 65 (1973), t. 383.

I. TỪ ĐỨC KI-TÔ SỨ GIẢ TIN MỪNG ĐẾN MỘT GIÁO HỘI SỨ GIẢ TIN MỪNG

Lời chứng và sứ mệnh của Chúa Giê-su

6. Lời Chúa Ki-tô làm chứng về chính mình đã được ghi lại trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca: “Ta phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa” (Lc 4,43), lời chứng đó chắc chắn có một tầm quan trọng lớn lao vì nó xác định bằng một chữ tất cả sứ mệnh của Đức Giê-su: “Chính vì thế, mà Ta đã được sai đến” (nt). Những lời đó mang đầy đủ ý nghĩa khi được đối chiếu với những câu về trước, ở chỗ Đức Ki-tô vừa áp dụng cho chính mình Người lời tiên tri I-sai-a: “Thần Khí Chúa ở trên tôi, bởi Ngài đã xức dầu cho tôi. Ngài đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc4,18, Is 61,1).

Từ thành này đến thành nọ, công bố tin vui về việc hoàn thành các lời hứa và Giao ước đã do Thiên Chúa đề xướng, công bố nhất là cho những kẻ nghèo khó hơn cả mà thường cũng là những kẻ sẵn sàng tiếp nhận hơn cả, đó là sứ mệnh mà Đức Giê-su tuyên bố mình  đã được Chúa Cha sai đến để thực hiện. Và tất cả các khía cạnh mầu nhiệm của Người – chính việc nhập thể, các phép lạ, việc giảng dạy, chiêu tập các môn đệ, sai phái Mười hai tông đồ, chết trên thập giá và sống lại, việc còn hiện diện thường xuyên giữa các môn đồ của Người – tất cả đều là thành phần công việc loan báo Tin Mừng của Ngài.

Đức Giê-su,  Đấng Tin Mừng hóa đầu tiên.

7. Rất nhiều lần trong khóa họp Thượng hội đồng các Giám mục đã nhắc lại sự thật này: chính Đức Giê-su, Tin Mừng của Thiên Chúa (Mc 1,1; Rm 1,13) đã là Đấng Tin Mừng hóa đầu tiên, vĩ đại nhất và đến cùng: đến mức tuyệt hảo, đến hy sinh cả sự sống trần thế của mình.

Tin Mừng hóa: mệnhlệnh này đã có ý nghĩa gì đối với Đức Ki-tô ? Hẳn không dễ gì bày tỏ, trong một tổng hợp đầy đủ, nội dung, các cách thức của việc Tin Mừng hóa như Đức Giê-su đã quan niệm và thực hiện. Vả lại, một tổng hợp như thề sẽ không bao giờ xong được. Chúng tôi chỉ xin nhắc lại vài khía cạnh chính yếu.

Loan báo Triều đại Thiên Chúa

8. Là Đấng Tin Mừng hóa, Đức Ki-tô trước tiên loan báo một Triều đại, Triều đại của Thiên Chúa quan trọng đến nỗi đối chiếu với nó thì tất cả đều trở thành “những gì khác” được “ban thêm cho” (Mt 6,33). Như vậy chỉ có Triều đại này là tuyệt đối và nó tương đối hóa tất cả những gì khác. Dưới nhiều hình thức khác nhau, Đức Ki-tô thích mô tả hạnh phúc được thuộc về Triều đại này, một hạnh phúc nghịch thường làm bằng những gì thế gian chê bỏ (Mt 5,3-12). Người cũng mô tả những đòi hỏi và hiến chương của Triều đại (Mt 5-7), những sứ giả (Mt 10), những mầu nhiệm (Mt 13), những con cái của Triều đại (Mt 18), sự tỉnh thức và trung tín phải có nơi bất cứ ai trông chờ ngày Triều đại ấy đến hẳn (Mt 24-25).

Loan báo ơn cứu độ giải thoát

9. Như nòng cốt và trung tâm của Tin Mừng, Đức
Ki-tô loan báo ơn cứu độ, tức hồng ân lớn lao này của Thiên Chúa là giải thoát khỏi tất cả những gì áp bức con người, nhất là giải thoát khỏi tội lỗi và ác thần, trong niềm vui nhận biết Thiên Chúa và được Ngài biết tới, thấy Ngài, được phó thác cho Ngài. Tất cả ơn cứu độ ấy đã bắt đầu trong cuộc đời Đức Ki-tô và được thu đạt bằng sự chết và sống lại của Người, nhưng còn phải được kiên trì dẫn đưa trong dòng lịch sử để được thực hiện đầy đủ vào ngày Đức Ki-tô lại đến, ngày không ai biết là khi nào, trừ Chúa Cha (Mt 24,36 ; Cv 1,7).

Bằng một nỗ lực gian khổ

10. Triều đại và ơn cứu độ nói trên là những từ ngữ đầu mối, trong công cuộc Tin Mừng hóa của Đức Giê-su Ki-tô. Người nào cũng có thể nhận được Triều đại và ơn cứu độ đó như ân sủng và tình thương xót, tuy nhiên mỗi người đồng thời phải chiếm lấy bằng sức mạnh, như Chúa đã nói: Nước Trời thuộc về kẻ mạnh bạo (Mt 11,12), bằng khó nhọc và đau khổ, bằng đời sống theo Tin Mừng, bằng sự từ bỏ và vác thập giá, bằng tinh thần các mối phúc thật. Nhưng, trước hết, mỗi người chiếm lấy Triều đại và ơn cứu độ bằng một cuộc đảo ngược bên trong toàn diện như Tin Mừng chỉ định bằng từ ngữ “Metanoia” nghĩa là một cuộc trở lại triệt để, một cuộc thay đổi sâu xa cách nhìn và lòng dạ (Mt 4,17).

Giảng truyền không mệt mỏi

11. Đức Ki-tô công bố Nước Thiên Chúa bằng các giảng truyền không mệt mỏi một lời mà người ta sẽ cho là không được nghe ở đâu như  vậy: “Thật là giáo huấn mới, một cách có uy quyền” (Mc 1,27). Mọi người làm chứng cho Người và họ thán phục các lời đầy ân sủng xuất từ miệng Người” (Lc 4,22); “chưa từng có ai nói năng như ông ấy” (Ga 7,46). Lời Người mặc khải bí ẩn của Thiên Chúa, những gì Thiên Chúa dự tính và hứa hẹn, để nhờ vậy mà cải biến lòng dạ và vận mệnh con người.

Với những dấu chỉ của Tin Mừng

12. Đức Ki-tô còn công bố Nước Thiên Chúa  bằng vô vàn dấu chỉ khiến các đám đông phải kinh ngạc và đồng thời lôi kéo họ đến với Người để xem Người, nghe Người và được Người cải biến cho: chữa lành bệnh nhân, biến nước thành ruợu, khiến bánh ra nhiều, cho kẻ chết về lại với cuộc sống. Và giữa tất cả là dấu chỉ được Người đề cao tầm quan trọng: các kẻ bé mọn, các kẻ nghèo khó được Tin Mừng hóa, trở thành môn đệ của Người, tụ họp “nhân danh Người” trong đại cộng đồng những kẻ tin ở Người. Vì Đức Giê-su đã từng tuyên bố: “Ta phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa” (Lc 4,43), cũng chính là Đức Giê-su mà Gio-an Thánh sử nói rằng Người đã đến và phải chết “để thâu họp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một” (Ga 11,52). Như vậy Người hoàn thành mặc khải, bổ túc và xác nhận mặc khải bằng tất cả những gì Người làm để bày tỏ bản thân mình, bằng lời nói và việc làm, bằng dấu chỉ và phép lạ, và đặc biệt hơn nữa là bằng việc Người chịu chết, sống lại và gửi Thần Khí sự thật đến (31).

Cho một cộng đoàn được Tin Mừng hóa và làm công việc Tin Mừng hóa.

13. Những kẻ thành tâm tiếp nhận Tin Mừng, thì do việc tiếp nhận đó và chia sẻ đức tin mà tụ họp lại nhân danh Đức Giê-su để cùng nhau tìm kiếm Triều đại, xây dựng và sống cho Triều đại này. Họ làm thành một cộng đoàn, và đến lượt chính cộng đoàn này cũng làm công việc Tin Mừng hóa. Lệnh truyền cho Mười hai tông đồ: “Hãy đi ! Hãy rao giảng Tin Mừng” cũng có gía trị đối với mọi tín hữu tuy là một cách khác. Chính vì thế mà Phê-rô gọi các tín hữu là”một dân tuyển chọn để loan báo những kỳ công” của Thiên Chúa (1Pr 2,9), chính những kỳ công mà mỗi người đã có thể nghe nói đến bằng ngôn ngữ riêng của mình (Cv 2,11). Ngoài ra, Tin Mừng về Triều đại đang đến và đã bắt đầu là Tin Mừng cho mọi người thuộc mọi thời đại. Những ai đón nhận Tin Mừng, những ai được Tin Mừng quy tụ vào cộng đồng cứu độ, đều có thể, và phải chuyển đạt và truyền bá Tin Mừng.

Tin Mừng hóa: Ơn gọi đặc biệt của Giáo Hội

14. Giáo Hội biết rõ như thế. Giáo Hội ý thức sâu sắc rằng lời Đấng Cứu Thế “Ta phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa” (Lc 4,43) áp dụng hoàn toàn đúng cho mình. Giáo Hội sẵn lòng cùng với Thánh Phao-lô nói thêm: “Đối với tôi, giảng truyền Tin Mừng không phải là lý để được vẻ vang, đó là sự khẩn thiết giáng xuông trên tôi. Khốn cho tôi nếu tôi không giảng truyền Tin Mừng !”(1Cr 9,16). Vào cuối kỳ Đại hội tháng 10/1974, chúng tôi vui mừng và cảm kích khi nghe những lời sáng rực này: “Chúng tôi muốn xác định một lần nữa rằng nhiệm vụ Tin Mừng hóa mọi người là sứ mệnh chính yếu của Giáo Hội” (36).

Những biến chuyển sâu rộng của xã hội hiện tại chỉ làm cho nhiệm vụ và sứ mệnh đó thành cấp bách hơn. Thật vậy, Tin Mừng hóa là ân huệ và ơn gọi đặc biệt của Giáo Hội, là chân tính sâu xa nhất của Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu là để Tin Mừng hóa nghĩa là giảng và dạy, làm kênh rạch chuyển thông ơn thánh, giải hòa kẻ tội lỗi với Thiên Chúa, làm cho cuộc tế hiến của Đức Ki-tô vẫ n hiện tại mãi trong thánh lễ là lễ tưởng niệm việc người chịu chết và sống lại vinh quang.

Tương quan giữa Giáo Hội và việc Tin Mừng hóa

15. Bất cứ ai đọc lại trong Tân Ước về buổi sơ khai của Giáo Hội, theo dõi từng bước lịch sử của Giáo Hội và xem Giáo Hội sống và hoạt động thì đều thấy Giáo Hội gắn liền với việc Tin Mừng hóa một cách thân thiết nhất.

Giáo Hội phát sinh từ hoạt động Tin Mừng hóa của Đức Giê-su và Mười hai tông đồ. Giáo Hội là hoa trái tất nhiên, cố ý, trực tiếp nhất và dễ thấy nhất của mọi hoạt động kia: “vậy các anh hãy đi thâu nạp môn đồ từ khắp muôn dân” (Mt 28,19). Thế mà “những ai đón nhận lời thì đã chịu thanh tẩy và khoảng ba ngàn người đã nhập lại với họ…và số những kẻ đón nhận ơn cứu độ cứ mỗi ngày được Chúa ban thêm” (Cv 2,41.47).

 (36) Tuyên bố các nghị phụ Thượng hội đồng số 4: L’O sser-vatore Romano 27/10/1974, t.6.

 (31) Xem Công đồng vatican II, hiến chế tín lý về mặc khải Thiên Chúa, Gei verbum, s.4.

 Được sinh ra như vậy từ sứ mệnh truyền giáo, Giáo Hội đến luợt mình cũng được Chúa Giê-su phái đi. Giáo Hội ở lại trần gian khi mà Chúa vinh hiển về cùng Chúa Cha. Giáo Hội ở lại như một dấu chỉ vừa mờ đục vừa sáng tỏ của sự hiện diện mới của Đức Giê-su, Đấng vừa ra đi vừa ở lại mãi. Giáo Hội nối dài và tiếp tục Đức Ki-tô. Nhưng tiên vàn Giáo Hội lại được kêu gọi tiếp tục chính sứ vụ và cương vị Tin Mừng hóa của Người (39). Vì Công đồng các Ki-tô hữu không bao giờ khép kín lại. Nơi cộng đồng này, cuộc sống thâm sâu-cuộc sống cầu nguyện, nghe Lời Chúa và lời giảng dạy của các tông đồ, sống tình thương yêu huynh đệ, bẻ bánh (Cv 2,42-46) – cuộc sống như thế chỉ đầy đủ ý nghĩa khi nó làm chứng, khiến người ta thán phục và trở lại, thành lời giảng truyền và loan báo Tin Mừng. Chính là như thế mà toàn thể Giáo Hội lãnh nhận sứ mệnh Tin Mừng hóa và việc làm của mỗi người là quan trọng đối với toàn thể.

Tin Mừng hóa, Giáo hội bắt đầu bằng việc tự Tin Mừng hóa chính mình. Là cộng đồng những kẻ tin, là cộng đồng sống và chuyển thông niềm trông cậy, là cộng đồng tình thương yêu huynh đệ, Giáo hội cần luôn lắng nghe điều mình phải tin, những lý do để trông cậy, điều răn mới của tình thương yêu. Là dân Thiên Chúa ngụp lặn trong trần gian và thường bị các thần tượng cám dỗ, Giáo hội luôn cần được nghe công bố những kỳ công của Thiên Chúa (Cv 2,11) đã từng khiến Giáo hội trở lại với Chúa, luôn cần được Người mời gọi và quy tụ lại. Tắt một lời, Giáo Hội luôn luôn cần được tiếp nhận hóa nếu muốn giữ được vẻ tươi mát, sinh khí và sức mạnh để loan báo Tin Mừng. Công đồng Vatican II đã nhắc lại (42) và Thượng hội đồng Giám mục 1974 đã mạnh mẽ lặp lại chủ đề này, là Giáo Hội tự Tin Mừng hóa chính mình bằng sự trở lại và đổi mới liên tục để Tin Mừng hóa thế giới một cách đáng tin.

Giáo Hội được giao cho giữ gìn Tin Mừng phải loan báo. Những lời hứa Giao ước mới nơi Đức Giê-su Ki-tô, giáo huấn của Chúa và các tông đồ, Lời ban sự sống, những nguồn ân sủng và lòng lành của Chúa, con đường cứu độ, tất cả đều được ủy thác cho Giáo Hội. Đó là nội dung của Tin Mừng, nên cũng là nội dung của việc Tin Mừng hóa, mà Giáo Hội gìn giữ như một của ký thác sống động và quý báu, không phải để giấu kín nhưng để truyền đạt.

Đã được sai đi và đã được Tin Mừng hóa chính Giáo Hội lại sai phái những kẻ loan báo Tin Mừng. Giáo Hội đặt nơi miệng họ Lời cứu độ, diễn giải cho họ sứ điệp được ủy thác cho chính Giáo Hội, ban cho họ ủy quyền mà Giáo Hội đã lãnh nhận và sai họ đi truyền giảng. Không phải truyền giảng con người hay tư tưởng cá nhân của họ (43) (2 C  4,5) nhưng truyền giảng một Tin Mừng mà cả họ lẫn Giáo Hội đều không phải là chủ hay sở hữu chủ tuyệt đối để tùy tiện sử dụng, vì họ chỉ là những thừa tác viên để truyền đạt một cách hết sức trung thành thôi.

Giáo Hội không thể tách rời khỏi Đức Ki-tô

16. Như vậy có một mối liên hệ sâu xa giữa Đức Ki-tô, Giáo Hội và việc Tin Mừng hóa. Trong “thời của Giáo Hội” này, chính Giáo Hội có bổn phận Tin Mừng hóa. Bổn phận không thể hoàn tất mà không có Giáo Hội, càng không thể hoàn tất nếu chống lại Giáo Hội.

Nhắc lại điều trên hẳn là điều thích hợp giữa lúc mà chúng tôi không khỏi đau buồn khi nghe thấy những người chúng tôi muốn nghĩ là rất thiện chí nhưng chắc chắn đã lệch lạc tinh thần lặp đi lặp lại rằng họ đòi yêu mến Đức Ki-tô mà không cần Giáo Hội nhưng lại  ở ngoài Giáo Hội. Lối tách đôi như thế rõ ràng là phi lý khi đã có lời Tin Mừng này: “Ai vất bỏ các ngươi là vất bỏ Ta” (44). Và muốn yêu mến Đức Ki-tô mà không yêu mến Giáo Hội thế nào được khi lời làm chứng tốt đẹp nhất về Đức Ki-tô đã là của Thánh Phao-lô: “Người đã yêu mến Giáo Hội và phó mình cho Giáo Hội” (Ep 5, 25).

II. TIN MỪNG HÓA LÀ GÌ ?

Tính cách phức tạp của công việc Tin Mừng hóa

17. Trong công việc Tin Mừng hóa của Giáo Hội, chắc chắn có những yếu tố và những khía cạnh cần để ý đến. Vài yếu tố và khía cạnh lại quan trọng đến nỗi người ta có khuynh hướng coi luôn chúng với chính việc Tin Mừng là một. Như thế người ta đã có thể định nghĩa việc Tin Mừng hóa là loan báo Đức Ki-tô cho những ai không biết Người, là giảng truyền, là huấn giáo, là Thanh tẩy hay ban các huyền tích khác.

Không một định nghĩa phiếm diện hay lẻ vụn nào lột hết được nội dung của một thực tại phong phú, phức tạp và sống động như việc Tin Mừng hóa, trừ phi đành liều để cho thực tại ấy nghèo nàn, què quạt đi. Không thể nào thấu hiểu được nó nếu không tìm cách nhìn thấy bao quát tất cả những yếu tố chính yếu của nó.

Các yếu tố này đã từng được nhấn mạnh suốt kỳ họp Thượng hội đồng các Giám mục, và trong lúc này vẫn thường được tìm hiểu sâu sắc hơn dưới ảnh hưởng của công trình Thượng hội đồng. Chúng tôi vui mừng vì xét cho cùng, chúng nằm trong những đường hướng những yếu tố mà Công đồng Vatican II đã truyền lại cho chúng ta, nhất là trong các Hiến chế Lumen gentium, (ánh sáng muôn dân), Gaudium et spes (Vui mừng và hy vọng) và trong Sắc lệnh Ad gentes (Đến muôn dân).

(42) Xem Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, Ad gentes, sự sống. 5, 11-12.

(43) Xem 2C 4,5, Th. Augustinô, Sermo XLVI, ge Pastoribus ; CCL XLI, tt. 529-530.

(44) Lc 10,16 ; xem Th. Gypriano, Ge unitate Ecclesiae, 14; PPL 4,527 ; Th. Augustinô, Enarrat. 88, sermo 2,14; PL 37, 1140 ; Th. Gio-an Kim Khẩu, Hom. ge capto Eutropio , 6 ; PG 52, 402.

(46) xem thêm 2Cr 5,17 ; Ga 6,15.

Đổi mới loài người

18. Tin Mừng hóa, đối với Giáo hội, chính là mang Tin Mừng đến mọi môi trường nhân loại và, nhờ sự tiếp xúc này, làm biến đổi từ bên trong, đổi mới chính nhân loại: “Này đây, Ta làm mới mọi sự” (Kh 21,5) (46). nhưng không có nhân loại mới nếu trước tiên không có những con người mới, bằng cái mới của Bí tích Thánh tẩy (Rm 6, 4) và bằng đời sống theo Tin Mừng (Ep 4,23-24; Cr 3,9-10). Như vậy mục đích việc Tin Mừng hóa chính là sự thay đổi bên trong kia, và nếu phải trình bày tóm gọn thì có thể nói đúng đắn hơn cả rằng Giáo Hội Tin Mừng hóa là khi chỉ nhờ sức thiêng của sứ điệp mình công bố (Rm 1,16 ; 1Cr 1,18 ; 2,4). Giáo Hội tìm cách hoán cải cùng lúc lương tâm cá nhân và tập thể của con người, sinh hoạt trong đó con người đang dấn thân đời sống và các môi trường cụ thể của họ.

Và những khu vực nhân sinh

19. Những khu vực nhân sinh được biến đổi: đối với Giáo Hội, vấn đề không phải chỉ là giảng truyền Tin Mừng ở những phần địa lý ngày càng rộng hơn hoặc cho những đám dân ngày càng đông đảo nhưng cũng là đụng tới, và như thể dùng sức mạnh của Tin Mừng mà đảo lộn những tiêu chuẩn phán đoán, những giá trị quyết định, những điểm chú tâm, những đường lối tư tưởng, những nguồn cảm hứng và những mẫu mực sống của nhân loại, khi chúng ngược lại với lời Thiên Chúa và ý định cứu độ.

Tin Mừng hóa các nền văn hóa

10. Chúng ta có thể diễn tả tất cả những điều ấy như sau: cần phải Tin Mừng hóa văn hóa và các nền văn hóa của con người theo nghĩa phong phú và rộng rãi như trong Gaudium et Spes (50) nghĩa là luôn luôn đi từ con người và luôn luôn lại quy về những tương quan giữa người với người và người với Thiên Chúa. Và Tin Mừng hóa như thế một cách sống động sâu xa cho tới tận gốc rễ, chứ không phải một cách trang trí như lớp sơn bóng ngoài mặt.

 (50) Vui mừng và Hy vọng, s. 53.

Tin Mừng, và cả việc Tin Mừng hóa nữa, chắc chắn không đồng hóa với văn hóa và độc lập đối với các nền văn hóa. Tuy nhiên, Triều đại mà Tin Mừng loan báo được sống bởi những con người gắn liền với một nền văn hóa, và việc xây dựng Nước Trời không thể không vay mượn những yếu tố của văn hóa và các nền văn hóa loài người. Độc lập đối với các nền văn hóa, Tin Mừng và Tin Mừng hóa không nhất thiết phải xung khắc với nhau nhưng lại có thể thấm vào tất cả các nền văn hóa mà không lệ thuộc một nền văn hóa nào.

Sự đoạn giao giữa Tin Mừng và văn hóa hẳn là một bi kịch của thời đại chúng ta cũng như đã từng là bi kịch của một số thời đại khác. Vì vậy cần phải dồn mọi nỗ lực để bạo dạn Tin Mừng hóa văn hóa, hay đúng hơn, các nền văn hóa. Các nền văn hóa phải được cải hóa nhờ tiếp xúc với Tin Mừng. Nhưng sẽ không có sự tiếp xúc này nếu Tin Mừng không được công bố.

Đời sống làm chứng là quan trọng hơn cả.

21. Tin Mừng trước tiên phải được công bố bằng cách làm chứng. Cứ xem một Ki-tô hữu hay một nhóm Ki-tô hữu đang sống giữa một cộng đồng những con người  mà tỏ ra khả năng thông cảm và đón nhận, thái độ chia sẻ cuộc đời và vận mệnh với người khác, tình liên đới trong các nỗ lực chung nhằm tất cả những gì cao thượng và tốt lành. Cứ xem họ lại còn chiếu tỏa, một cách thật đơn giản và hồn nhiên, lòng họ tin nơi những giá trị vượt xa những giá trị thông thường, và trông cậy vào những gì người ta không thấy, không dám mơ tưởng. Bằng cách làm chứng không lời như thế, những Ki-tô hữu kia  gợi lên những câu hỏi không tránh được trong tâm trí những ai nhìn thấy họ sống: Tại sao họ như thế ? Tại sao họ sống như thế ? Cái gì  – hay ai – đang thôi thúc họ ? Tại sao họ ở giữa chúng ta? Làm chứng như thế đã là công bố Tin Mừng một cách thầm lặng mà rất mạnh mẽ và hiệu quả. Đó là một cử chỉ khai mào cho việc Tin Mừng hóa. Những câu hỏi trên có lẽ sẽ là những câu hỏi đầu tiên mà những người ngoài Ki-tô giáo tự đặt ra cho mình, dù họ là những kẻ chưa từng được loan báo về Đức Ki-tô, hoặc những kẻ đã được thanh tẩy nhưng không giữ đạo, hoặc những kẻ sống trong môi trường Ki-tô giáo mà lại theo những nguyên tắc không có chút gì là Ki-tô  giáo, hoặc những kẻ đang khổ sở tìm kiếm một cái gì hay Một Ai mà họ chỉ đoán chừng mà không biết gọi tên. Rồi sẽ còn nổi lên những câu hỏi khác, sâu xa hơn và đòi hỏi dấn thân hơn, vẫn do đời sống làm chứng gây ra, một đời sống làm chứng bao hàm sự hiện diện, chia sẻ, liên đới và là một yếu tố chính yếu, thường cũng là yếu tố trước hết, trong việc Tin Mừng hóa (51).

Mọi Ki-tô hữu đều được kêu gọi sống làm chứng như thế, và về mặt đó, họ có thể là những người Tin Mừng hóa thực sự. Chúng tôi đặc biệt nghĩ đến trách nhiệm của các người di cư trong những xứ tiếp nhận họ.

Cần phải loan báo rõ ràng

22. Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ, bởi vì đời sống làm chứng có tốt đẹp đến đâu đi nữa thì về lâu về dài cũng tỏ ra bất lực nếu không được soi sáng, biện minh – Thánh Phê-rô đã gọi là “biện bạch về niềm hy vọng” (1Pr 3,15) – nói rõ ra rằng việc loan báo tỏ tường, không mập mờ về Chúa Giê-su. Vậy Tin Mừng đã được công bố về đời sống làm chứng, sớm muộn phải được công bố bằng Lời ban sự sống. Không có Tin Mừng hóa thực sự nêu danh tánh, lời giảng dạy, đời sống, lời hứa, Triều đại, mầu nhiệm của Đức Giê-su Na-da-rét Con Thiên Chúa không được loan báo.

 (51) Tertullien, Apologeticum, 39 ; CCLI, tt. 150-153 ; Minucius Félix, Octavius, 9 và 31.

Lịch sử Giáo Hội, từ bài giảng của thánh Phê-rô sáng ngày lễ Hiện Xuông, pha lẫn và đồng hóa của việc loan báo này. Vào mỗi giai đoạn mới của lịch sử nhân loại, Giáo Hội vốn không ngừng nôn nóng với việc Tin Mừng hóa, nên chỉ có một mối ám ảnh là: phải ra đi loan báo mầu nhiệm Đức Giê-su ? Dùng ngôn ngữ nào để loan báo mầu nhiệm này ? Làm thế nào để mầu nhiệm này vang lên và tới tai tất cả những ai phải nghe ? Việc loan báo này – loan tin (kérygma), giảng truyền hay huấn giáo – chiếm một chỗ quan trọng trong việc Tin Mừng hóa đến nỗi thường khi trở nên đồng nghĩa với việc này. Tuy nhiên nó chỉ là một khía cạnh của việc Tin Mừng hóa thôi.

Gắn bó bằng cả cuộc sống và với cộng đồng

23. Lời loan báo, thật vậy, chỉ đạt tới hết kích thước của nó là khi nó được nghe, được tiếp nhận, được hấp thụ và khi nó khiến cho kẻ đón nhận nó gắn bó lòng dạ với nó. Gắn bó với những chân lý mà Chúa đã nhân từ mặc khải, đành rồi. Nhưng hơn nữa, gắn bó với chương trình sống – một cuộc sống từ nay đã được biến đổi – mà Chúa đề nghị. Tắt một lời, gắn bó với Triều đại, nghĩa là với “thế giới mới”, với tình huống mới, với cách hiện hữu mới, cách sống mới, cách sống với nhau mới mà Tin Mừng mở ra. Gắn bó như thế thì  không thể nào còn là trừu tượng và thoát xác nhưng được tỏ ra cách cụ thể bằng một cuộc gia nhập, sờ được, thấy được vào một cộng đồng tín hữu. Như vậy, những kẻ đã biến đổi cuộc sống thì gia  nhập vào một cộng đồng mà chính cộng đồng này là một dấu chỉ sự biến đổi,  dấu chỉ đời sống mới: đó là Giáo Hội huyền tích thấy được của ơn cứu độ (53).

(53) Cộng đồng Vatican II, Hiến chế tín ký về Giáo Hội, ss. 1,9 và 48 ; Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới ngày nay, ss. 42 và 45, Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo vủa Giáo Hội, ss. 1và 5.

Nhưng đến lượt chính việc gia nhập vào cộng đồng Giáo Hội lại sẽ được bày tỏ bằng nhiều dấu chỉ khác kéo dài mà mở rộng dấu chỉ Giáo Hội. Theo động lực Tin Mừng hóa, kẻ tiếp nhận Tin Mừng như Lời cứu độ (Rm, 16 ; 1Cr 1,18) thì bình thường vẫn diễn đạt Tin Mừng bằng những cử chỉ có tính cách huyền tích này: gắn bó với Giáo Hội, tiếp nhận các huyền tích ban ân sủng để bầy tỏ và nâng đỡ sự gắn bó ấy.

 Đưa tới một nỗ lực tông đồ mới.

24. Cuối cùng, kẻ đã được Tin Mừng hóa đến lượt mình lại ra sức Tin Mừng hóa. Đó chính là chỗ trắc nghiệm tính cách chân thật, là đá thử vàng của việc Tin Mừng hóa : không thể tưởng được một con người đã tiếp nhận Lời và đã hiến thân cho Triều đại mà đến lượt mình lại không thể trở nên một kẻ làm chứng và loan báo.

Để kết thúc những nhận định này về ý nghĩa của việc Tin Mừng hóa còn phải nói lên một nhận xét cuối cùng mà chúng tôi nghĩ là có thể soi sáng cho những suy tư tiếp theo.

Tin Mừng hóa, như chúng tôi đã nói, là một công việc phức tạp gồm nhiều yếu tố khác nhau: canh tân loài người, làm chứng, loan báo rõ rệt, gắn bó lòng dạ, gia nhập vào cộng đồng, tiếp nhận các dấu chỉ, bắt tay vào việc tông đồ. Những yếu tố này có thể xem ra tương phản với nhau, hay còn loại trừ nhau nữa. Nhưng thật ra chúng bổ túc cho nhau và làm phong phú cho nhau. Phải luôn luôn xét tới mỗi yếu tố trong sự hội nhập của nó vào các yếu tố khác. Gía trị của Thượng hội đồng vừa qua là ở chỗ đã không ngừng mời gọi chúng ta kết hợp các yếu tố ấy lại thay vì đối lập chúng với nhau để thấu hiểu đầy đủ về hoạt động Tin Mừng hóa của Giáo Hội.

Bây giờ chúng tôi muốn trình bày chính cái nhìn toàn bộ đó bằng cách xét tới nội dung và các phương thế của việc Tin Mừng hóa, bằng cách xác định phải loan báo Tin Mừng cho ai và ngày nay ai có nhiệm vụ làm việc ấy.

III. NỘI DUNG VIỆC TIN MỪNG HÓA

Nội dung chính yếu và những yếu tố phụ

25. Trong sứ điệp mà Giáo Hội loan báo chắc chắn có nhiều yếu tố phụ thuộc. Việc trình bày chúng tùy thuộc rất nhiều vào những hoàn cảnh đổi thay. Chúng cũng thay đổi. Nhưng có một nội dung chính yếu, một bản chất sống động mà người ta không thể sửa đổi hay bỏ qua không nói tới mà không phương hại trầm trọng đến bản chất của chính việc Tin Mừng hóa.

Làm chứng cho lòng yêu thương của Chúa Cha

26. Không phải là thừa khi nhắc lại điều này. Tin Mừng hóa trước tiên là làm chứng, một cách giản dị và trực tiếp, về Thiên Chúa đã được Đức Giê-su Ki-tô mặc khải trong Thánh Thần. Làm chứng rằng trong con của Người, Người đã yêu mến thế giới ; rằng trong Ngôi Lời nhập thể Ngài đã cho vạn vật hiện hữu và kêu gọi mọi người đến cuộc sống đời đời. Đối với nhiều người mà chúng ta làm chứng có thể chính là vị Thiên Chúa vô danh (Cv17,22-23) mà họ tôn thờ, nhưng không biết tên hay họ tìm kiếm bằng một tiếng gọi thầm kín trong tim gan khi họ có kinh nghiệm về sự trống rỗng của mọi thần tượng. Nhưng làm chứng như vậy là Tin Mừng hóa trọn nghĩa khi tỏ rõ rằng, đối với con người, tạo hóa không phải là một sức mạnh vô danh và xa lạ: Ngài là Cha. “Chúng ta được gọi là con cái Thiên Chúa và thực sự chúng ta là thế” (1Ga 3,1 ; Rm 8,14-17) và vì vậy chúng ta là anh em với nhau trong Thiên Chúa.

Trọng tâm sứ điệp : Ơn cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô

27. Việc Tin Mừng hóa cũng luôn luôn bao hàm một sự công bố minh bạch rằng trong Đức Giê-su Ki-tô, con Thiên Chúa làm người, chịu chết và sống lại, ơn cứu độ được ban cho mọi người, như tặng phẩm của ân sủng và lòng nhân lành của Thiên Chúa (57). Sự công bố như thế, vừa là nền tảng, vừa là trung tâm và chóp đỉnh của động lực Tin Mừng hóa. Và đây không phải là một thứ cứu độ nội tại, chỉ vừa tầm với những nhu cầu vật chất hay tinh thần mà nằm gọn trong khuôn khổ cuộc sống trần thế và đồng hóa hoàn toàn với những ước muốn, những hy vọng, những công việc và những cuộc đấu tranh trần thế. Đây là một ơn cứu độ vượt qua mọi giới hạn để được hoàn thành trong sự hiệp thông với Đấng duy nhất tuyệt đối là Thiên Chúa: Ơn cứu độ siêu việt, cánh chung này đã hẳn là bắt đầu ở đời này, nhưng lại được hoàn thành trong vĩnh cữu.

Dưới dấu chỉ của hy vọng

28. Vì thế, việc Tin Mừng hóa không thể không bao hàm sự tiên báo về một thế giới bên kia, vì đó là hướng sâu xa và quyết định của con người, vừa liên tục vừa gián đoạn với hoàn cảnh hiện tại; bên kia thời gian và lịch sử, bên kia thực tại của thế giới này mà bộ mặt đang qua đi và bên kia mọi sự của thế giới này mà một kích thước ẩn khuất ngày kia sẽ được biểu lộ; bên kia chính con người mà vận mệnh đích thực không chỉ ở khuôn mặt trần thế, nhưng sẽ được mặc khải trong cuộc sống mai sau (58).

(57) Ep 2,8 ; Rm 1,16. xem thánh bộ giáo thuyết đức tin, Gecleration ad figemtuondam…(21/2/1972).

 (58) 1Ga 3,2; Rm 8,29 ; Phương pháp 3,20-21. xem Công đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, ss.48-51.

 Vậy việc Tin Mừng hóa cũng bao hàm giảng truyền niềm hy vọng vào các lời Chúa  hứa trong giao ước mới nơi Đức Giê-su Ki-tô;  giảng truyền tình thương yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta và tình thương yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa, giảng truyền tình thương yêu huynh đệ với mọi người là khả năng hiến tặng và tha thứ, từ bỏ, giúp đỡ anh em, phát xuất từ tình thương yêu của Thiên Chúa, tình thương yêu này là nòng cốt của Tin Mừng. Tin Mừng hóa bao hàm sự giảng truyền về mầu nhiệm sự ác và việc tích cực tìm kiếm sự thiện. Tin Mừng hóa cũng bao hàm sự giảng truyền luôn luôn khẩn thiết về cuộc tìm kiếm chính Thiên Chúa bằng cách cầu nguyện, nhất là cầu nguyện mà thờ lạy và tạ ơn, nhưng cũng bằng cách hiệp thông với Giáo Hội của Đức Giê-su Ki-tô là dấu chỉ hữu hình cho việc gặp gỡ với Thiên Chúa. Sự hiệp thông này lại được diễn tả qua các huyền tích là những dấu chỉ khác của Đức Ki-tô đang sống và hoạt động trong Giáo Hội. Sống các huyền tích như thế để việc cử hành đạt tới chỗ thành toàn thực sự, điều đó không cản trở hoặc làm sai lạc việc Tin Mừng hóa như một số người tưởng, nhưng là đem lại cho nó tất cả tầm sâu rộng. Vì xa hơn giảng truyền một sứ điệp, toàn thể việc Tin Mừng hóa nhằm xây dựng Giáo Hội, mà Giáo Hội không thể tồn tại nếu không hô hấp bằng sinh khí các huyền tích với tuyệt đỉnh là thánh thể.

Sứ điệp liên quan đến tất cả đời sống

29. Nhưng việc Tin Mừng hóa sẽ không trọn vẹn nếu không để ý tới những quan hệ cụ thể và thường xuyên giữa Tin Mừng và đời sống, cá nhân hay xã hội, của con người. Vì thế việc Tin Mừng hóa bao gồm một sứ điệp rõ rệt, thích nghi với những hoàn cảnh khác nhau và với tình hình hiện tại, một sứ điệp như thế về các quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả mọi người, về đời sống gia đình là điều kiện cần thiết để mỗi con người có cơ triển nở, về đời sống chung trong xã hội, về đời sống quốc tế, về hòa bình, công bình và phát triển; một sứ điệp đặc biệt mạnh mẽ trong thời đại chúng ta về vấn đề giải phóng.

Sứ điệp giải phóng

30. Ai cũng biết tại Thượng hội đồng vừa qua, nhiều Giám mục thuộc mọi lục địa, nhất là các Giám mục thuộc thế giới thứ ba, đã nói như thế nào về vấn đề giải phóng, và trong cương vị mục vụ đã làm vang lên tiếng nói của hàng triệu con cái Giáo Hội thuộc các dân tộc liên hệ. Đây là dân tộc đã dấn thân hết sức mình vào nỗ lực và cuộc chiến đấu để vượt thoát tất cả những gì đang buộc họ phải ở bên lề cuộc sống : đói kém, bệnh kinh niên, mù chữ, nghèo túng, những bất công trong những quan hệ quốc tế và đặc biệt là trong các trao đổi mua bán, những hoàn cảnh thực dân mới về kinh tế và văn hóa có khi còn tàn nhẫn hơn chế độ thực dân cũ về chính trị. Giáo Hội, như các Giám mục đã lặp lại, có nghĩa vụ loan báo công cuộc giải phóng hàng bao nhiêu triệu con người trong số đó rất nhiều người là con cái Giáo Hội ; Giáo Hội có nghĩa vụ giúp cho công cuộc giải phóng này khởi phát, làm chứng cho nó, và làm cho nó được toàn diện. Đó không phải là điều  xa lạ với việc Tin Mừng hóa.

Quan hệ thiết yếu với việc thăng tiến con người

31. Thật vậy, giữa việc Tin Mừng hóa và việc thăng tiến con người – phát triển, giải phóng – vốn có những mối quan hệ sâu xa. Những quan hệ có tính cách nhân văn, bởi vì con người cần được Tin Mừng hóa không phải là một hữu thể trừu tượng mà gắn liền với những vấn đề xã hội và kinh tế. Những quan hệ có tính cách thần học, vì không thể tách rời bình diện tạo thành với bình diện Cứu chuộc, mà bình diện này đụng tới hoàn cảnh cụ thể trong đó phải đánh dẹp sự bất công và phải khôi phục công lý. Quan hệ có tính cách Tin Mừng hơn cả là tính cách bác ái. Thật vậy, làm sao có thể công bố lịch truyền mới mà không xúc tiến trong công lý và hòa bình sự phát triển thực sự và đích thực của con người ? Chính chúng tôi đã để tâm lưu ý đến điều này khi nhắc lại và không thể nào chấp nhận “rằng công cuộc Tin Mừng hóa có thể hay phải bỏ qua các vấn đề cực kỳ quan trọng và sôi nổi biết bao hiện nay liên quan đến công lý, giải phóng phát triển và hòa bình trên thế giới. Giả như có bỏ qua như thế thì sẽ là không biết gì đến giáo lý Tin Mừng về lòng yêu thương đối với đồng loại đang đau khổ hay đang thiếu thốn”(61).

Thế rồi chúng tôi rất vui mừng được nghe,  chính những tiếng nói trong thời gian họp Thượng hội đồng đã nhiệt thành, thông minh và can đảm đề cập đến đề tài nóng bỏng kia lại cũng đã cống hiến các nguyên tắc soi sáng để thấu triệt tầm mức và ý nghĩa sâu xa của cuộc giải phóng như Đức Giê-su Na-da-rét đã loan báo và thực hiện, và như Giáo Hội vẫn giảng truyền.

Không giản lược cũng không mập mờ

32. Quả thực chúng ta không được tự che dấu với mình là có nhiều Ki-tô hữu, vì quảng đại và nhạy cảm, đối với những điểm bi đát thuộc vấn đề giải phóng, và vì muốn đưa Giáo Hội vào nỗ lực giải phóng, đã thường bị cám dỗ giản lược sứ mệnh Giáo Hội vào những kích thước của một dự phóng thuần túy trần thế, giản lược các mục đích của Giáo Hội vào một mục tiêu nhân loại, giản lược ơn cứu độ mà Giáo Hội là sứ giả và là huyền tích vào một sung túc vật chất, giản lược sinh hoạt Giáo Hội vào những sáng kiến thuộc lãnh vực chính trị hay xã hội mà quên đi mọi mối quan tâm thiêng liêng và tôn giáo. Nhưng nếu giản lược như vậy thì Giáo Hội sẽ mất ý nghĩa căn bản của mình.

(61) Diễn từ khai mạc Đại hội lần thứ ba Thượng hội đồng các Giám mục, 27/9/1974. AAS 66 (1974), t.562.

Sứ điệp giải phóng của Giáo Hội sẽ mất hết tính cách độc đáo và cuối cùng sẽ dễ bị các ý thức hệ và đảng phái chính trị lũng đoạn và thao túng. Giáo Hội chẳng còn uy tín để như thay mặt Thiên Chúa mà loan báo sự giải phóng. Vì thế vẫn trong diễn từ khai mạc Đại Hội lần thứ ba Thượng hội đồng các Giám mục chúng tôi đã muốn nhấn mạnh là cần phải xác định lại rõ ràmg mục đích đặc biệt tôn giáo của việc Tin Mừng hóa. Việc Tin Mừng hóa này sẽ mất lý do tồn tại nếu nó lìa xa trục tôn giáo hướng dẫn nó: đó là Triều đại Thiên Chúa trước hết mọi cái khác, hiểu theo ý nghĩa thần học đầy đủ” (62).

Giải phóng theo ý nghĩa Tin Mừng

33. Về sự giải phóng mà việc Tin Mừng hóa loan báo và ra sức thực hiện thì đúng hơn phải nói rằng:

Sự giải phóng đó không thể chỉ thu gọn lại trong kích thước kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa hạn hẹp, nhưng nó phải nhắm tới con người toàn diện, trong toàn bộ các kích thước của con người, thậm chí và kể cả trong hướng mở ra về phía tuyệt đối, ngay cả về phía tuyệt  đối của Thiên Chúa.

Sự giải phóng bởi vậy được gắn liền với một quan niệm nào đó về con người, với một nhân sinh quan mà nó không bao giờ được hy sinh cho những đòi hỏi của một chiến lược nào, của một thực hành hay một sự hữu hiệu ngắn hạn nào.

Có trục là Triều đại Thiên Chúa

34. Cũng vì thế, khi truyền giảng sự giải phóng và liên kết với những ai hoạt động và chịu gian khổ cho nó, và tuy không chấp nhận giới hạn sứ mệnh của mình vào nguyên phạm vi tôn giáo mà không quan tâm gì đến những vấn đề trần thế của con người, Giáo Hội vẫn xác định lại rằng sứ mệnh thiêng liêng là trước hết đối với mình. Giáo Hội từ chối thay thế việc loan báo Triều đại (Thiên Chúa ) bằng việc công bố những cuộc giải phóng của con người. Và Giáo Hội công bố rằng ngay cả phần đóng góp của mình vào việc giải phóng sẽ không đầy đủ nếu Giáo Hội bỏ qua việc loan báo ơn cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô.

Và cái nhìn của Tin Mừng về con người

35. Giáo Hội nối kết nhưng không bao giờ đồng hóa công cuộc giải phóng của con người với ơn cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô, vì Giáo Hội vốn chờ mặc khải, kinh nghiệm lịch sử và suy nghĩ trong đức tin mà biết rằng không phải bất kỳ một khái niệm giải phóng nào cũng nhất thiết phù hợp và đi đôi được với cái nhìn của Tin Mừng về con người, về sự vật và về các biến cố, Giáo Hội biết rằng không phải chỉ thực hiện công cuộc giải phóng, tạo được xung túc và phát triển là đủ để cho Triều đại Thiên Chúa đến (…).

Bao hàm một sự trở lại cần thiết

36. Đã hẳn Giáo Hội lấy làm điều quan trọng và khẩn cấp là phải xây dựng những cơ cấu nhân đạo hơn, công bình hơn, tôn trọng các quyền lợi của con người hơn, ít áp bức và ít nô lệ hóa hơn. Nhưng Giáo Hội cũng ý thức rằng những cơ cấu dù tốt đẹp nhất, những hệ thống dù được quan niệm đúng đắn hơn cả thì vẫn sớm trở thành bất nhân nếu những khuynh hướng bất nhân của lòng dạ con người không được lành mạnh hóa, nếu lòng dạ và cái nhìn của những con người sống trong các cơ cấu ấy hay điều hành chúng không hoán cải.

(63) Diễn từ cho các “Campesinos” (23/8/1968), AAS 60 (1968), t. 623.

(64) Diễn từ đọc tại Bogota, nhân “ngày Phát triển” (23/8/1968), AAS 60 (1968), t. 627 ; xem Thánh Augustinô, Thư 229, 2: PL 33, 1020.

Vấn đề bạo lực

Phần đóng góp đặc biệt của Giáo Hội

38. Sau khi đã nói lên điều ấy, chúng tôi vui mừng thấy Giáo Hội luôn ý thức sắc bén hơn là mình có phong cách đặc biệt, mang tính chất Tin Mừng, để góp phần vào công cuộc giải phóng loài người. Và Giáo Hội làm gì ? Giáo Hội ngày càng tìm cách gầy tạo nhiều Ki-tô hữu hiến thân cho công cuộc giải phóng người khác. Giáo Hội đem lại cho các Ki-tô hữu “giải phóng” này sự cổ xúy của đức tin, một lý do hành động là tình thương yêu huynh đệ, một giáo huấn về xã hội. Giáo huấn này, người Ki-tô hữu chân chính không thể không chú ý tới nó, và phải lấy nó làm nền tảng cho sự khôn ngoan và kinh nghiệm của mình để rồi diễn đạt nó một cách cụ thể bằng các loại hành động, tham dự và dấn thân. Tất cả những điều ấy mà không lẫn lộn với những thái độ chiến thuật hay với việc phục vụ một hệ thống chính trị nào thì mới tiêu biểu được cho đà sống của người Ki-tô hữu dấn thân. Giáo Hội cố gắng luôn luôn đặt cuộc chiến đấu giải phóng của người Ki-tô hữu vào bên trong dự định tổng quát quy về ơn cứu độ mà chính Giáo Hội vẫn loan báo.

Điều chúng tôi vừa nhắc lại ở đây đã từng nhiều lần nổi hẳn lên trong các cuộc thảo luận của Thượng hội đồng. Vả lại chúng tôi đã muốn dành cho đề tài này một vài lời soi sáng trong diễn từ chúng tôi đọc trước các Nghị phụ để kết thúc Đại hội (65).

Phải hy vọng rằng tất cả các nhận định trên sẽ giúp tránh khỏi tính cách mơ hồ rất nhiều khi bao quanh từ “giải phóng” trong các ý thức hệ, các hệ thống hay các nhóm chính trị. Sự giải phóng mà công cuộc Tin Mừng hóa công bố và chuẩn bị là sự giải phóng mà chính Đức Ki-tô đã loan báo cho con người bằng việc hy sinh tế hiến của người.

Tự do tôn giáo

39. Sự giải phóng đúng đắn này gắn liền với công cuộc Tin Mừng hóa nhằm chính việc thực hiện những cơ cấu bảo vệ quyền tự do của con người nên không thể tách biệt với nhu cầu bảo đảm mọi quyền căn bản của con người, trong số đó tự do tôn giáo giữ một chỗ quan trọng vào bậc nhất. Mới đây chúng tôi đã nói tới tính cách thời sự của vấn đề này, khi nêu lên rằng “Ngày nay vẫn còn có biết bao Ki-tô hữu bị bóp nghẹt bằng một sự áp bức có hệ thống bởi vì họ là người Ki-tô hữu, bởi vì họ là người công giáo ! Bi kịch của lòng trung thành với Đức Ki-tô và của sự tự do tôn giáo đang tiếp diễn, mặc dù nó được ngụy trang duới những lời tuyên bố khẳng định về các quyền của con người và của xã hội” (66)

IV. CÁC ĐƯỜNG LỐI TIN MỪNG HÓA

Tìm những phương kế thích hợp

40. Tầm quan trọng hiển nhiên của nội dung việc Tin Mừng hóa không được che lấp tầm quan trọng của những đường lối và những phương kế.

“Tin Mừng hóa thế nào” vẫn còn là vấn đề luôn luôn hiện thời, bởi vì các cách thức Tin Mừng hóa thay đổi tùy theo những hoàn cảnh khác nhau về thời gian, không gian, văn hóa, và do đó chúng như thách thức khả năng khám phá và thích ứng của chúng ta.

Đặc biệt phần của chúng ta, những chủ chăn trong  Giáo  Hội, là  phải  nghĩ  tới việc  tạo lại những phương thức thích hợp nhất và hiệu quả nhất để truyền thông sứ điệp Tin Mừng cho người thời đại chúng ta, tạo lại một cách mạnh dạn và khôn ngoan mà vẫn hoàn toàn trung thành với nội dung sứ điệp. Về vấn đề này, chúng tôi chỉ cần nhắc lại một vài đường hướng có tầm quan trọng căn bản vì lý do này hay lý do khác.

(65) Diễn từ bế mạc Đại hội lần thứ ba Thượng hội đồng các Giám mục (26/10/1974) AAS 66 (1974), t. 673.

(66) Diễn từ nhân buổi tiếp kiến  chung ngày 15/10/1975: xem Des. Romano 17/10/1975, t. 1.

(67) Diễn từ cho các thành phần của Hội đồng  các giáo dân 2/10/1974: AAS 66 (1974), t. 568.

Làm chứng bằng đời sống

41. Và trước tiên, tuy không lặp lại tất cả những gì chúng tôi đã từng nhắc tới trên kia, cũng nên nhấn mạnh điều này: đối với Giáo Hội phương kế Tin Mừng hóa thứ nhất vẫnlà làm chứng bằng một đời sống Ki-tô hữu đích thực là được phó thác cho Thiên Chúa trong một niềm hiệp thông không gì cắt đứt được và đồng thời cũnglà hiện thân cho tha nhân bằng một lòng nhiệt thành không giới hạn. Mới đây chúng tôi đã nói với một nhóm giáo dân rằng: “Người đương thời sẵn sàng nghe những nhân chứng hơn là những thày dạy, hoặc nếu họ có nghe các thày dạy, thì bởi vì chính các thày dạy cũng là những nhân chứng” (67).

Thánh Phê-rô đã diễn tả rõ rệt điều này khi ngài gợi lên cảnh tượng một đời sống trong sạch và biết kính nể, “lẳng lặng không lời mà thu phục được cả những ai không chịu tin ở Lời” (1Pr 3,1). Như vậy chính là bằng cách mình cư xử và sống mà Giáo Hội trước tiên sẽ Tin Mừng hóa thế giới, tức là bằng cách làm chứng mà sống trung thành với Chúa Giê-su, sống nghèo khổ và không vướng mắc, sống tự do đối với các quyền lực thế gian,  tắt một lời, sống thánh thiện.

Một lời giảng truyền sống động

42. Rồi không phải là thừa khi nhấn mạnh đến tầm mức và sự cần thiết của việc giảng truyền. “Làm sao tin Đấng mà người ta không được nghe? Làm sao mà nghe nếu không có người rao giảng ?(…). Vì tin là do bởi đã được nghe, còn nghe là nhờ ( việc giảng truyền) lời Đức Ki-tô” (Rm 10,14-17). Quy luật này ngày xưa đã được tông đồ Phao-lô đề ra, ngày nay vẫn còn giữ nguyên gía trị.

Phải, giảng truyền tức là dùng lời nói công bố một sứ điệp, vẫn luôn luôn cần thiết. Chúng ta thừa biết rằng con người hiện đại đã chán chê ngôn từ nên thường tỏra mệt mỏi khi nghe và, còn tệ hơn nữa, tỏ ra như đã được miễn nhiễm đối với lời nói. Chúng ta cũng biết ý kiến của nhiều nhà tâm lý học và xã hội học: họ khẳng định rằng con người hiện đại đã vượt quá nền văn minh của lời nói từ nay vô hiệu và vô ích, và hiện đang sống trong nền văn minh của hình ảnh. Những sự kiện đó hẳn phải thúc đẩy chúng ta vận dụng các phương tiện hiện đại của nền văn minh này vào việc chuyển đạt sứ điệp Tin Mừng. Vả lại nhiều cố gắng rất có gía trị đã được thực hiện trong đường hướng này. Chúng tôi chỉ có thể ca ngợi và khuyến khích những cố gắng đó phát triển thêm nữa. Mặc dù ngày nay biết bao nhiêu ngôn từ trống rỗng khiến cho thiên hạ mệt mỏi và mặc dù có rất nhiều hình thức truyền thông khác hợp với hiện thời hơn, tuy nhiên không được vì thế mà coi nhẹ hiệu lực vẫn còn mãi của lời nói hay mất tin tưởng ở lời nói. Lời nói mãi mãi còn hợp với hiện thời, nhất là khi nó lại mang quyền phép của Thiên Chúa (1Cr 2,1-5). Bởi vậy, phương châm của thánh Phao-lô cũng vẫn còn hợp với hiện thời : “Tin là do bởi đã được nghe” (Rm 10,17): Chính Lời đã được nghe dẫn tới đức tin.

Phụng vụ Lời

43. Việc giảng truyền để Tin Mừng hóa này có nhiều hình thức mà lòng nhiệt thành sẽ xui khiến sáng tạo lại mãi hầu như vô tận. Quả thật, có vô số những biến cố đời sống và những hoàn cảnh con người đem lại dịp tốt để loan báo một cách ý tứ nhưng sâu đậm những gì Chúa muốn nói trong tình huống này. Chỉ nhậy cảm thiêng liêng thực sự là đủ để đọc được sứ điệp của Thiên Chúa trong các biến cố. Tuy nhiên, chính lúc mà phụng vụ được Công đồng canh tân đã đề cao gía trị của “phụng vụ Lời”, người ta sẽ lầm nhiều  nếu không coi bài giảng giải Tin Mừng như một dụng cụ có gía trị và rất thích hợp để Tin Mừng hóa. Dĩ nhiên phải hiểu biết và lợi dụng những đòi hỏi và khả năng của bài giảng giải Tin Mừng để nó đạt được tất cả hiệu quả mục vụ của nó. Nhưng trước hết phải xác tín điều ấy và đem hết lòng yêu mến vào đó. Được lồng vào một cách đặc biệt trong việc cử hành Thánh Thể và nhận được từ việc cử hành này một sức mạnh đặc biệt, việc giảng truyền kia chắc chắn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc Tin Mừng hóa, theo mức độ nó nói lên đức tin sâu xa và nó đượm lòng yêu mến của thừa tác viên đứng giảng. Họp nhau thành một Giáo Hội Vượt qua để cử hành lễ mừng Đức Chúa hiện diện giữa họ, các tín hữu chờ đợi nhiều ở việc giảng truyền kia và trong thực tế vẫn được nó đem lại cho nhiều lợi ích, miễn là nó giản dị, sáng sủa, trực tiếp, nó gắn bó sâu xa với lời dạy của Tin Mừng và trung thành với giáo huấn của Giáo Hội ; nó sinh động nhờ một nhiệt tình tông đồ quân bình phát xuất từ tính chất riêng của mình, nó đầy lòng trông cậy, có sức nuôi dưỡng đức tin, làm nẩy sinh hoà bình và hợp nhất. Nhiều cộng đồng họ đạo hoặc cộng đồng khác vẫn sống và được củng cố là nhờ bài giảng giải Tin Mừng mỗi ngày Chúa nhật, nếu nó có được những phẩm tính trên.

Nên thêm rằng, cũng nhờ cuộc canh tân phụng vụ, khi cử hành Thánh Thể không phải là lúc duy nhất thích hợp để có bài giảng giải Tin Mừng. Bài giảng này còn có chỗ của nó và không thể bị xao nhãng trong việc cử hành mọi huyền tích hay cả trong những nghi thức Á-phụng-vụ, trong khuôn khổ những cuộc hội họp giữa các tín hữu. Bao giờ nó cũng sẽ là một cơ hội quý báu hơn thường để truyền đạt Lời Chúa.

Huấn giáo

44. Một đường lối không nên xao lãng trong công cuộc Tin Mừng hóa là việc dạy giáo lý. Trí khôn, nhất là trí khôn trẻ em và thiếu niên, cần nhờ tới việc dạy đạo có hệ thống để học biết những điều căn bản, nội dung sống động của chân lý mà Thiên Chúa đã muốn truyền lại cho chúng ta và Giáo Hội đã tìm cách diễn tả một cách phong phú hơn mãi suốt trong quá trình lịch sử lâu dài của mình. Việc dạy dỗ này phải nhằm giáo dục nếp sống Ki-tô hữu chứ không phải chỉ là chuyện trí thức mà thôi, đó là điều không ai chối cãi. Chắc chắn nỗ lực Tin Mừng hóa sẽ có hiệu quả hơn  nhiều trên bình diện dạy giáo lý trong nhà thờ, trong các trường học khi có thể được, trong các gia đình Ki-tô giáo, nếu các người dạy giáo lý có sẵn những tài liệu thích hợp, được cập nhật hóa một cách khôn ngoan và hiểu biết dưới quyền các Giám mục. Các phương pháp phải thích nghi với lứa tuổi, với văn hóa, với khả năng những người học, mà luôn cố ghi vào trí nhớ, trí khôn và lòng dạ các chân lý chủ yếu cần thấm nhuần trọn cả đời sống. Nhất là phải đào tạo những người dạy tốt, – giáo lý viên họ đạo, giáo viên, cha mẹ – biết lo cho mình hoàn thiện hơn mãi trong việc dạy giáo lý là một nghệ thuật cao trọng cần thiết và đòi hỏi nhiều. Lại nữa, tuy không hề xao lãng việc đào tạo trẻ em, cũng phải nhận thấy rằng hoàn cảnh hiện thời đang khiến việc dạy giáo lý cho rất nhiều thanh niên và người lớn, dưới hình thức chuẩn bị dự tòng, càng ngày càng trở thành cấp bách hơn. Đây là những người được ơn thánh tác động, đang dần dần khám phá ra khuôn mặt Đức Ki-tô và cảm thấy cần hiến thân cho Người.

Việc xử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng

45. Trong thế kỷ chúng ta được đánh dấu bằng các “mass media”, các phương tiện truyền thông xã hội, việc loan báo đầu tiên, việc huấn giáo hay việc đi sâu vào đức tin về sau đều không thể bỏ qua các phương tiện ấy, như chúng tôi đã từng nhấn mạnh.

Được đưa vào việc phục vụ Tin Mừng, chúng có khả năng mở rộng hầu như vô tận phạm vi nghe được Lời Thiên Chúa và chúng đưa Tin Mừng đến tận hàng triệu người. Giáo Hội sẽ cảm thấy mình mắc tội với Chúa nếu không xử dụng những phương tiện rất hiệu lực đó, những phương tiện vẫn được trí thông minh con người làm cho ngày càng hoàn bị hơn. Chính nhờ chúng mà Giáo Hội “công bố trên mái nhà” (Mt 10,27; Lc 12,3) sứ điệp đã được giao cho mình gìn giữ. Giáo Hội xem chúng như một tòa giảng theo kiểu hiện đại và hiệu nghiệm. Nhờ chúng mà Giáo Hội nói được với đại chúng.

Tuy nhiên việc dùng các phương tiện truyền thông xã hội để Tin Mừng hóa bao hàm một cách thức: số là sứ điệp Tin Mừng phải thông qua chúng mà đến tận các đám đông, nhưng lại vẫn phải giữ được khả năng vào thấu ý thức của từng người một, ở lại trong lòng dạ của từng người như thể có một không hai, với tất cả những gì độc đáo và cá biệt nhất, và đưa từng người một tới chỗ chấp nhận và dấn thân một cách hoàn toàn cá biệt.

Cần phải tiếp xúc từng người

46. Chính vì thế bên cạnh việc công bố Tin Mừng dưới hình thức tổng quát như thế, việc truyền đạt dưới hình thức khác, từ từng người đến từng người, vẫn có gía trị và vẫn là quan trọng. Chúa đã thường thực hành hình thức này, bằng chứng là những lần chuyện vãn với Nicôđêmô, với Da-kêu, với người phụ nữ Sa-ma-ri, với Si-mon người phái Tách biệt, chẳng hạn. Các Tông đồ cũng thế. Xét cho cùng, có chăng một cách trao Tin Mừng nào khác ngoài việc chuyển giao cho người khác kinh nghiệm bản thân của mình về đức tin? Không được vì cấp bách phải loan báo Tin Mừng cho những quần chúng đông đảo mà quên đi hình thức loan báo kia là hình thức khiến chạm tới được ý thức riêng tư của mỗi con người nhờ cảm nhận một lời thật phi thường của một con người khác. Chúng ta sẽ không làm sao nói hết những gì tốt lành mà các linh mục vẫn làm được qua huyền tích sám hối và qua cuộc đối thoại mục vụ, khi tỏ ra sẵn sàng hướng dẫn những con người cụ thể theo đường lối Tin Mừng, khuyến khích họ cố gắng, đỡ họ dậy nếu họ sa ngã, và luôn trợ giúp họ một cách sáng suốt và sẵn sàng.

Vai trò các huyền tích

47. Đằng khác, người ta sẽ không bao giờ nhấn mạnh đủ về sự kiện là công cuộc Tin Mừng hóa không chấm dứt ở việc giảng và dạy một giáo thuyết. Vì công cuộc Tin Mừng hóa phải đạt tới đời sống vừa là đời sống tự nhiên để đem lại cho nó một ý nghĩa mới mẻ, nhờ những viễn tượng Tin Mừng được mở ra cho nó, vừa là đời sống siêu nhiên vốn không chối bỏ mà chỉ thanh luyện và nâng cao đời sống tự nhiên.

Đời sống siêu nhiên này được biểu lộ một cách sống động trong bảy huyền tích và trong ân sủng cùng sự thánh thiện tỏa ra từ các huyền tích ấy.

Việc Tin Mừng hóa cũng chứng tỏ tất cả sự phong phú của mình khi thực hiện mối liên lạc thâm sâu nhất, hay nói dúng hơn, mối tương thông không bao giờ gián đoạn giữa Lời và các huyền tích. Theo một nghĩa nào đó, thật là hàm hồ khi đối lập việc Tin Mừng hóa với việc thực hành các huyền tích như thỉnh thoảng người ta vẫn làm. Thật ra, một cách ban hành các huyền tích như thế nào đó, vì không dựa vào giáo lý về các huyền tích này và vào một giáo lý toàn bộ cho vững chắc, nên rốt cuộc sẽ khiến các huyền tích mất đi phần lớn hiệu quả. Vai trò của việc Tin Mừng hóa chính là ở chỗ giáo dục làm sao trong đức tin để hướng dẫn mỗi Ki-tô hữu biết sống, – chứ không phải lãnh nhận một cách thụ động hoặc “chịu” đựng – các huyền tích như những huyền tích thực sự của đức tin.

Lòng đạo bình dân

48. Đến đây, chúng tôi đề cập tới một phương tiện của việc Tin Mừng hóa, một phương tiện không để ai có thể vô tình được. Chúng tôi muốn nói tới thực tại mà ngày nay người ta thường gọi bằng từ X“tình cảm tôn giáo bình dân”.

Tại những miền Giáo Hội được thiết lập từ nhiều thế kỷ cũng như ở nơi nào Giáo Hội đang được xây dựng, người ta nhận thấy dân chúng vẫn có những biểu lộ riêng biệt về việc tìm kiếm Thiên Chúa và đức tin. Những biểu lộ này trước đây đã bị coi là không được tinh ròng lắm, có khi còn bị khinh thị, nhưng ngày nay hầu như đâu đâu cũng trở thành đối tượng để được khám phá lại. Các Giám mục đã đi sâu vào ý nghĩa của chúng trong kỳ Thượng hội đồng vừa rồi, với một tinh thần mục vụ thiết thực và một nhiệt tình đáng kể.

Có thể nói rằng tình cảm tôn giáo bình dân chắc chắn có những giới hạn của nó. Nó thường mở ngỏ cho nhiều thứ lệch lạc về tôn giáo, kể cả những mê tín

dị đoan, xâm nhập vào. Nhiều khi nó dừng lại ở mức độ những biểu hiện văn hóa mà không làm cho gắn bó thực sự với đức tin, thậm chí nó còn có thể đưa tới sự hình thành các giáo phái và gây nguy hiểm cho cộng đồng Giáo Hội chân chính.

 X Religiosité populaire.

Nhưng nếu được định hướng đúng đắn, nhất là bằng một đường lối sư phạm Tin Mừng hóa, nó lại dồi dào nhiều gía trị. Nó biểu lộ một lòng khao khát Thiên Chúa mà chỉ những kẻ đơn sơ và nghèo khó mới có được. Nó khiến người ta có thể đại độ và hy sinh đến mức anh hùng khi cần chứng tỏ đức tin. Nó bao hàm một ý thức sắc bén về những phẩm tính sâu thẳm của Thiên Chúa: như tình cha, sự quan phòng, sự hiện diện yêu thương và chung thủy. Nó sinh dưỡng những thái độ bề trong hiếm thấy cùng một mức độ ở nơi khác: lòng kiên nhẫn, ý thức về thánh giá trong cuộc sống hàng ngày, sự không vướng mắc, sự cởi mở đối với người khác, lòng sùng mộ. Vì những phương tiện ấy, chúng tôi muốn gọi nó là “Tòng đạo bình dân”, nghĩa là tôn giáo của người bình dân, hơn là “tình cảm tôn giáo”.

Tất cả những ai mà Chúa đặt làm đầu các cộng đồng Giáo Hội đều phải được đức bác ái mục vụ cho thấy những quy tắc xử trí đối với thực tại vừa rất phong phú vừa dễ bị đe dọa kia. Trước hết, cần phải nhậy cảm, phải biết nhận ra các kích thước bề trong và những gía trị không chối cãi được những nguy cơ lệch lạc. Được định hướng đúng đắn, lòng đạo đức bình dân có thể càng ngày càng là chỗ các đám
đông dân chúng gặp gỡ thực sự Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô.

V. TIN MỪNG HÓA CHO NHỮNG AI ?

Tin Mừng hóa tất cả mọi người

49. Những lời sau cùng của Đức Giê-su trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô xác định việc Tin Mừng hóa Chúa ủy thác cho các tông đồ là nhằm tất cả mọi người, không giới hạn: “Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo” (Lc 16,15).

Mười hai tông đồ và thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên đã hiểu rõ bài học của đoạn văn này và những đoạn tương tự: họ đã lấy đó làm chương trình hoạt động. Ngay cả cuộc bách hại khiến các tông đồ phải phân tán, cũng đã góp phần tung gieo lời và đưa Giáo Hội tới những miền xa xôi hơn mãi. Việc Phao-lô được thâu nhận vào hàng các tông đồ và được đặc sủng giảng truyền cho dân ngoại về Ngày Đức Giê-su lại đến cũng làm nổi bật tính cách phổ quát.

Bất chấp mọi trở ngại

50. Trải qua 20 thế kỷ theo lịch sử, các thế hệ Ki-tô hữu đã từng đợt phải chạm trán với đủ thứ trở ngại đối với sứ mệnh phổ quát kia. Một đằng, chính các người giảng truyền Tin Mừng bị cám dỗ viện cớ này cớ nọ để thu hẹp phạm vi hoạt động truyền giáo của mình. Đàng khác từ phía những người được Tin Mừng hóa, có những sức chống cưỡng mà theo thường tình không thắng vượt được. Ngoài ra, chúng tôi buồn nhận thấy rằng công cuộc Tin Mừng hóa của Giáo Hội bị cản trở nặng nề, nếu không bị ngăn cấm. Kể cả ngày nay, có những người loan báo Lời Thiên Chúa bị tước đoạt các quyền lợi của mình, bị đe dọa, bị bách hại, bị loại trừ chỉ nguyên vì việc họ giảng truyền về Đức Giê-su Ki-tô và Tin Mừng của Người. Nhưng chúng tôi tin tưởng rằng, dẫu có những thử thách đau xót này, công việc của các tông đồ đó rốt cuộc sẽ không thiếu vắng ở một miền nào trên thế giới cả.

Mặc dù gặp những nghịch cảnh như thế, Giáo Hội vẫn luôn làm sống lại nguồn hứng khởi sâu xa nhất của mình vốn xuất phát từ Thầy: khắp cả thiên hạ ! Cho mọi thụ tạo ! Đến tận cùng trái đất ! Giáo Hội đã làm lại điều ấy tại Thượng hội đồng vừa rồi khi kêu gọi đừng giam hãm việc loan báo Tin Mừng bằng cách hạn chế nó vào một khu vực nào của nhân loại, hay vào một hạng người nào, hay vào một loại văn hóa nào thôi. Một vài ví dụ có thể làm sáng tỏ.

Việc loan báo đầu tiên cho những kẻ xa lạ

51. Mặc khải Đức Giê-su Ki-tô và Tin Mừng của Người cho những ai chưa biết đến, đó là chương trình căn bản mà Đấng sáng lập Giáo Hội đã giao cho và Giáo Hội đã đảm nhận từ buổi sáng Ngày Hiện Xuông. Toàn thể Tân Ước và đặc biệt là Công vụ các tông đồ đã làm chứng về một thời kỳ hơn thường và nói được là mẫu mực của truyền giáo về sau sẽ đánh dấu suốt cả lịch sử Giáo Hội.

Giáo Hội thực hiện việc loan báo đầu tiên về Đức Giê-su Ki-tô như thế bằng một hoạt động phức tạp và đa dạng mà đôi khi người ta mệnh danh là”việc chuẩn bị Tin Mừng hóa” X, nhưng thực ra đã là Tin Mừng hóa rồi, tuy còn ở vào giai đoạn sơ khởi và còn thiếu sót nhiều. Một loạt phương kế hầu như vô tận có thể được vận dụng vào mục đích ấy, như việc giảng truyền minh bạch đã đành, nhưng cũng phải kể tới nghệ thuật, hành trình khoa học, nghiên cứu triết học, và cả sự kêu gọi chính đáng tới tình cảm của lòng con người nữa.

Loan báo cho những nơi nào đức tin Ki-tô giáo sa sút

52. Nếu việc loan báo đầu tiên nói trên được dành đặc biệt cho những kẻ chưa hề nghe biết Tin Mừng của Đức Giê-su hoặc cho các trẻ em thì do bởi ngày nay thường có những hoàn cảnh đức tin Ki-tô giáo sa sút, việc loan báo đầu tiên ấy cũng tỏ ta cần thiết hơn mãi cho đông đảo những người đã được Thanh tẩy nhưng sống bên ngoài mọi nếp sống Ki-tô giáo, cho những người chất phác vẫn có đức tin cách nào đó nhưng lại chỉ biết lù mù về các nền tảng của đức tin, cho những người trí thức đang cảm thấy nhu cầu hiểu biết Đức Giê-su Ki-tô dưới một ánh sáng khác với những gì đã được học khi còn bé, và cho nhiều người khác nữa.

Các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo

53 Việc loan báo đầu tiên cũng được dành cho những thành phần rộng lớn của nhân loại mang theo những tôn giáo khác mà Giáo Hội quý trọng vì là biểu hiện sống động cho các tập hợp người đông đảo kia. các tôn giáo ấy mang theo mình dư âm của hàng ngàn năm tìm kiếm Thiên Chúa, tìm kiếm chưa đầy đủ nhưng thường là với tấm lòng thành thật và ngay thẳng. Các tôn giáo ấy có một di sản đáng thán phục về các bản kinh đậm đà tính tôn giáo. Các tôn giáo ấy đã dạy cho nhiều thế hệ biết cầu nguyện. Các tôn giáo ấy đều được gieo cấy đó đây bằng vô số những “hạt giống Lời” (74) và có thể thành một “chuẩn bị đích thực cho Tin Mừng”(75), như theo một từ rất khéo mà Công đồng Vatican II đã mượn của Êusêbiô thành Cêsarê. Một hoàn cảnh như vậy, hẳn gợi lên những vấn đề phức tạp và tế nhị, đáng được nghiên cứu dưới ánh sáng truyền thống Ki-tô giáo mà giáo huấn của Giáo Hội để hiến cho các nhà truyền giáo hôm nay và ngày mai những chân trời mới trong những tiếp xúc với các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo. Hôm nay chúng tôi muốn đặc biệt lưu ý rằng không phải vì quý trọng các tôn giáo ấy, cũng không phải vì các vấn đề được gợi lên phức tạp mà Giáo Hội nên làm thinh không loan báo Đức Giê-su Ki-tô cho những người ngoài Ki-tô giáo. Trái lại, Giáo Hội nghĩ rằng thành phần đông đảo các người này có quyền biết sự phong phú của mầu nhiệm Đức Ki-tô (Ep 3,8) trong đó chúng ta tin rằng toàn thể nhân loại có thể tìm thấy, một cách đầy đủ không ngờ được, tất cả những gì họ dò dẫm tìm tòi về Thiên Chúa, về con người và vận mệnh con người, về sự sống và sự chết, về chân lý. Bởi thế, đứng cảnh biểu lộ tôn giáo tự nhiên đáng quý nhất, Giáo Hội vẫn dựa trên sự kiện đạo của Đức Giê-su mà mình loan báo qua việc Tin Mừng hóa là đạo đưa con người một cách khách quan vào quan hệ với kế hoạch của Thiên Chúa, với sự hiện diện hằng sống và với tác động qua Ngài. Như vậy, Đạo của Đức Giê-su làm cho gặp gỡ mầu nhiệm Thiên Chúa là Cha đoái đến loài người. Nói cách khác, đạo chúng ta thiết lập thực sự một quan hệ đích thực và sống động với Thiên Chúa, khi mà tôn giáo khác không làm được, mặc  dù vẫn như đưa tay hướng về trời.

X Preévangéliastion

(74) T. Iustino, I Apologia, 46, 1-4; II Apologia 7 (8), 1-4 ; 10,1-3 ; 3-4; Clêmentê thành Alêxandria, Stromata I, 19,91, 94: SCh 30, tt. 117-120 ; Công đồng vatican II Sắclệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, Ad Gentes, s.11; Hiến chế tín lý về GH, Lumen gentium, s. 17.

(75) Eusêbio thành Cêsarê, Proparatio Evangolioe, I, 1: PG 21, 26-28; Công đồng vatican II, Hiến chế tín lý về GH, Lumen gentium, s. 16.

Chính vì thế Giáo Hội vẫn giữ cho đà truyền giáo của mình sống động, và còn tăng cường nó trong thời buổi lịch sử là thời chúng ta. Giáo Hội thấy mình có trách nhiệm trước các dân tộc. Giáo Hội không nghỉ ngơi được bao lâu chưa làm hết sức mình để tuyên bố Tin Mừng Đức Giê-su Cứu Thế. Giáo Hội luôn luôn chuẩn bị  những thế hệ tông đồ mới. Chúng ta hãy vui mừng nhận thấy điều đó vào lúc không thiếu những kẻ nghĩ và nói rằng nhiệt tình và đà sức tông đồ đã cạn, và việc phái người đi truyền giáo từ nay hết thời rồi. Thượng hội đồng vừa đáp lại rằng việc truyền giáo không phải là đã hết và Giáo Hội sẽ mãi mãi ra sức chu toàn việc ấy.

Nâng đỡ đức tin của các tín hữu

54. Tuy nhiên Giáo Hội thấy mình vẫn phải không ngừng chăm lo cho cả những người đã lãnh nhận đức tin và vẫn tiếp xúc với Tin Mừng thường là từ nhiều thế hệ trước. Cho nên, Giáo Hội tìm cách đào sâu, củng cố, nuôi dưỡng, làm cho chín chắn hơn mãi đức tin của những người đã được gọi là tín hữu để họ còn là tín hữu hơn nữa.

Đức tin ấy ngày nay hầu như luôn luôn đương đầu với khuynh hướng tục hóa, hay cả với chủ nghĩa vô thần đấu tranh: nó là một đức tin gặp phải những thử thách và bị đe dọa, hơn nữa, là một đức tin bị bao vây và đánh phá. Đức tin có nguy cơ bị nghẹt thở hay bị kiệt sức mà chết, nếu nó không được nuôi dưỡng và nâng đỡ hàng ngày. Vì thế lắm khi Tin Mừng hóa phải là nuôi dưỡng và nâng đỡ đức tin các tín hữu, đặc biệt là bằng một huấn giáo vừa đầy nhựa sống Tin Mừng vừa sẵn một ngôn ngữ  thích hợp với thời đại và với con người.

Giáo Hội công giáo cũng lo nghĩ rất nhiều về các Ki-tô hữu không hoàn toàn hiệp thông với mình: trong khi cùng với họ chuẩn bị sự hiệp nhất theo ý Đức Ki-tô, và chính là để thực hiện sự hiệp nhất trong chân lý, Giáo Hội ý thức rằng mình sẽ thiếu sót bổn phận cách trầm trọng nếu đối với họ, Giáo Hội không làm chứng về việc mặc khải viên mãn đã được giao cho Giáo Hội gìn giữ.

Những người vô tín ngưỡng

55. Thượng hội đồng còn có một mối bận tâm không kém ý nghĩa đối với hai phạm vi rất khác nhau nhưng cũng rất gần nhau ở chỗ cả hai cùng đưa ra, tuy mỗi phạm vi theo kiểu cách của mình, một cách thức cho việc Tin Mừng hóa.

Phạm vi thứ nhất là cái người ta có thể gọi là sự gia tăng vô tín ngưỡng trong thế giới hiện đại. Thượng hội đồng đã thiết tha đến việc mô tả thế giới hiện đại đó: bên dưới danh từ chung này là biết bao trào lưu tư tưởng, biết bao giá trị và phản giá trị, biết bao khát vọng tiềm ẩn hoặc biết bao mầm mống hủy hoại, biết bao xác tín cũ đang biến mất và biết bao xác tín mới đang chế ngự.

Về phương diện thiêng liêng, thế giới hiện đại này xem ra vẫn loay hoay mãi trong cái mà một tác giả trước đây đã gọi là : “bi kịch của nền nhân bản vô thần” (77).

Một  đằng, người ta  bắt buộc phải nhận thấy ngay giữa lòng thế giới đương thời này cái hiện tượng đang thành như nhãn hiệu nổi bật nhất của nó: sự tục hóa. Chúng tôi không nói đến tục hóa là nỗ lực khám phá trong thế giới thụ tạo, trong mỗi sự vật hay trong mỗi biến cố của vũ trụ, những định luật chi phối sự vật và biến cố một cách độc lập nào đó mà cũng xác tín rằng Đấng tạo hóa đã đặt ra các định luật này. Tục hóa như thế là một nỗ lực đúng đắn và chính đáng, không phải không đi đôi được với đức tin hay với tôn giáo. Theo chiều hướng này, Công đồng mới đây đã quả quyết sự độc lập chính đáng của văn hóa và đặc biệt là của các khoa học (78). Ở đây chúng tôi xét tới một thứ tục hóa thực sự, một quan niệm và thế giới theo đó thế giới tự nó có thể giải thích được mà không cần tới
Thiên Chúa, vì vậy Thiên Chúa trở thành thừa thãi và choán chỗ vô ích. Tục hóa kiểu này, để nhìn nhận khả năng của con người, rốt cuộc đưa tới chỗ bỏ qua Thiên Chúa và thậm chí chối bỏ Thiên Chúa nữa.

Những hình thức mới của chủ nghĩa vô thần – một chủ nghĩa vô thần quy cả về con người, không còn trừu tượng và siêu hình nhưng thực dụng, có kế hoạch và đấu tranh – xem ra bắt nguồn từ đó. Trong liên hệ với sự tục hóa vô thần này, người ta hằng ngày đề nghị với chúng ta, dưới đủ thứ hình thức, một nền văn minh tiêu thụ, cái chủ trương lấy khoái lạc làm gía trị tối thượng, một ý chí sức mạnh và thống trị và đủ thứ kỳ thị ; bao nhiêu thứ đó là bấy nhiêu khuynh hướng phi nhân của “chủ nghĩa nhân bản” kia.

(77) H.  de Lubac,  s.j., Le drame dee luyện’humanisme athés, Ed. Spes, Paris 1945.

(78) Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, Gau- dium et spes, es. 59.

 Đằng khác và một cách nghịch thường, không thể phủ nhận là vẫn trong chính thế giới hiện đại này lại có những cửa mở đón chờ Ki-tô giáo, có những gía trị Tin Mừng ít ra là dưới hình thức một trống vắng hoặc một luyến tiếc. Có lẽ không phải là quá đáng nếu nói tới một tiếng kêu mãnh liệt và bi đát để được Tin Mừng hóa.

Những người không giữ đạo

56. Một phạm vi thứ hai gồm những người không giữ đạo: ngày nay rất nhiều người đã được rửa tội tuy phần đông không chối bỏ rõ rệt phép Thanh tẩy mình đã lãnh nhận, lại hoàn toàn ở bên lề huyền tích này, không sống với huyền tích này nữa. Hiện tuợng những kẻ không giữ đạo đã có từ xưa lắm trong lịch sử Ki-tô giáo, do bởi một yếu đuối tự nhiên một thứ bất nhất sâu xa mà, tiếc thay, chúng ta mang trong thâm tâm mình. Tuy nhiên ngày nay nó cho thấy những nét mới. Nó thường do những hoàn cảnh mất gốc tiêu biểu cho thời đại chúng ta gây nên. Nó cũng phát sinh từ sự kiện các Ki-tô hữu sống bên cạnh những kẻ vô tín ngưỡng và thường xuyên chịu ảnh hưởng nếp sống vô tín ngưỡng. Vả lại những người không giữ đạo ngày nay để tâm hơn ngày xưa tìm cách giải thích và biện minh cho thái độ của mình bằng các viện cớ là đạo phải tại tâm, và mỗi người phải sống tự lập và đích thực.

Như vậy, một bên là những người vô thần và vô tín ngưỡng, một bên là những người không giữ đạo đều có những cách chống cự đáng kể đối với việc Tin Mừng hóa. Những người trước chống cự bằng một sự từ khước nào đó, và không thể hiểu được trật tự mới của sự vật, ý nghĩa mới của thế giới, của cuộc sống, của lịch sử , vì trật tự và ý nghĩa mới này không làm sao có được nếu người ta không đi từ tính tuyệt đối của Thiên Chúa. Những người sau thì chống cự bằng sự bất động, với thái độ hơi thù nghịch của kẻ cảm thấy mình là người trong nhà, những quả quyết là đã biết hết, đã nếm đủ mà không còn tin vào đó nữa.

Hiện tượng tục hóa vô thần và hiện tượng không giữ đạo đều có nơi người lớn và người trẻ, giữa giới ưu tú và trong quần chúng, trong các lãnh vực văn hóa, trong các Giáo Hội lâu đời cũng như mới lập. Hoạt động Tin Mừng hóa của Giáo Hội,
vì không thể không biết đến hai giới người trên và cũng không thể dừng lại trước mặt họ, cần phải
kiên trì tìm cho ra các phương kế và ngôn ngữ
thích hợp để đề nghị với họ hay đề nghị lại với họ đón nhận mặc khải của Thiên Chúa và tin vào Đức Giê-su Ki-tô.

Giữa lòng đại chúng

57. Như Đức Ki-tô trong thời gian Ngài giảng truyền và như Mười hai tông đồ buổi sáng Ngày Hiện Xuông, Giáo Hội cũng thấy trước mắt mình đám đông loài người đang cần Tin Mừng và có quyền hưởng Tin Mừng, bởi vì Thiên Chúa “muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2,4).

Thiết tha với nhiệm vụ giảng truyền ơn cứu độ cho mọi người và biết rằng sứ điệp Tin Mừng không phải dành riêng cho một nhóm nhỏ đã được khai tâm, được ưu đãi hay được tuyển lựa nhưng là để
gửi tới mọi người, Giáo Hội lấy nỗi ưu tư của Đức Ki-tô làm của mình đứng trước các đám đông vất vưởng bơ phờ “như đoàn chiên không có kẻ chăn” và lặp lại Lời Người “Ta thương xót đám đông này” (Mt 9,36; 15,32).

Nhưng Giáo Hội cũng ý thức rằng, để giảng truyền Tin Mừng cho có hiệu quả giữa lòng đại chúng, cần phải gửi sứ điệp của mình tới các cộng đồng tín hữu để các cộng đồng này có thể và phải tác động tới những người khác.

Các cộng đồng Giáo Hội ở cơ sở.

58. Thượng hội đồng đã chú ý nhiều đến các Công đồng nhỏ hay là “Công đồng cơ sở” bởi vì chúng thường được nhắc tới trong Giáo Hội ngày nay. Chúng là gì và tại sao chúng đặc biệt phải được Tin Mừng hóa và đồng thời phải làm công việc Tin Mừng hóa ?

Cứ theo nhiều chứng từ khác nhau được nghe tại Thượng hội đồng thì các cộng đồng ấy đang nẩy nở hầu như khắp nơi trong Giáo Hội, khác nhau nhiều ngay trong cùng một miền và còn khác nhiều hơn từ miền này đến miền khác.

Tại một số miền các cộng đồng cơ sở, trừ trường hợp ngoại lệ, mọc lên và phát triển bên trong Giáo Hội, liên đới với đời sống Giáo Hội, được giáo huấn của Giáo Hội nuôi dưỡng gắn bó với các chủ chăn. Trong các trường hợp ấy, chúng phát sinh từ nhu cầu sống mãnh liệt hơn nữa đời sống Giáo Hội: hay từ chỗ ước muốn và tìm kiếm một kích thước nhân đạo hơn mà những cộng đồng Giáo Hội lớn hơn khó có thể cho được, nhất là ở các thành phố lớn ngày nay chỉ thuận tiện cho nếp sống đông đảo và vô danh. Chúng có thể chỉ nối dài chính cộng đồng nhỏ sẵn có trong xã hội là làng xã hay tập thể nào khác, nối dài theo kiểu cách của chúng trên bình diện tinh thần và tôn giáo như phụng thờ, đào sâu đức tin, thương yệu anh em, cầu nguyện, hiệp thông với các chủ chăn. Hoặc nữa, để nghe và suy niệm Lời, để lãnh nhận các huyền tích và liên kết với nhau trong bữa ăn huynh đệ X, các cộng đồng nhỏ muốn quy tụ một đằng những nhóm đồng đều về tuổi tác, văn hóa, lý lịch hay hoàn cảnh xã hội như những cặp vợ chồng, những người trẻ, những người đồng nghiệp v.v…; và đằng khác những người sẵn được cuộc sống họp lại trong các cuộc đấu tranh để bảo vệ công lý, để giúp đỡ người nghèo, để thăng tiến con người v.v… Sau kết, các cộng đồng nhỏ quy tụ các Ki-tô hữu ở những nơi vì thiếu linh mục không dễ có đời sống bình thường của một cộng đồng họ đạo. Tất cả các trường hợp trên đều được giả thiết là xảy ra bên trong các cộng đồng do Giáo Hội đã thiết lập, nhất là các Giáo Hội địa phương và những họ đạo.

 X  Agapè

 Ngược lại, tại những miền khác, có những cộng đồng cơ sở họp nhau trong một tinh thần chỉ trích cay nghiệt Giáo Hội : chúng sẵn sàng kết án Giáo Hội “định chế” và để đối lại chúng tự coi mình như những cộng đồng đặc sủng, thoát khỏi các cơ cấu, chỉ lấy Tin Mừng làm nguồn hứng chỉ đạo mà thôi. Như vậy đặc điểm của chúng là một thái độ rõ rệt lên án và khước từ những biểu hiện của Giáo Hội: hàng giáo phẩm, các huyền tích. Chúng triệt để phản đối Giáo Hội. Theo chiều hướng ấy nguồn hứng chỉ đạo chính yếu của chúng sẽ rất nhanh chóng trở nên ý thức hệ, và khó mà chúng không sớm làm mồi cho một lập trường chính trị, một trào lưu, rồi một hệ thống hay ngay cả một đảng phái, và như thế liều mình trở thành công cụ cho những thứ này.

Sự khác biệt thật là đáng kể: các cộng đồng vì  tinh thần chống đối mà tự cắt đứt với Giáo Hội và còn làm hại đến sự hiệp nhất của Giáo Hội, tuy tự xưng là “cộng đồng cơ sở” nhưng danh xưng này hoàn toàn chỉ có tính cách xã hội học. Chúng không thể không lạm dụng ngôn ngữ mà tự xưng là cộng đồng Giáo Hội ở cơ sở, kể cả khi chúng có tham vọng vẫn kiên trì hiệp nhất với Giáo Hội tuy vẫn cứ chống lại hàng Giáo phẩm. Cộng đồng Giáo Hội ở cơ sở là danh nghĩa thuộc về những cộng đồng khác, những cộng đồng họp lại trong Giáo Hội, để hiệp nhất với Giáo Hội và để cho Giáo Hội lớn lên .

Những cộng đồng này sẽ là một chỗ để Tin Mừng hóa, để giúp ích cho những cộng đồng rộng lớn hơn, đặc biệt là những Giáo Hội địa phương và chúng sẽ là một niềm hy vọng cho Giáo Hội phổ quát như chúng tôi đã nói khi kết thúc Thượng hội đồng.

Nếu chúng tìm cách nuôi dưỡng mình bằng Lời Thiên Chúa và không để mình bị giam hãm trong sự phân cực chính trị hay trong những ý thức hệ đúng mốt đang sẵn sàng khai thác tiềm lực mênh mông về người của chúng.

Nếu chúng tránh khỏi chước cám dỗ luôn luôn đe dọa chúng và óc phản đối cố chấp và tinh thần chỉ trích quá đáng, viện cớ là phải đích thực và có tinh thần cộng tác.

Nếu chúng vẫn gắn bó chặt chẽ với Giáo Hội địa phương của mình và với Giáo Hội phổ quát, để nhờ thế tránh được mối nguy thực sự là tự cô lập mình rồi tưởng mình là Giáo Hội duy nhất đích thực của Đức Ki-tô, và vì vậy lên án các công cuộc Giáo Hội khác.

Nếu chúng vẫn chân thành hiệp thông với các chủ chăn mà Chúa ban cho Giáo Hội và với quyền giáo huấn đã được Thần Khí Đức Ki-tô ký thác cho các Ngài.

Nếu chúng không bao giờ cho rằng chỉ riêng mình đáng được Tin Mừng hóa, có quyền làm công việc Tin Mừng hóa – hay cả quyền bảo toàn Tin Mừng ! – Nhưng ý thức rằng Giáo Hội còn rộng lớn và đa dạng hơn nhiều và chấp nhận rằng ngoài cách thông qua chúng, Giáo Hội còn nhập thể cách khác nữa.

Nếu chúng ngày càng lớn lên về mặt ý thức, nhiệt tình đà dấn thân và tầm ảnh hưởng truyền giáo.

Nếu trong mọi sự chúng tỏ ra có tinh thần đại đồng và không bao giờ mang óc bè phái.

Với những điều kiện đã đành là đòi hỏi nhiều nhưng có sức làm phấn khởi như trên, các cộng đồng Giáo Hội ở cơ sở sẽ đáp ứng với sứ mệnh căn bản nhất của họ: đó là được nghe loan báo Tin Mừng cho mình và được hưởng cách đặc biệt hơn thường công cuộc Tin Mừng hóa, chính chúng sẽ nhanh chóng trở thành những cộng đồng loan báo Tin Mừng.

VI. NHỮNG AI ĐƯỢC PHÁI ĐI TIN MỪNG HÓA

Toàn thể Giáo Hội truyền giáo

59. Nếu có  những người công bố Tin Mừng cứu độ trong thế giới, thì chính là do lệnh truyền, nhân danh và với ân sủng của Đức Ki-tô Cứu Thế. “Làm sao mà giảng truyền nếu không được phái đi” (Rm 10,15),  một trong những sứ giả Tin Mừng vĩ đại nhất đã viết như thế. Không ai có thể làm việc ấy mà không phái đi.

Vậy những ai có sứ mệnh Tin Mừng hóa ?

Công đồng Vatican II  đã trả lời rõ rệt. “Do ủy nhiệm của Thiên Chúa, Giáo Hội có trách nhiệm đi khắp cả thiên hạ và loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (82). Và trong một bản văn khác, Công đồng lại quả quyết, “Toàn thể Giáo Hội phải truyền giáo, công cuộc Tin Mừng hóa là một nghĩa vụ căn bản của Dân Thiên Chúa” (83).

(82) Tuyên ngôn về tự do tôn giáo, Dignitatis humanae, s.13; xem HCTL về Giáo Hội, Lumen gentium, s. 5; cắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội , Ad gentes, s. 1.

(83) SL về HĐTG của Giáo Hội, Ad gentes, s. 35.

Chúng tôi đã nhắc tới mối liên hệ mật thiết này là giữa Giáo Hội và việc Tin Mừng hóa. Khi Giáo Hội loan báo và xây dựng Triều đại Thiên Chúa, Giáo Hội cũng được lập giữa lòng thế giới như dấu chỉ và công cụ của Triều đại hiện có và đang đến này.

Công đồng đã lặp lại lời rất ý nghĩa của Thánh Augustinô về hoạt động truyền giáo của Mười hai Tông đồ; “Bằng việc giảng truyền lời chân lý, các Ngài làm nẩy sinh các Giáo Hội” (84).

Một hành động của Giáo Hội

60. Giáo Hội được ủy nhiệm và phái đi để Tin Mừng hóa thế giới, nhận định này phải khơi dậy trong chúng ta hai xác tín:

Xác tín thứ nhất: Tin Mừng hóa không phải là một hành động cá nhân và riêng lẻ của ai hết, nhưng là một hành động có tính Giáo Hội sâu sắc.

Khi người giảng truyền, người dạy giáo lý hay người chủ chăn vô danh tiểu tốt nhất, ở miền nào xa xôi nhất, giảng Tin Mừng, họp cộng đồng nhỏ bé của mình lại hay cử hành một huyền tích, thì dầu chỉ một thân một mình, người ấy cũng thực hiện một hành-động-của Giáo Hội và cử chỉ của người ấy chắc chắn được nối liền với hoạt động của Tin Mừng hóa của toàn thể Giáo Hội, bằng những quan hệ thể chế đã đành nhưng còn bằng những mối liên kết vô hình và bằng những giây rễ ngầm của trật tự ân sủng nữa. Như thế giả thiết người ấy hành động không do một sứ mệnh tự gán cho mình hay tùy hứng cá nhân, nhưng là trong hiệp nhất với sứ mệnh của Giáo Hội và nhân danh Giáo Hội.

 (84) Thánh Augustinô, Enarrat. in Phục Sinh. 44,23: CCL XXXVIII, t.510; xem sắc lệnh về HĐTG của GH, Ad gentes, s.l.

 Từ đó xác tín thứ hai là nếu mỗi người làm công việc Tin Mừng hóa nhân danh Giáo Hội mà chính Giáo Hội lại cũng làm công việc ấy nhờ được Chúa ủy nhiệm cho, thì không một ai làm công việc ấy lại làm chủ tuyệt đối hành động Tin Mừng hóa của mình, với quyền chuyên quyết, để thực hiện công việc ấy theo những tiêu chuẩn và viễn tượng cá nhân chủ nghĩa, nhưng phải là trong sự hiệp thông với Giáo Hội và các chủ chăn.

Toàn thể Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, như chúng tôi đã lưu ý. Như thể có nghĩa là Giáo Hội thấy mình có trách nhiệm truyền bá Tin Mừng cho toàn thể thế giới và cho từng phần thế giới có mặt Giáo Hội.

Viễn tượng Giáo Hội phổ quát

61. Suy nghĩ đến giai đoạn này, chúng tôi sẽ cùng anh em và các con dừng lại trên một vấn đề đặc biệt quan trọng giữa thời đại chúng ta. Trong các cuộc cử hành phụng vụ của họ, trong các lời chứng trước những kẻ xét xử và những kẻ hành hình họ, trong các bản văn hộ giáo của họ, các Ki-tô hữu đầu tiên đã không ngại nói lên lòng tin sâu xa của mình vào Giáo Hội khi tuyên xưng Giáo Hội lan rộng khắp thế gian. Họ đã ý thức là mình đầy đủ thuộc về một cộng đồng lớn lao mà cả không gian lẫn thời gian đều không thể giới hạn được: “Từ Abêlê công chính cho tới người được chọn cuối cùng” (85), “cho đến mút cùng mặt đất” (86), “cho đến tận thế” (Mt 28, 20).

Chúa đã muốn Giáo Hội như thế đó: phổ quát như cây lớn đến nỗi chim trời đến nương náu trên cành được (Mt 13,32), như lưới vớt được đủ thứ cá (Mt 13,47) hoặc như tấm lưới mà Phê-rô kéo lên đầy những cá lớn, một trăm năm mươi ba con (Ga 21,11),  như đàn chiên chỉ có một kẻ chăn (Ga 10, 1-16). phổ quát không có giới hạn, biên giới nào hết, ngoại trừ, tiếc thay, biên giới, giới hạn của lòng trí con người tội lỗi.

(85) Thánh Grégorio Cả, Homil. in Evangolia, 19, 1: Pl 76, 1954.

(86) Cv 1,8; x. Didachè, 9,11: Funk, Patres Apostolioi, 1,22.

Viễn tượng Giáo Hội địa phương

62. Tuy nhiên Giáo Hội phổ quát trên thực tế vẫn nhập thể vào các Giáo Hội địa phương được thiết lập với phần này hay phần nọ của loài người cụ thể, nói ngôn ngữ riêng, thuộc về một di sản văn hóa, một vũ trụ quan, một quá khứ lịch sử, một vốn liếng nhân sinh nhất định. Sự cởi mở chú ý đến những gì phong phú của Giáo Hội địa phương đáp ứng một mặt nhậy cảm đặc biệt của con người thời nay.

Chúng ta hãy tránh đừng quan niệm Giáo Hội phổ quát như là tổng số, hay nếu nói được là liên hiệp hỗn tạp những Giáo Hội địa phương mà bản chất thì khác nhau. Trong ý nghĩa của Chúa, Giáo Hội có ơn gọi và sứ mệnh phổ quát nhưng vì đâm rễ vào những miếng đất văn hóa, xã hội, nhân sinh khác nhau nên trong mỗi phần thế giới cũng mang những khuôn mặt, những biểu hiện bên ngoài khác nhau.

Như vậy, một Giáo Hội địa phương mà tự ý cắt đứt khỏi Giáo Hội phổ quát thì sẽ không còn chiếu theo ý định của Thiên Chúa được nữa và sẽ nghèo đi trong kích thước Giáo Hội của mình. Nhưng mặt khác, Giáo Hội “toto orbe difusa” X sẽ trở thành một cái gì trừu tượng nếu không mang hình hài và sự sống thông qua chính các giáo hội địa phương. Chỉ khi nào thường xuyên chú ý đến cả hai cực của Giáo Hội, chúng ta mới có thể thấu suốt mối tương quan phong phú kia giữa Giáo Hội phổ quát và Giáo Hội địa phương.

Ngôn ngữ thích nghi và trung thành

63. Vì kết hợp sâu xa với những con người và với cả những khát vọng, những sở trường và sở đoản, những cách thức cầu nguyện, yêu thương, những quan niệm về cuộc sống và về thế giới, tức là với những gì tiêu biểu cho một tập hợp người nào đó, các Giáo Hội địa phương có bổn phận hấp thụ và chuyển nguyên vẹn cái cốt yếu của sứ điệp Tin Mừng sang ngôn ngữ và những người kia hiểu được, rồi loan báo nó trong ngôn ngữ này.

Việc chuyển này cần được làm với sự sáng suốt, nghiêm chỉnh, thận trọng và hiểu biết chuyên môn, trong lãnh vực các hình thức phụng vụ (92), huấn giáo, trình bày thần học, các cơ cấu thứ yếu của Giáo Hội, các thừa tác vụ. Và “ngôn ngữ” phải được hiểu ở đây không phải là trên bình diện từ-nghĩa –học hay văn chương cho bằng trên bình diện có thể gọi là nhân học và văn hóa.

X   Lan truyền khắp mặt đất.

Vấn đề hẳn là tế nhị. Công cuộc Tin Mừng hóa mất đi nhiều sức mạnh và hiệu quả nếu không để ý đến dân tộc cụ thể mà nó nhắm tới, không dùng tiếng nói, các dấu  hiệu, biểu tượng của họ, không giải đáp những vấn đề họ đặt ra, không chắp nối được với đời sống cụ thể của họ. Nhưng đàng khác, công cuộc Tin Mừng hóa có thể đánh mất linh hồn mình và tiêu tan nếu người ta làm cho nó không còn nội dung hay chỉ còn một nội dung đã biến chất, viện cớ là để phiên dịch nó; nếu vì muốn thích nghi một thực tại phổ quát vào một không gian địa phương, người ta hy sinh thực tại này mà phá hủy tính duy nhất không thể không có mà còn tính phổ quát được. Vì vậy, chỉ một Giáo Hội giữ được ý thức về tính phổ quát của mình và chứng tỏ mình thực sự phổ quát thì mới có thể có một sứ điệp cho mọi người nghe được, vượt qua các giới hạn địa phương.

Để ý đến các Giáo Hội địa phương một cách chính đáng chỉ làm cho Giáo Hội thêm phong phú. Điều ấy cần thiết và cấp bách. Nó đáp lại những khát vọng sâu xa nhất của các dân tộc và các cộng đồng nhân loại đang muốn tìm thấy khuôn mặt riêng của mình.

Hướng sẵn về Giáo Hội phổ quát

64. Nhưng sự phong phú nói trên đòi hỏi các Giáo Hội địa phương vẫn hướng sẵn về Giáo Hội phổ quát một cách sâu xa. Thêm nữa, thật đáng chú ý là các Ki-tô hữu mộc mạc nhất, trung thành với Tin Mừng nhất, sẵn sàng có ý thức chân chính về Giáo Hội hơn cả thì đều nhậy cảm rất tự nhiên đối với kích thước phổ quát này. Họ cảm thấy rất mạnh mẽ và như do một thứ bản năng là cần tới kích thước ấy, họ dễ dàng nhận ra được mình trong nó, họ rung động theo nó và đau như đứt ruột khi người ta nhân danh những lý thuyết họ không hiểu được để gò bó họ trong một Giáo Hội thiếu tính phổ quát kia, một Giáo Hội địa phương chủ nghĩa, không chân trời nào khác.

Vả lại như lịch sử chứng minh, mỗi lần Giáo Hội địa phương này hay Giáo Hội địa phươngnọ, đôi khi vì sẵn ý tốt, lại dựa vào những lý lẽ thần học,  xã hội học, chính trị hay mục vụ, hoặc vì có cả ước muốn được tự do xử sự và hành động, mà tự cắt đứt với Giáo Hội  phổ quát và với trung tâm sống động và hữu hình của Giáo Hội, là mỗi lần Giáo Hội địa phương ấy rất khó thoát khỏi- nếu có thật đã thoát khỏi- hai nguy cơ đều trầm trọng. Một đằng là nguy cơ bị khô cằn đi vì tự cô lập hóa rồi chẳng bao lâu lại bị tan vỡ, vì mỗi thành phần của nó lại tách lìa nó như nó đã tách lìa trung tâm. Đằng khác, là nguy cơ mất hết tự do vì một khi đã bị cắt đứt với trung tâm và với Giáo Hội khác trước kia vẫn chuyền sức mạnh và năng lực sang nó, nó sẽ thấy bị bỏ mặc một mình cho đủ thứ thế lực nô lệ hóa và lợi dụng.

(92) Cđ Vatican II, Hc về phụng vụ Thánh, Sacrosanctum Concillium, ss.37-38, và các sánh phụng vụ và văn kiện khác do Tòa Thánh đã xuất bản về sau để thực hiện một canh tân phụng vụ theo ý Cđ. Vatican II.

Một Giáo Hội địa phương mà càng gắn bó với Giáo Hội phổ quát bằng những mối hiệp thông vững chắc- bác ái và thành tín, đón nhận quyền giáo huấn của Phê-rô, hiệp nhất bằng “Lex orandi” cũng là “Lex credendi” X, hiệp nhất với tất cả các Giáo Hội khác cùng thể hiện tính phổ quát – thì Giáo Hội ấy càng có khả năng diễn đạt kho tàng đức tin bằng những cách thức đa dạng mà chính đáng trong việc tuyên xưng đức tin, cầu nguyện và phụng thờ, trong nếp sống và thái độ Ki-tô hữu, trong sự tỏa ảnh hưởng của dân tộc liên hệ. Giáo Hội ấy cũng càng là sứ giả Tin Mừng, nghĩa là biết lấy từ gia sản chung ra những gì có ích cho dân tộc mình sang Giáo Hội phổ quát để mọi người đều được hưởng.

Nội dung đức tin phải nguyên vẹn

65. Chính trong chiều hướng nói trên, mà khi bế mạc đại hội lần thứ ba của Thượng hội đồng, chúng tôi đã muốn nói lên một lời minh bạcg và đầy tình thương của một người cha để nhấn mạnh về vai trò của người Kế vị Phê-rô như là nguyên lý hữu hình, sống động cho sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội và vì thế cũng là cho tính phổ quát của Giáo Hội duy nhất (91). Chúng tôi cũng đã nhấn mạnh đến trách nhiệm nặng nề về phần chúng tôi, nhưng được chúng tôi chia sẻ với các anh em của chúng tôi trong hàng Giám mục, đó là gìn giữ nguyên vẹn nội dung đức tin công giáo mà Chúa đã ký thác cho các tông đồ, tuy được diễn đạt trong tất cả các thứ tiếng, nội dung ấy vẫn không bị cắt xén, tuy mặc lấy những biểu tượng đặc thù của mỗi dân tộc, được diễn giải bằng một ngôn ngữ thần học chú trọng đến các môi trường văn hóa, xã hội và ngay cả nòi giống khác nhau, nó phải còn là nội dung đức tin công giáo đúng như quyền Giáo huấn của Giáo Hội đã lãnh nhận và truyền đạt.

 X  Luật cầu nguyện cũng là Luật tin.

Những nhiệm vụ khác nhau

66. Vậy toàn thể Giáo Hội được mời gọi làm công việc Tin Mừng hóa. Tuy nhiên, giữa lòng Giáo Hội, chúng ta phải chu toàn những nhiệm vụ Tin Mừng hóa khác nhau. Những nhiệm vụ khác nhau trong cũng một sức mạnh duy nhất như thế làm cho công cuộc Tin Mừng hóa giầu đẹp. Chúng tôi sẽ nhắc lại vắn tắt các nhiệm vụ này.

Trước tiên, chúng tôi xin lưu ý về sự kiện trong các trang Tin Mừng, Chúa đã tha thiết với việc giao cho các tông đồ chức vụ loan báo Lời. Người đã chọn họ (Ga 15,16 ; Mc 3,13-19 ; Lc 6,13-16), đào tạo họ nhiều năm trong vòng thân mật (Cv 1, 21-22), đặt (Mc 3,14) và phái (Lc 9,2) họ làm chứng nhân và thầy dạy có thẩm quyền của sứ điệp cứu độ. Và đến lượt họ, nhóm Mười hai lại đã phái những người kế vị tiếp tục giảng truyền Tin Mừng theo truyền thống các tông đồ.

(91) Diễn từ bế mạc…( như theo chú thích 6) , t. 636.

 Người kế vị Thánh Phê-rô

67. Như thế, người Kế vị Phê-rô, do bởi ý định của Đức Ki-tô, phải gánh lấy sứ vụ cao cả là dạy dỗ chân lý mặc khải. Tân Ước thường cho thấy thánh Phê-rô “được đầy Thánh Thần” và nhân danh tất cả mà lên tiếng (Cv 4,8 v.v.). Chính vì thế Thánh Lê-ô Cả nói về thánh Phê-rô như người đã giữ địa vị tối thượng trong việc tông đồ (99). Cũng chính vì thế tiếng nói Giáo Hội vẫn cho thấy giáo chủ ở “đỉnh cao nhất – in apice, in specula – của việc tông đồ” (100). Công đồng Vatican II đã muốn xác định là điều ấy khi tuyên bố rằng “Lệnh Đức  Ki-tô  phái  đi

giảng truyền Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo (Mc 16,15) liên quan trước tiên và trực tiếp đến các Giám mục cùng với Phê-rô và dưới sự hướng dẫn của Phê-rô(101).

(99) Th. Lêô Cả, Sermo 69,3 ; Sermo 70,1-3 ; Sermo 94,3 ; Sermo 95,2 ; Seurcea chrétiennea 200, tt. 50-52, 58-66 ; 258-260 ; 268.

(100) Cđ. Lyon I, Hiến chế Ad Apostolicae dignitatis: Concilium Oecumenicorum Decreta, Ed. Instituto per le Scienze Religiose, Bologna 1973, t. 278 ; Cđ. Viên, Hc Ad providam Christi, scđ.,
t. 343 ; Cđ. Latêranô V,H.c. In apostolici culminis, sđd., t. 608. H.c.Postquamad universalis, sđd.,t.609. H.c.Supernae dispositionis, sđd. t.614, Hc. Divina disponente clementia, sđd., t. 638.

(101) Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của GH, Ad gentes, s.38.

Như vậy, quyền trọn vẹn, tối thượng và phổ quát (102) mà Đức Ki-tô giao cho vị phụ tá của Người để làm chủ chăn cai quản Giáo Hội, quyền ấy được giáo chủ thi hành đặc biệt là trong hoạt động giảng truyền và phái đi giảng truyền Tin Mừng cứu độ.

Giám mục và linh mục

68. Hiệp nhất với Người Kế vị thánh Phê-rô, các Giám mục, những kẻ kế vị các tông đồ, nhờ thụ phong chức Giám mục đã nhận quyền dạy dỗ chân lý mặc khải trong Giáo Hội. Các ngài là những thầy dạy đức tin.

Được cộng tác với các Giám mục trong sứ vụ Tin Mừng hóa với tư cách là những người có trách nhiệm một cách đặc biệt, là những ai nhờ thụ phong chức linh mục mà “thay mặt Đức Ki-tô” (103) giáo dục Dân Thiên Chúa trong đức tin, giảng truyền Lời Chúa cũng như cử hành Thánh thể và các huyền tích khác.

(102) X  Cđ. Vatican II, Hc tl về GH, Lumen gentium, s. 22.

(103) Cđ. Vatican II, Hc tl về Giáo Hội, Lumen gentium, ss. 10,37 ; SL về hđ. truyền giáo của GH. Ad gentes, s. 39 ; SL. về thừa tác vụ và đời sống các linh mục, Presbyteroum ordinis, sss. 2.  12,13.

Như vậy, là các chủ chăn chúng ta đều được mời gọi ý thức về nhiệm vụ này hơn mọi thành phần khác trong Giáo Hội. Điều độc đáo của chức vụ tư tế của chúng  ta,  điều  đem lại tính nhất  quán sâu xa cho trăm nghìn công việc lôi cuốn chúng ta suốt ngày và suốt đời, điều khiển các hoạt động của chúng ta có một nét đặc thù, đó là mục đích này vẫn nằm trong mọi hành động của chúng ta: “Loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa” (1Th 2,9).

Có một nét để nhận ra chúng ta, một nét mà không một hoài nghi nào được nhấm bớt, không một vấn nạn nào được lấn át đi, đó là, với tư cách Chủ chăn, chúng ta đã được Đấng chăn chiên tối cao đoái thương lựa chọn, mặc dầu chúng ta bất xứng, để có thẩm quyền mà công bố Lời Thiên Chúa, để tập họp Dân Thiên Chúa bị tản mát, để nuôi dưỡng dân này bằng các dấu chỉ tác động của Đức Ki-tô tức là các huyền tích, để đưa họ vào con đường cứu độ, để giữ gìn họ trong sự hiệp nhất mà chúng ta, ở những mức độ khác nhau, vẫn là những dụng cụ tích cực và sống động, để không ngừng thúc đẩy cộng đồng đã họp lại xung quanh Đức Ki-tô theo ơn gọi thâm sâu nhất của mình. Và khi chúng ta làm được tất cả những điều trên, theo những giới hạn con người và nhờ ơn Thiên Chúa, thì đó là chúng ta thực hiện một công cuộc Tin Mừng hóa, cả chúng tôi, Chủ chăn của Giáo Hội phổ quát, lẫn anh em Giám mục của chúng tôi, đứng đầu các Giáo Hội địa phương, và các linh mục, trợ tế là những người cộng tác liên kết với các Giám mục của họ nhờ mối hiệp thông bắt nguồn từ huyền tích truyền chức và trong lòng mến của Giáo Hội.

Các tu sĩ

69. Còn các tu sĩ thì họ tìm được trong đời tận hiến một phương kế tốt đẹp đặc biệt để Tin Mừng hóa có hiệu quả. Bằng con người sâu xa nhất của mình, họ ở trong đà sống của Giáo Hội vốn khao khát tuyết đối và được mời gọi nên thánh. Họ làm chứng cho sự thánh thiện ấy. Họ là hiện thân của một Giáo Hội muốn hiến mình cho đường lối triệt để của các mối Phúc thật. Bằng nếp sống, họ là những dấu chỉ của thái độ hoàn toàn sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội, anh em.

Vì vậy, họ có tầm quan trọng đặc biệt về mặt làm chứng là mặt cần thiết trước tiên trong việc Tin Mừng hóa. Khó nghèo và nhẹ nhõm, thanh khiết và trong sáng, vâng phục phó thác, cách làm chứng âm thầm như thế có cơ trở thành một tiếng gọi vang lên cho thế giới và cho ngay cả Giáo Hội và đồng thời một lời giảng hùng hồn có sức đánh động cả những người ngoài công giáo sẵn thiện chí và nhậy cảm về một số giá trị.

Trong một viễn tượng như thế, có thể đoán được vai trò Tin Mừng hóa của các nam nữ tu sĩ chuyên sống cầu nguyện, yên lặng, sám hối, hy sinh. Các tu sĩ khác, phần đa số, thì trực tiếp hiến thân vào việc loan báo Đức Ki-tô. Hoạt động truyền giáo của họ đương nhiên tùy thuộc hàng giáo phẩm và phải được phối hợp với đường lối mục vụ mà hàng giáo phẩm muốn thực hiện. Nhưng ai mà không thấy phần đóng góp lớn lao họ đã đem lại và tiếp tục đem lại cho công cuộc Tin Mừng hóa? Nhờ đã tận hiến cho nếp sống tu sĩ, họ tình nguyện và tự do hơn cả để bỏ hết mà đi loan báo Tin Mừng cho đến mút cùng mặt đất. Họ tháo vát và hoạt động truyền giáo của họ thường có nét tiêu biểu là tính cách độc đáo và tinh thần sáng tạo rất đáng phục. Họ quảng đại: người ta thường gặp họ ở các tiền trạm tuyền giáo và họ chấp nhận những nguy hiểm lớn nhất cho sức khỏe và cả sự sống của họ. Quả thật Giáo Hội mang ơn họ rất nhiều.

Các giáo dân

70. Vì ơn gọi đặc thù của họ giữa lòng đời và ở hàng đầu những nhiệm vụ trần thế đa dạng nhất, cho nên các giáo dân cũng phải làm công việc Tin Mừng hóa theo một cách thức độc đáo.

Nhiệm vụ đầu tiên và thức thời của họ không phải là thiết lập và phát triển cộng đồng Giáo Hội – đó là vai trò đặc thù của các chủ chăn – nhưng là vận dụng tất cả các khả năng Ki-tô hữu và Tin Mừng còn tiềm ẩn nhưng lại đã có mặt và tác động trong thế sự. Phạm vi dành riêng cho hoạt động Tin Mừng hóa của họ là thế giới rộng lớn và phức tạp chẳng những của các sinh hoạt chính trị, xã hội, kinh tế mà còn của văn hóa, các khoa học và các nghệ thuật, đời sống quốc tế, các phương tiện truyền thông đại chúng, và cũng là một số thực tại khác đang chờ được Tin Mừng hóa như tình yêu, gia đình, giáo dục trẻ em và thiếu niên, nghề nghiệp, đau khổ. Càng có những giáo dân thấm nhuần Tin Mừng mà có trách nhiệm về các thực tại trên và dấn thân rõ rệt vào đó, có đủ điều kiện để đẩy chúng đi lên và ý thức rằng cần phải vận dụng đầy đủ khả năng Ki-tô hữu của chúng thường bị chôn vùi và bị ngạt, thì các thực tại ấy tuy không làm mất hay phải hy sinh gía trị nhân văn của chúng càng biểu lộ một kích thước siêu việt ít được biết tới và càng có ích cho việc  xây dựng Triều đại Thiên Chúa và ơn cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô.

Gia đình

71. Bên trong việc tông đồ Tin Mừng hóa của Giáo dân, không thể  không lưu ý đến hoạt động Tin Mừng hóa của gia đình vào những lúc khác nhau trong lịch sử, gia đình rất xứng với danh hiệu đẹp đẽ “Giáo Hội tại nhà” đã được Công đồng Vatican II thừa nhận (106).

Điều ấy có nghĩa là các khía cạnh này nọ của toàn thể Giáo Hội phải được gặp lại trong mỗi gia đình Ki-tô giáo. Ngoài ra, gia đình, cũng như Giáo Hội, có nghĩa vụ làm một không gian cho Tin Mừng được truyền đạt tới và để Tin Mừng từ đó tỏa ra.

Vậy bên trong một gia đình ý thức về sứ mệnh này, tất cả mọi phần tử của gia đình đêu Tin Mừng hóa và được Tin Mừng hóa. Cha mẹ chẳng những truyền thụ Tin Mừng cho con cái mà còn có thể nhận được cũng chính Tin Mừng này đã được sống sâu sắc từ phía con cái và một gia đình như thế sẽ Tin Mừng hóa được nhiều gia đình khác và môi trường xung quanh mình.

(106) Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Lumen gentium, số 11, SL về việc tông đồ của các giáo dân, Apostolican actuositatem, s. 11, Thánh Giống-an Kim Khẩu, In Genesim Serm, VI, 2, VII, I : PG 54, 607-608.

 Cả những gia đình xuất phát từ một hôn nhân dị giáo cũng có bổn phận loan báo Đức Ki-tô cho con cái mình với tất cả những gì huyền tích Thánh tẩy chung bao hàm; các gia đình ấy còn có nhiệm vụ khó khăn là góp tay xây dựng sự hiệp nhất.

Giới trẻ

72. Hoàn cảnh mời gọi chúng ta chú ý đặc biệt tới giới trẻ. Việc họ ngày càng đông đảo và càng có mặt trong xã hội cùng với những vấn đề đang bao vây họ, phải thúc giục mọi người lo đem sự nhiệt thành và khôn khéo mà giúp họ hiểu biết và sống Tin Mừng. Nhưng đằng khác, các người trẻ đã được đào tạo kỹ lưỡng về đức tin và việc cầu nguyện, phải càng ngày càng trở thành những tông đồ cho giới trẻ. Giáo Hội trông mong nhiều ở phần đóng góp này và chính chúng tôi, chúng tôi đã nhiều lần bầy tỏ lòng tín nhiệm họ hoàn toàn.

Những thừa tác vụ khác nhau

73. Như thế, sự có mặt tích cực của các giáo dân trong những thực tại trần thế thật là quan trọng. Dù vậy không được coi thường hay quên lãng một kích thước khác: các giáo dân cũng có thể cảm thấy được ơn gọi hay có thể được ơn gọi cộng tác với các chủ chăn vào việc phụng vụ cộng đồng Giáo Hội để cộng đồng này lớn lên và sống, bằng những thừa tác vụ rất khác nhau, tùy theo ân sủng và các đặc sủng mà Chúa muốn ban cho họ.

Chúng tôi không phải không cảm thấy tự thâm tâm một niềm vui lớn lao khi nhìn thấy một đội ngũ chủ chăn, tu sĩ và giáo dân, say mê sứ mệnh Tin Mừng hóa của mình, đang tìm kiếm những cách thức thích ứng hơn mãi để loan báo Tin Mừng cho hữu hiệu, và chúng tôi khuyến khích sự mở rộng mà ngày nay Giáo Hội đang thực hiện trong chiều hướng và với ưu tư nói trên. Mở rộng trước tiên là cho sự suy nghĩ, rồi cho những thừa tác vụ trong Giáo Hội có cơ làm trẻ trung và tăng cường hơi sức Tin Mừng hóa của chính Giáo Hội.

Điều chắc chắn là bên cạnh những thừa tác vụ có truyền chức và đặt một số người vào hàng các chủ chăn để hiến thân một cách khác thường X vào việc phục vụ cho cộng đồng, Giáo Hội còn nhìn nhận chỗ đứng của những thừa tác vụ không có truyền chức nhưng đủ khả năng đảm nhận một việc phục vụ đặc biệt XX cho Giáo Hội.

Seconsacrent d’une manière partieulière au service de la communauté.

XX   Apte à assurer un service spécial se L’Eglise.

 Nhìn về những buổi đầu rất sáng tỏ của Giáo Hội, chúng ta thừa hưởng được một kinh nghiệm cổ kính về vấn đề thừa tác vụ, một kinh nghiệm càng đáng giá vì nó đã giúp cho Giáo Hội được củng cố, lớn lên và mở rộng. Tuy nhiên sự chú ý đến nguồn gốc như thế còn phải được bổ túc bằng một sự chú  ý khác là chú ý đến những nhu cầu hiện thời của loài người và của Giáo Hội. Tìm về tận nguồn luôn đầy ánh sáng hướng dẫn, không thí đi một gía trị nào và biết thích ứng với những đòi hỏi và những nhu cầu hiện thời, đó là những điểm trục cho phép cho chúng ta tìm kiếm một cách khôn ngoan và đưa ra ánh sáng những thừa tác vụ mà Giáo Hội đang cần đến và nhiều chi thể trong Giáo Hội sẽ hết lòng đảm nhận để cộng đồng Giáo Hội có được sức sống dồi dào nhất. Các thừa tác vụ ấy sẽ có một gía trị mục vụ thực sự nếu chúng được thiết lập trong niềm tôn trọng tuyệt đối và sự hiệp nhất, và theo phương hướng của các chủ chăn là chính những người có trách nhiệm và những người xây dựng sự hiệp nhất của Giáo Hội.

Các thừa tác vụ như thế, tuy có vẻ mới mẻ nhưng lại gắn liền với những kinh nghiệm mà Giáo Hội đã trải qua trong suốt lịch sử của mình, – chẳng hạn dạy giáo lý, hướng dẫn cầu nguyện và hát, chuyên lo phục vụ Lời Thiên Chúa hay giúp đỡ những anh em túng thiếu, đứng đầu các cộng đồng nhỏ, phụ trách các phong trào tông đồ hay có những trách nhiệm khác -, các thừa tác vụ như thế đều quý báu để Giáo Hội được gieo trồng, sống và lớn lên và đều quý báu cho sức tỏa ra của Giáo Hội xung qunh mình và tới những kẻ ở xa. Chúng tôi cũng phải tỏ lòng quý chuộng khác thường đối với tất cả những giáo dân đã chấp nhận dành một phần thì giờ, năng lực và đôi khi cả cuộc sống của họ để giúp việc truyền giáo.

Tất cả các người làm công việc Tin Mừng hóa đều cần được chuẩn bị nghiêm chỉnh. Những kẻ hiến thân cho việc giảng dạy Lời lại càng cần hơn nữa. Vì sẵn xác tín ngày càng thêm sâu sắc về sự cao cả và phong phú của Lời Thiên Chúa, những người có sứ mệnh truyền đạt lời này phải hết sức lo sao cho ngôn ngữ của mình thật trang nghiêm, chính xác và thích ứng. Ai cũng biết rằng ngày nay nghệ thuật nói có tầm quan trọng rất lớn. Làm sao những người giảng truyền và những người dạy giáo lý có thể thờ ơ với nghệ thuật đó được.

Chúng tôi thiết tha mong ước rằng, trong mỗi Giáo Hội địa phương, các Giám mục chăm lo đào tạo thích đáng tất cả những thừa tác viên giảng Lời. Được chuẩn bị nghiêm chỉnh, họ sẽ vững lòng hơn nữa mà cũng sẽ phấn khởi hơn để loan báo Đức Giê-su Ki-tô ngày nay.

VII. TINH THẦN CỦA VIỆC TIN MỪNG HÓA

Lời kêu gọi khẩn thiết

74. Chúng tôi không muốn chấm dứt cuộc nói chuyện này với anh em và các con thân mến mà không có một lời kêu gọi cuối cùng liên quan đến các thái độ nội tâm cần thiết cho các người làm công việc Tin Mừng hóa.

Phải, nhân danh chính Chúa Giê-su và nhân danh hai tông đồ Phê-rô và Phao-lô, chúng tôi muốn khuyến khích tất cả những ai, nhờ các đặc sủng của Thần Khí và ủy nhiệm của Giáo Hội, đang là những sứ giả Tin Mừng thực sự hãy xứng đáng với ơn kêu gọi này, hãy thực hiện nó mà không ngờ vực mà không sợ hãi, hãy quan tâm đến những điều kiện để cho việc Tin Mừng hóa chẳng những là có thể làm được mà còn có tác dụng và hiệu quả. Giữa rất nhiều điều kiện khác, chúng tôi muốn lưu ý đến những điều kiện căn bản sau đây:

Dưới sức thúc đẩy của Thánh Thần

75. Sẽ không bao giờ có thể Tin Mừng hóa được nếu không có tác động của Chúa Thánh Thần. Thần Khí đã xuông trên Đức Giê-su Na-da-rét vào lúc Người chịu Thanh tẩy và tiếng Chúa Cha phán –“Con là Con chí ái Ta, được Ta hoàn toàn sủng mộ” (Mt 3,17) – đã biểu lộ sự tuyển chọn Người và sứ mệnh của Người. Chính vì “được Thần Khí dẫn đưa, mà Người đã trải qua trong sa mạc cuộc chiến đấu quyết liệt và cuộc thử thách cuối cùng trước khi bắt đầu sứ mệnh ấy (Mt 4,1). Chính “với quyền năng của Thần Khí” (Lc 4,14) mà Người trở về Ga-li-lê và mở đầu tại Na-da-rét công cuộc giảng truyền của Ngài, khi áp dụng đoạn sách I-sai-a cho chính mình: “Thần Khí Chúa ở trên tôi”. Ngài công bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn Sách này” (Lc 4,18.21). Ngài thổi hơi trên các môn đệ sắp được phái đi và nói với họ: “Hãy chịu lấy Thánh Thần” (Ga 20,22).

Thật ra, chỉ sau khi Chúa Thánh Thần đến, Ngày Hiện Xuông, các Tông đồ mới lên đường đi đến khắp các chân trời trên thế giới để khởi sự công cuộc Tin Mừng hóa của Giáo Hội và thánh Phê-rô giải thích biến cố như đã thực hiện lời tiên tri Gio-el: “Ta sẽ đổ Thần Khí Ta” (Cv 2,17). Thánh Phê-rô được đầy Thánh Thần để nói với dân chúng về Đức Giê-su Con Thiên Chúa (Cv 4,8). Thánh Phao-lô, cũng thế, “được đầy Thánh Thần” (Cv 9,17) trước khi hiến thân cho sứ mệnh tông đồ, thánh Stê-pha-nô cũng vậy, khi được chọn để làm phó tế và sau đó để đổ máu làm chứng (Cv 6,5-10; 7,55). Thần Khí khi khiến Phê-rô Phao-lô hay nhóm Mười hai lên tiếng và soi sáng cho họ những lời lẽ họ phải nói, thì cũng “xuông trên mọi kẻ đang nghe Lời” (Cv 10,44).

Chính nhờ Chúa Thánh Thần nâng đỡ mà Giáo Hội thăng tiến (Cv 9,31). Ngài là linh hồn của Giáo Hội này. Chính Ngài giải thích cho các tín hữu hiểu ý nghĩa thâm trầm của Lời Đức Giê-su giảng dạy và mầu nhiệm của Đức Giê-su. Ngày nay cũng như vào buổi đầu của Giáo Hội, Ngài là Đấng hoạt động trong mỗi sứ giả Tin Mừng nếu họ chịu thuộc về Ngài và để Ngài hướng dẫn mình. Ngài đặt trên môi miệng họ những Lời mà một mình họ không thể  tìm ra được, và đồng thời Ngài chuẩn bị cho tâm hồn người nghe biết cởi mở đón nhận Tin Mừng và Triều đại được loan báo.

Có những kỹ thuật Tin Mừng hóa là điều tốt, nhưng những kỹ thuật hoàn hảo nhất vẫn không làm sao thay thế được tác động âm thầm của Thần Khí. Không có Ngài thì sứ giả Tin Mừng có sửa soạn hết sức tinh tế cũng chẳng làm được gì. Không có Ngài thì biện luân thuyết phục nhất cũng không ảnh hưởng gì được trên trí tuệ con người. Không có Ngài, những lược đồ xã hội học và tâm lý học được soạn thảo kỹ lưỡng nhất cũng chóng tỏ ra vô giá trị.

Chúng ta đang sống trong Giáo Hội những giờ phút đặc biệt của Thần Khí. Đâu đâu người ta cũng tìm biết Ngài hơn, đúng như Kinh Thánh mặc khải Ngài. Người ta sung sướng tự đặt dưới quyền lực Ngài. Người ta họp nhau xung quanh Ngài. Người ta muốn để Ngài hướng dẫn mình.

Vậy nếu Thần Khí Thiên Chúa có một vị trí ưu việt trong toàn thể đời sống Giáo Hội thì chính trong sứ mệnh Tin Mừng hóa của Giáo Hội là chỗ Ngài hoạt động hơn cả. Không phải là tình cờ mà cuộc khởi hành đi Tin Mừng hóa đã xảy ra vào buổi sáng Ngày Hiện Xuống, dưới hơi thổi Thần Khí.

Có thể nói Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của việc Tin Mừng hóa: chính Ngài thúc đẩy mỗi người loan báo Tin Mừng và chính Ngài từ bề sâu ý thức làm cho người ta nhận và hiểu Lời cứu độ (118).

 (118) Cđ. Vatican II, SL về Hđ tg của GH, Ad gentes, s. 4.

Nhưng cũng có thể nói Ngài kết thúc việc Tin Mừng hóa: chỉ mình Ngài làm nên công trình tạo thành mới, nhân loại mới mà việc Tin Mừng hóa phải đưa tới, cùng với sự duy nhất trong những khác biệt mà việc Tin Mừng hóa muốn tạo lập trong cộng đồng Ki-tô hữu: Nhờ Ngài, Tin Mừng đi sâu vào lòng thế giới bởi vì chính Ngài làm cho nhận ra các dấu chỉ của thời thế-những dấu chỉ của Thiên Chúa-mà việc Tin Mừng hóa khám phá và làm sáng giá bên trong lịch sử.

Thượng hội đồng Các Giám mục năm 1974 đã nhấn mạnh rất nhiều vào vị trí của Chúa Thánh Thần trong việc Tin Mừng hóa và cũng đã bày tỏ nguyện vọng là các chủ chăn và các nhà thần học-và chúng tôi có thể nói là cả những tín hữu nhờ huyền tích thanh tẩy đã được ghi dấu ấn của Thần Khí  – hãy nghiên cứu nhiều hơn về bản chất và cách thức hoạt động của Chúa Thánh Thần trong việc Tin Mừng hóa ngày nay. Đó cũng là nguyện vọng của chúng tôi, đồng thời chúng tôi khuyến khích các sứ giả Tin Mừng, bất kỳ ai, hãy không ngừng tin tưởng và sốt sắng cầu nguyện Chúa Thánh Thần và khôn ngoan để Ngài hướng dẫn mình cách quyết định trong những kế hoạch, những sáng kiến và trong hoạt động Tin Mừng hóa của mình.

Những chứng nhân đích thực.

76. Bây giờ chúng ta hãy xét tới chính bản thân của những sứ giả Tin Mừng. Người ta thường hay lặp đi lặp lại rằng: thế kỷ này khao khát sự đích thực. Nhất là khi nói tới giới trẻ, người ta quả quyết rằng họ ghê tởm những gì giả tạo, giả mạo và tìm kiếm chân lý và sự trong sáng trên tất cả.

Chúng ta phải tỉnh táo trước những “dấu chỉ của thời thế” ấy. Âm thầm hay lớn tiếng, thiên hạ luôn luôn vặn hỏi chúng ta: các người có thực sự tin điều các người loan báo không ? Các người có sống điều các người tin không ? Các người có giảng truyền thực sự điều các người sống không ? Hơn bao giờ hết làm chứng bằng đời sống đã trở thành một điều kiện thiết yếu để việc giảng truyền có hiệu quả sâu xa. Bằng ngả này, chúng ta lại chịu trách nhiệm, đến một mức độ nào đó, về bước tiến của Tin Mừng mà chúng ta công bố.

Ở đầu bài suy niệm này, chúng tôi đã tự hỏi: “Mười năm sau khi Công đồng kết thúc, Giáo Hội hiện như thế nào ?” Giáo Hội phải chăng đã cắm neo giữa lòng thế giới và phải chăng tuy vậy vẫn khá tự do và độc lập để lên tiếng nói với thế giới ? Giáo Hội có chứng tỏ mình liên đới với loài người và có đồng thời làm chứng cho sự tuyệt đối của Thiên Chúa không ? Giáo Hội có nồng nhiệt hơn trong việc chiêm niệm và thờ lạy mà cũng nhiệt thành hơn trong công việc truyền giáo, bác ái, giải phóng không ? Giáo Hội phải chăng đang dấn thân hơn mãi vào những nỗ lực nhằm tái lập sự hiệp nhất hoàn toàn giữa các Ki-tô hữu, sự hiệp nhất vốn cần để việc cùng làm chứng thêm hiệu lực “ ngõ hầu thế gian tin” (Ga 17, 21). Chúng ta tất cả đều có trách nhiệm về những câu trả lời mà người ta có thể đem lại cho các câu hỏi trên.

Vì vậy chúng tôi khích lệ các anh em của chúng tôi trong hàng giám mục, đã được Chúa Thánh Thần cắt đặt để cai quản Giáo Hội (Cv 20, 28). Chúng tôi khích lệ các linh mục và các phó tế là những người cộng tác với các Giám mục trong việc quy tụ Dân Thiên Chúa và giúp cho các cộng đồng địa phương có đời sống thiêng liêng. Chúng tôi khích lệ các tu sĩ là những chứng nhân của một Giáo Hội được kêu gọi nên thánh và vì vậy chính họ được mời vào một đời sống làm chứng cho các mối phúc thật theo Tin Mừng. Chúng tôi khích lệ các giáo dân: những gia đình Ki-tô giáo, những người trẻ và những người trưởng thành tất cả những ai đang làm một nghề, những người lãnh đạo, những người nghèo mà thường giầu đức tin và đức cậy, tất cả những giáo dân ý thức vai trò Tin Mừng hóa của mình trong việc phục vụ Giáo Hội hay ở giữa lòng xã hội và thế giới. Chúng tôi nói với họ tất cả: nhiệt tình Tin Mừng hóa của chúng ta phải vọt lên từ một đời sống thực sự thánh thiện được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện và nhất là bằng lòng yêu mến Thánh Thể, rồi, như Công đồng gợi ý, đến lượt việc giảng truyền lại phải làm cho người giảng lớn lên trong sự thánh thiện.

Thế giới tuy có vô vàn dấu hiệu từ khước Thiên Chúa nhưng một cách nghịch thường vẫn tìm kiếm Ngài bằng những đường nẻo bất ngờ và vẫn xót xa cảm thấy cần đến Ngài, thế giới ấy đòi có những sứ giả Tin Mừng nói về một Thiên Chúa mà họ biết và gần gũi như thế họ đã từng thấy Đấng không thể  thấy (Hr 11,27). Thế giới đòi hỏi và chờ đợi ở chúng ta đời sống giản dị, tinh thần cầu nguyện, lòng yêu thương đối với mọi người nhất là đối với những kẻ bé mọn và nghèo khó, đức vâng phục và khiêm tốn, sự coi nhẹ và từ bỏ chính mình. Không có dấu hiệu về sự thánh thiện như thế, lời chúng ta nói sẽ khó đi vào lòng dạ con người thời nay được. Nó có thể thành vô ích và vô hiệu.

Những người xây dựng hiệp nhất

77. Sức mạnh của việc Tin Mừng hóa sẽ bớt đi nhiều nếu những kẻ loan báo Tin Mừng lại chia rẽ nhau bằng đủ thứ gẫy vỡ. Phải chăng đó là một trong những vướng víu lớn nhất cho việc Tin Mừng hóa ngày nay ? Thật vậy, nếu Tin Mừng mà chúng ta công bố lại cho thấy bị xâu xé bởi những cãi cọ về giáo thuyết, những phân cực ý thức hệ, hay những kết án lẫn nhau giữa các Ki-tô hữu, tùy theo những cách họ nhìn khác nhau về Đức Ki-tô và về Giáo Hội và các thể chế nhân loại, thì làm sao những người được chúng ta giảng truyền cho lại khỏi bị dao động, lạc hướng nếu không bị vấp phạm.

Di chúc Tin Mừng của Chúa nói với chúng ta rằng sự hiệp nhất giữa các môn đệ của Người không phải chỉ là bằng chứng chúng ta thuộc về Người mà cũng là bằng chứng Người do Chúa Cha phái đến, là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Ki-tô hữu và của chính Đức Ki-tô. Là những sứ giả Tin Mừng, chúng ta cần hiến cho các tín hữu của Đức Ki-tô không phải hình ảnh những con người chia lìa nhau vì những tranh chấp không chút xây dựng, nhưng là hình ảnh những con người chín chắn trong đức tin, có khả năng gặp gỡ nhau bên trên những căng thẳng thực tế nhờ việc cùng nhau tìm hiểu chân lý một cách chân thành và vô vị lợi. Phải, số phận công cuộc Tin Mừng hóa chắc chắn được gắn liền với việc Giáo Hội làm chứng cho sự hiệp nhất. Đó là một nguồn trách nhiệm mà cũng là một nguồn khích lệ.

Về điểm này chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng dấu chỉ sự hiệp nhất giữa tất cả các Ki-tô hữu là đường lối và dụng cụ Tin Mừng hóa. Sự chia rẽ giữa các Ki-tô hữu là một thực trạng trầm trọng làm hoen ngay cả công trình của Đức Ki-tô. Công đồng Vatican II quả quyết một cách sáng suốt và mạnh mẽ rằng nó “làm hại cho mục đích thánh thiêng là giảng truyền Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo, và đối với nhiều người, nó bít đường dẫn tới đức tin” (123). Bởi thế cho nên, khi loan báo Năm Thánh, chúng tôi đã tuởng cần phải nhắc lại cho tất cả các tín hữu công giáo trên thế giới nhớ rằng: “Muốn cho mọi người được hòa giải với Thiên Chúa, Cha chúng ta thì tiên vàn phải tái lập mối hiệp thông giữa những kẻ nhờ đức tin đã nhìn nhận và đón nhận Đức Giê-su Ki-tô như Vị Chúa có lòng thương xót giải phóng loài người và hiệp nhất loài người trong Thần Khí tình thương và chân lý” (124).

(123) SL về Hiến chế truyền giáo của Giáo Hội, Ad gentes, s. 6 ; SL về đại kết, Unitatis redintegratio, s.I.

(124) An chiếu Apostolerum Limina, VII, AAS 66 (1974), t. 305.

Vì vậy, chúng tôi cảm thấy một niềm trông cậy mãnh liệt khi chúng tôi nhìn vào những cố gắng đang được thực hiện trong thế giới Ki-tô giáo để tái lập sự hiệp nhất đầy đủ như Đức Ki-tô muốn. Thánh Phao-lô đã bảo đảm cho chúng ta: “Trông cậy không làm tủi hổ” (Rm 5,5). Trong khi chúng tôi vẫn luôn hành đông để được Chúa ban cho sự hiệp nhất đầy đủ, chúng tôi muốn thấy mọi người cầu nguyện tha thiết hơn. Ngoài ra, chúng tôi lấy nguyện vọng đã được các Nghị phụ  bày tỏ ở Đại hội lần thứ ba của Thượng hội đồng các Giám mục làm nguyện vọng của chúng tôi, đó là ước gì chúng ta cộng tác một cách cương quyết hơn với các anh em Ki-tô hữu mà chúng ta chưa được hiệp nhất đầy đủ, cộng tác bằng cách dựa vào huyền tích Thanh tẩy và gia sản đức tin chung, để làm sao có thể ngay từ bây giờ, trong cùng một công cuộc Tin Mừng hóa, cùng nhau làm chứng và làm chứng rộng rãi hơn cho Đức Ki-tô trên thế giới. Lệnh truyền của Đức Ki-tô thúc đầy chúng ta làm như vậy. Đó là một đòi hỏi của công cuộc giảng truyền và nghĩa vụ làm chứng cho Tin Mừng.

Những người phục vụ chân lý

78. Tin Mừng mà chúng ta đảm đương cũng là lời chân lý. Một chân lý đem lại được tự do (Ga 8,32) và chỉ có chân lý ấy cho tâm hồn được bình an, đó là những điều người ta tìm kiếm khi nghe chúng ta công bố Tin Mừng. Chân lý về Thiên Chúa, chân lý về con người và về vận mệnh huyền nhiệm của con người, chân lý về thế giới. Chúng ta tìm chân lý khó khăn ấy trong lời Thiên Chúa và, một lần nữa, chúng ta không làm chủ hay sở hữu nó mà chỉ là những kẻ bảo quản, loan báo và phục vụ nó.

Điều người ta mong đợi ở mọi sứ giả Tin Mừng là họ có lòng tôn sùng chân lý, nhất là khi chân lý mà họ đào sâu và truyền đạt lại là chân lý mặc khải và vì vậy, hơn mọi thứ chân lý khác, là phần nào của chân lý đệ nhất tức là chính Thiên Chúa. Như vậy, người giảng truyền Tin Mừng sẽ là một kẻ đầu phải chịu thiệt thòi cho bản thân mình và chịu đau khổ, vẫn luôn tìm tòi chân lý mà họ phải truyền đạt cho kẻ khác. Họ không bao giờ phản bội hay che đậy chân lý vì lo làm vui lòng người, ngạc nhiên hay chướng tai, cũng không vì thích lập dị hay muốn phô trương. Họ không từ khước chân lý. Họ không làm lu mờ chân lý mặc khải vì lười biếng không chịu tìm tòi, vì dễ dãi, vì sợ. Họ không thờ ơ với việc nghiên cứu chân lý. Họ tận tình làm tôi cho chân lý chứ không biến chân lý thành tôi mọi.

Hỡi các Chủ chăn của đoàn dân trung tín, công việc mục vụ thôi thúc chúng ta giữ gìn, bảo vệ và truyền đạt chân lý mà không ngại hy sinh. Biết bao vị Chủ chăn ưu tú và thánh thiện đã để lại cho chúng ta tấm, gương về một lòng yêu mến chân lý như thế, nhiều khi đến mức anh hùng. Thiên Chúa của chân lý mong đợi chúng ta tỉnh thức bảo vệ và tận tụy giảng truyền chân lý.

Hỡi các Tiến sĩ, đầu anh em là những nhà thần học, những nhà chú giải hay sử gia, công cuộc Tin Mừng hóa cần tới công lao tìm tòi không biết mệt mỏi của anh em và cả tới sự quan tâm và tế nhị của anh em trong việc truyền đạt chân lý. Nhờ nghiên cứu, anh em lại gần nó hơn nhưng nó vẫn luôn luôn lớn lao hơn tâm trí con người, vì đây là chính chân lý của Thiên Chúa.

Hỡi các cha mẹ và giáo viên, nhiệm vụ của anh chị em tuy không dễ dàng gì giữa đủ thứ xung đột ngày nay, vẫn là giúp đỡ con cái, học trò của anh chị em trong việc khám phá chân lý, kể cả chân lý tôn giáo và thiêng liêng.

Lòng yêu thương là động lực

79. Công cuộc Tin Mừng hóa giả thiết sứ giả Tin Mừng có một lòng yêu thương anh em ngày càng lớn mãi đối với những kẻ được mình Tin Mừng hóa. Thánh Phao-lô, người sứ giả Tin Mừng mẫu mực đã viết cho các tín hữu Thessalônikê lời sau đây là một chương trình cho tất cả chúng ta: “chúng tôi đã thương yêu anh em thắm thiết đến đỗi muốn giao phó cho anh em không những Tin Mừng của Thiên Chúa mà còn chính mạng sống chúng tôi nữa, bởi chưng anh em đã trở nên chí thân chí thiết với chúng tôi” (1Th 2,8 ; Pr 1,8). Tình thương yêu ấy là gì ? Còn hơn là của một nhà giáo dục, đó là tình thương yêu của một người cha ; và còn hơn nữa của một người mẹ (1Th 7,11 ; 1Cr 4,15 ; Ga 4,19). Chúa mong thấy tình thương yêu như thế ở mỗi người giảng truyền Tin Mừng, ở mỗi người xây dựng Giáo Hội. Một dấu chỉ của tình thuơng yêu là biết cho người khác chân lý và đưa vào sự hiệp nhất. Một dấu chỉ nữa là hy sinh trọn vẹn và dứt khoát cho việc loan báo Đức Giê-su Ki-tô. Chúng tôi xin kể thêm vài dấu chỉ khác của tình thương yêu kia.

Trước tiên là sự tôn trọng hoàn cảnh tôn giáo và tinh thần của những con người đang được Tin Mừng hóa. Tôn trọng nhịp độ riêng của họ, không thúc ép quá đáng. Tôn trọng lương tâm và những xác tín của họ, không can thiệp thô bạo.

Một dấu chỉ khác của tình yêu thương kia là biết lo tránh làm tổn thương kẻ khác, nhất là khi họ còn yếu đức tin (1Cr 8,9-13 ; Rm 14,15), bằng những quả quyết có thể là sáng sủa đối với những người đã thông thạo, nhưng đối với các tín hữu thì lại có thể là nguồn dao động và cớ vấp phạm, như một vết thương trong tâm hồn.

Một dấu chỉ nữa của tình yêu thương là cố gắng truyền đạt cho các Ki-tô hữu, không phải những ngờ vực và lưỡng lự phát sinh từ một sự học rộng mà không tới nơi tới chốn, nhưng là những điều chắc chắn vững vàng vì được neo vào Lời Thiên Chúa. Các tín hữu cần những điều chắc chắn ấy cho đời sống Ki-tô giáo của họ; họ có quyền được những điều chắc chắn ấy, với tư cách là con cái Thiên Chúa phó thác mình hoàn toàn cho những đòi hỏi của tình yêu thương, trong tay Ngài.

Với nhiệt tình của các thánh

80. Lời kêu gọi của chúng tôi được cảm hứng từ nhiệt tình của những vị giảng truyền Tin Mừng vĩ đại nhất đã cống hiến cuộc đời cho việc tông đồ: trong số đó, chúng tôi hân hoan nêu lên những vị mà trong Năm Thánh, chúng tôi đã đưa ra cho các tín hữu tôn kính. Các ngài đã biết vượt qua rất nhiều trở ngại trong việc Tin Mừng hóa.

Thời đại chúng ta cũng gặp nhiều trở ngại, trong số này chúng tôi chỉ muốn đề cập tới sự thiếu nhiệt tình. Nó càng trầm trọng bởi lẽ nó phát xuất từ bên trong ; nó biểu lộ trong sự mệt mỏi và chán nản, sự làm lấy lệ và hờ hững, và nhất là sự thiếu niềm vui và hy vọng. Cho nên chúng tôi khuyến khích tất cả những ai có nhiệm vụ Tin Mừng hóa với tư cách nào và ở cấp bậc nào cũng vậy, hãy nuôi dưỡng nhiệt tình cho tâm hồn mình (Rm 12,11).

Nhiệt tình này trước tiên đòi hỏi chúng ta biết thoát khỏi những lối ngụy biện có thể khiến chúng ta tránh việc Tin Mừng hóa. Những lối ngụy biện thâm hiểm nhất chắc chắn là những lối ngụy biện mà người ta cho là có điểm tựa ở huấn giáo này hay giáo huấn nọ của Công đồng.

Chính như thế mà quá nhiều lúc người ta nghe nói dưới những hình thức khác nhau rằng: áp đặt một chân lý, dù là chân lý Tin Mừng, áp đặt một con đường, dù là con đường cứu độ, đều chỉ có thể là vi phạm thô bạo tự do tôn giáo. Vả lại, như người ta còn thêm, cần gì phải loan báo Tin Mừng vì mọi người đều được cứu độ nhờ lòng dạ ngay thẳng ? Ngoài ra người ta thừa rõ là thế giới và lịch sử tràn đầy những “hạt giống của Lời”: vậy há không phải là một ảo tưởng khi đòi đem Tin Mừng đến chỗ nó đang ở sẵn trong những hạt giống mà chính Chúa đã gieo kia hay sao ?

Bất kỳ ai chịu khó đào sâu trong các văn kiện Công đồng những vấn đề mà các lối ngụy biện kia vẫn kéo ra một cách nông cạn, thì sẽ có được một cái nhìn khác hẳn về thực tại.

Đã hẳn áp đặt bất cứ điều gì đi nữa cho lương tâm anh em của chúng ta là một sai lầm. Nhưng lại là chuyện khác hẳn nếu chỉ đề nghị với lương tâm ấy chân lý Tin Mừng và con đường cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô một cách thật là minh bạch và trong sự tôn trọng tuyệt đối những lựa chọn tự do của lương tâm ấy nhờ biết tránh “mọi hình thức manh động có hơi hướng của sự bức bách hay sự thuyết phục gian xảo hay không mấy thẳng thắn” (131)- : đây chẳng những không hề là xâm phạm sự tự do tôn giáo mà còn là đề cao sự tự do này vì hiến cho nó cơ hội lựa chọn một con đường mà ngay cả những người vô tín ngưỡng cũng nhận là cao thượng và đầy phấn khởi. Vậy phải chăng là một tội ác chống lại sự tự do của kẻ khác khi hân hoan công bố Tin Mừng mà mình vừa biết được nhờ lòng Chúa nhân từ (132) ? Và tại sao cứ chỉ riêng những gì dối trá và sai lầm, trụy lạc và khiêu dâm mới có quyền được đề nghị và nhiều khi, hỡi ôi, còn được áp đặt bởi việc tuyên truyền phá hoại của các phương tiện truyền thông đại chúng, bởi sự dung túng của pháp luật bởi sự nhát sợ của những người tốt và sự táo bạo của những kẻ xấu ? Biết tôn trọng sự tự do của người khác mà đề nghị họ đón nhận Đức Ki-tô và Nước của Ngài không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của người sứ giả Tin Mừng. Và những con người anh em của chúng ta cũng có quyền được chúng ta loan báo Tin Mừng ơn cứu độ cho họ. Ơn cứu độ này, Thiên Chúa có thể thực hiện nơi những ai Ngài muốn và bằng những đường lối phi thường mà duy có Ngài biết được (133). Tuy nhiên, nếu con của Ngài đã đến, thì chính là để nhờ lời nói và đời sống của Người, mặc khải cho chúng ta các con đường bình thường của ơn cứu độ. Và người đã dạy chúng ta phải truyền đạt mặc khải ấy cho kẻ khác với cùng một uy tín như Người. Sẽ không phải là vô ích nếu mỗi Ki-tô hữu, mỗi sứ giả Tin Mừng vừa cầu nguyện vừa đi sâu vào tư tưởng này: con người có thể được cứu độ bằng những đường lối khác, nhờ lòng nhân từ của Thiên Chúa, ngay cả trong trường hợp chúng ta không loan báo Tin Mừng cho họ; nhưng còn chúng ta, chúng ta có thể được cứu độ không nếu vì thờ ơ, vì sợ hãi, vì hổ thẹn- như Thánh Phao-lô đã từng gọi là “đỏ mặt vì Tin Mừng” (Rm 1, 16)- hay vì theo những ý kiến sai lầm mà chúng ta không loan báo Tin Mừng ? Vì như thế là phản bội lời kêu gọi của Thiên Chúa là Đấng muốn nhờ tiếng nói của các thừa tác viên Tin Mừng mà làm cho hạt giống nẩy mầm: và hạt giống này có thành cây và sinh trái là tùy ở chúng ta.

(131) Cđ. Vatican II, SL về tự do tín ngưỡng, Dignitatis humanae, s.4.

(132) nt, ss. 9-14.

(133) Cđ. Vatican II, Sắc lệnh về Hđtg. của Gh, Ad gentes, s.7.

Vậy chúng ta hãy giữ cho tinh thần được nhiệt thành. Chúng ta hãy giữ niềm vui dịu dàng và khích lệ trong công việc Tin Mừng hóa, ngay cả khi phải gieo trong nước mắt. Ước gì đó là một nhiệt tình mà không ai và không gì có thể làm tắt được nơi chúng ta cũng như nơi Thánh Gio-an Tẩy giả, nơi Thánh Phê-rô và Thánh Phao-lô, nơi các Thánh Tông đồ khác, nơi vô vàn sứ giả Tin Mừng đáng khâm phục trong suốt cả lịch sử Giáo Hội. Ước gì đó là niềm vui lớn lao cho những cuộc đời của chúng ta đã được hiến dâng. Và ước gì thế giới thời đại chúng ta đang tìm kiếm khi thì trong lo âu, khi thì hy vọng, có thể nhận được Tin Mừng, không phải từ những sứ giả Tin Mừng buồn rầu và chán nản, nôn nóng hay bứt rứt, nhưng là từ những thừa tác viên Tin Mừng có đời sống toả ấm nhiệt tình, và nhận sẵn niềm vui của Đức Ki-tô trong bản thân mình và chấp nhận đánh đổi mạng sống mình lấy việc Nước (Trời) được loan báo và Giáo Hội được đưa vào giữa lòng thế giới.

KẾT LUẬN

Huấn thị của Năm Thánh

Vậy, hỡi anh em và các con, đó là tiếng kêu vang lên từ đáy lòng chúng tôi, để họa lại tiếng nói các anh em của chúng tôi đã họp Đại hội lần thứ ba của Thượng hội đồng các Giám mục. Đó là huấn thị chúng tôi muốn ban hành khi kết thúc một Năm Thánh đã cho chúng tôi thấu suốt hơn bao giờ hết các nhu cầu và các tiếng gọi của đông đảo anh em, trong hay ngoài Ki-tô giáo, đang mong chờ ở Giáo Hội Lời cứu độ.

Ước gì Ánh sáng Năm Thánh đã bùng lên trong Giáo Hội địa phương và tại Rô-ma cho hàng triệu lương tâm được hòa giải với Thiên Chúa, cũng còn chiếu tỏa sau Năm Toàn xá, qua một chương trình hoạt động mục vụ và việc Tin Mừng hóa là mặt căn bản, cho những năm đưa qua một thế kỷ mới và cũng đưa qua thiên niên kỷ thứ ba của Ki-tô giáo.

Đức Ma-ri-a, Ngôi sao sáng của việc Tin Mừng hóa

82. Nguyện vọng của chúng tôi là như thế, và chúng tôi vui mừng ký thác nó trong tay và trong lòng Đức Trinh nữ Chí thánh Ma-ri-a, Đấng Vô nhiễm nguyên tội, nhân hôm nay là ngày được đặc biệt dâng kính Ngài và cũng là ngày kỷ niệm lần thứ mười ngày bế mạc Công đồng Vatican II. Vào buổi sáng Ngày Hiện Xuống, trong khi cầu nguyện, Ngài đã chủ tọa buổi khởi sự công cuộc Tin Mừng hóa dưới tác động của Chúa Thánh Thần: Ước gì Ngài là ngôi sao sáng của công cuộc Tin Mừng hóa luôn được làm lại mãi mà Giáo Hội, thừa lệnh Chúa, phải xúc tiến và thực hiện, nhất là giữa thời buổi vừa khó khăn vừa đầy hy vọng này!

Nhân danh Đức Ki-tô, chúng tôi chúc lành cho anh em, cho các cộng đồng, các gia đình của anh em, tất cả những người thân thiết với anh em, bằng những lời Thánh Phao-lô đã cho các tín hữu Phi-líp: “Tôi tạ ơn Thiên Chúa mỗi lần tôi nhớ đến anh em, luôn luôn, trong mọi lời tôi cầu xin cho anh em hết thảy, và tôi vui sướng mà dâng lời cầu xin ấy, vì anh em được thông phần vào việc giảng truyền Tin Mừng (…). Tôi luôn có anh em canh cánh nơi lòng Tôi. (…). Khi phải bênh vực và củng cố Tin Mừng, anh em hết thảy đều đã thông phần vào ân sủng Tôi đã được. Có Thiên Chúa chứng giám cho tôi là tôi thắm thiết yêu mến anh em trong lòng dạ Đức Giê-su Ki-tô”. (Pr 1,3- 4. 7-8).

Ban hành tại Rô-ma, gần đền thánh Phê-rô, ngày 8/12/1975, ngày lễ trọng kính Đức Trinh nữ Ma-ri-a, Vô nhiễm nguyên tội, năm thứ mười ba nhiệm kỳ Giáo chủ của chúng tôi.

                                             PHAO-LÔ  VI


Comments are closed.